HẠNH ÐƯỜNG
TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN CHỨC VIỆC BÀN TRỊ SỰ NAM NỮ (Khóa CANH TUẤT 1970)

Kiểm duyệt
ngày 05 tháng 06 năm Canh Tuất
(dl. 07-07-1970)
Trưởng Ban Kiểm Duyệt
Kinh Sách Ðạo
HIẾN PHÁP H.T.Ð.
TRƯƠNG HỮU ÐỨC
(Ấn Ký)

   

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH

 

HẠNH ÐƯỜNG
TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN
CHỨC VIỆC BÀN TRỊ SỰ NAM NỮ
(Khóa CANH TUẤT 1970)

 

HỘI THÁNH GIỮ BẢN QUYỀN

Ấn hành năm Canh Tuất 1970
In tại nhà in Lê Thành Long Hoa.

   

 

 

LỜI NÓI ÐẦU

Hành Chánh Ðạo là guồng máy tối quan trọng của nền Ðại Ðạo trong mọi phương diện về mặt siêu hình và hữu tướng. Mục đích: đưa hướng con người đi đến toàn thiện, toàn giác hầu chung hưởng hạnh phúc thanh bình trên tình thương đạo đức.

Bởi lẽ ấy, Hội Thánh góp nhặt 3 điều cần thiết và cần yếu là Lễ Nghi Tế Tự của guồng máy "Hành Chánh Ðạo" để huấn luyện mỗi trách nhiệm từ Chức Việc Bàn Trị Sự dĩ thượng Chức Sắc hành quyền Ðầu Phận, Ðầu Tộc, Khâm Châu địa phương.

Phương pháp huấn luyện gồm có:

  1. HÀNH CHÁNH

  2. LỄ NGHI

  3. LUẬT PHÁP

Nghi lễ là cái hình thức phô diễn bên ngoài, tính cách qui củ chuẩn thằng của tổ chức Tôn giáo. Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một Tôn giáo có tôn chỉ qui Tam Giáo hiệp Ngũ Chi, tức là: Một sự phối hợp của tất cả các triết lý Ðạo giáo, tất cả các hình thức tổ chức Tôn giáo từ xưa đến nay.

Vì vậy, nghi lễ của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ rất phù hợp với phong hóa nhà Nam và vừa trình độ tấn hóa của quần chúng, không quá xưa mà cũng không quá tân thời.

Vậy Thánh ý của Ðức CHÍ TÔN và các Ðấng Thiêng Liêng, những bậc Tiền Bối trong nền Ðạo đã dày công nghiên cứu, châm chước và biên soạn ra các nghi lễ dùng việc Quan, Hôn, Tang, Tế. Ấy vậy, nghi lễ trong Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ chẳng phải do ai tự ý bày vẽ ra mà là một công trình chung, trong một lề lối tổ chức đồng nhứt áp dụng cho tất cả các Châu, Tộc trên toàn quốc. Những sự sửa đổi về nghi lễ do ý riêng của mình rất tai hại vì nó làm cho tổ chức Tôn giáo tại mỗi địa phương có hình thức một nhóm riêng, chẳng khác nào mỗi nơi đạo hữu tự ý bày ra thêm những kiểu vở, màu sắc đạo phục khác để mặc vậy, dần dần theo thời gian những sự khác biệt ban đầu nhỏ bé sau sẽ lớn dần ăn sâu vào tâm trí của nhơn sanh, thì sự thất kỳ truyền cũng do nơi đó mà ra.

Phận sự của Chức việc Bàn Trị Sự là những người thân cận với Tín đồ hơn ai hết, phải nghiên cứu cho tường tận những nghi lễ về Quan, Hôn, Tang, Tế và sắp đặt mọi việc y theo lời chỉ dạy của Hội Thánh thế nào để nhơn sanh đâu đâu cũng nhìn thấy Ðạo Cao Ðài nghi lễ chỉ có một chớ không hai.

HỘI THÁNH

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

HUẤN DỤ
của
Ngài NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ
CHỦ TRƯỞNG CHỨC SẮC NAM PHÁI C.T.Ð.

  • Kính Bạch Ðức THƯỢNG SANH
    Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài.

  • Kính Hội Thánh Lưỡng Ðài Hiệp Thiên, Cửu Trùng
    và Hội Thánh Phước Thiện.

  • Kính Chức Sắc Lưỡng Phái.

  • Kính Chức Việc Học Viên Nam Nữ.

Hôm nay, ngày khai giảng Hạnh Ðường để huấn luyện cấp tốc Chức Việc Bàn Trị Sự Nam Nữ 18 Phận Ðạo Châu Thành Thánh Ðịa được thâm hiểu phương pháp thật hành về Hành Chánh Ðạo.

Buổi lễ được vinh hạnh đặt dưới quyền chủ tọa danh dự của Ðức Thượng Sanh, Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài.

Nhơn dịp nầy, tôi xin mạn phép trình qua ý nghĩa của khóa học và có đôi lời nhắn nhủ với chư Huynh, Ðệ Bàn Trị Sự.

Nhận định tình hình chung, nơi Châu Thành Thánh Ðịa, cũng như ở các Châu Ðạo địa phương, Chức Việc Bàn Trị Sự hành quyền không được nhịp nhàng, đồng nhứt trong cơ cấu Hành Chánh Ðạo, mới nảy sanh ra bất đồng ý kiến, cãi vã lẫn nhau, thường dâng tờ về Hội Thánh thỉnh giáo.

Nên khóa Hạnh Ðường Canh Tuất nầy, thay vì huấn luyện hàng phẩm Lễ Sanh theo thường niên, lại được Ðức Thượng Sanh hoan hỉ dành riêng cho Chức Việc Bàn Trị Sự Nam Nữ.

Mặc dầu học cấp tốc trong một tháng, nhưng quý Học Viên có thể lãnh hội được những điều cần ích trong phương pháp hành quyền do quý vị giảng sư chỉ dạy và được những bài học làm tài liệu kiểu mẫu noi theo mà thi hành nhiệm vụ được tròn bổn phận.

Hội Thánh chỉ góp nhặt 3 môn cần thiết:

  1. Hành Chánh Ðạo.

  2. Lễ Nghi Tế Tự.

  3. Luật Pháp Ðạo.

I. HÀNH CHÁNH ÐẠO gồm có:

  1. Bổn phận Chức Việc Bàn Trị Sự đối với Hội Thánh.

  2. Bổn phận Chức Việc Bàn Trị Sự đối với Bổn Ðạo.

  3. Quyền hành của Chức Việc và Luật công cử Bàn Trị Sự.

A. ÐỐI VỚI HỘI THÁNH:

Hội Thánh là hình thể hữu vi tức là Thánh thể của Ðức Chí Tôn tại thế, để giáo hóa Nhơn Sanh, đương nhiên Thánh ý của Thầy dùng người phàm tục để độ dẫn người phàm tục trên đường Ðạo cũng như đường Ðời.

Vậy thì bổn phận của Chức Việc phải tuân mạng lệnh của Hội Thánh truyền dạy, chẳng nên lấy ý riêng mình mà canh cải, canh cải tức là khinh khi vi lịnh, mà vi lịnh là buộc vào mình cái tội bất tuân Luật Pháp.

Thảng như Chức Sắc đàn anh bề trên, ngộ bất cập lượng làm điều gì không phù hợp với luật Thương Yêu và quyền Công Chánh, thì Chức Việc có bổn phận khéo léo, lễ độ gián can để đem lại không khí thuận hòa phù hợp với Thiên ý.

B. ÐỐI VỚI BỔN ÐẠO ÐÀN EM:

Thì Chức Việc là cái gương để cho bề dưới soi chung mà noi bước, thì phải giữ mình cho trong sạch, tâm hồn cho trong sạch chơn chánh, bác ái, vị tha, mở rộng tình thương giúp đỡ lẫn nhau, dìu dắt nhau trên đường hành thiện theo Thánh ý của Ðức CHÍ TÔN Ðại Từ Phụ.

Ðức CHÍ TÔN có dạy:

"Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Ðạo tức cùng cha."

Lẽ dĩ nhiên phải biết thương yêu nhau như anh em ruột, tha thứ cho nhau khi lầm lỗi, sẵn sàng chia bùi sẻ ngọt, chia đau sớt khổ, đói lo giúp cho ăn, rách lo giúp cho mặc, nghèo nàn thì giúp lời tìm phương sinh sống, vui đồng chia, buồn đồng sớt, để cảm thông nhau trong tình huynh, nghĩa đệ. Vậy mới phải là đàn anh trong Hương Ðạo.

C. QUYỀN HÀNH CỦA BÀN TRỊ SỰ:

Nói về quyền hành của Chức Việc Bàn Trị Sự. Bàn Trị Sự là Hội Thánh em, có bổn phận Thể Thiên Hành Hóa, đồng quyền, đồng thể, không hơn không kém với Hội Thánh, nhưng trong phạm vi địa phận Hương, Ấp Ðạo mà thôi vì theo Pháp Chánh Truyền thì:

CHÁNH TRỊ SỰ: Là người thay mặt Ðức LÝ GIÁO TÔNG làm Anh Cả chư Tín Ðồ trong Hương Ðạo và cũng được gọi là Ðầu Sư em, vì người cầm đủ hai quyền Chánh Trị và Luật Lệ cũng như Ðầu Sư vậy.

PHÓ TRỊ SỰ: Là người cầm quyền Chánh Trị Ðạo song không có quyền về Luật Lệ được đồng thể cùng Thông Sự lại đặng đồng quyền cùng Chánh Trị Sự trong một Ấp Ðạo, cũng được gọi là Giáo Tông em, có bổn phận sửa đương, giúp đỡ, dìu dắt, dạy dỗ chư Tín Ðồ trong địa phận mình trấn nhậm.

THÔNG SỰ: Là Chức Sắc của Ðức LÝ GIÁO TÔNG khuyên HỘ PHÁP lập thành, là người của Hiệp Thiên Ðài để tùng quyền Chánh Trị Sự mà hành Ðạo, đồng thể cùng Phó Trị Sự trong một Ấp Ðạo, song có quyền về Luật Lệ chớ không có quyền về Chánh Trị nên được gọi là Hộ Pháp em, để giữ lẽ công bằng trong địa phận của Phó Trị Sự cai quản.

Vậy Chức Việc Bàn Trị Sự là Chức Sắc của Ðức LÝ GIÁO TÔNG và HỘ PHÁP lập thành để thay quyền cho Hội Thánh trong chốn thôn quê sằn dã, có bổn phận rất quan trọng đối với Nhơn Sanh thì chư Học Viên nên thấu triệt yếu lý đó để thật hành cho tròn trách nhiệm, chớ nên thờ ơ xem thường mà đắc tội cùng THẦY.

II. PHẦN LỄ NGHI TẾ TỰ (Quan Hôn Tang Tế).

Nghi Lễ là cái hình thức phô diễn bên ngoài có tính cách qui củ chuẩn thằng của tổ chức Tôn Giáo. Lễ dùng để tế tự, có mục phiêu làm cho đàn tế ra vẻ tôn nghiêm và đào tạo cho người một tâm lý KÍNH và THÀNH. Có kính mới giữ được bản tánh của mình, có thành mới cảm ứng được với TRỜI, tức nhiên Lễ giúp người hàm dưỡng tâm tánh để cảm thông với Ðức CHÍ TÔN đó vậy.

Ðạo CAO ÐÀI là một nền ÐẠI ÐẠO có tôn chỉ qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi, tức là một sự phối hợp của tất cả các triết lý Ðạo Giáo. Tất cả các hình thức Tôn Giáo từ xưa đến nay mà phần lớn là Nho Giáo, vì trong buổi Tam Kỳ Phổ Ðộ Ðức CHÍ TÔN dùng Nho Tông chuyển thế. Cho nên nghi lễ của Ðạo có lắm điều phức tạp khó khăn về phần hữu tướng để được phù hợp với siêu hình. Vì thế mà việc thi hành Tang Lễ các Phận Ðạo trong Châu Thành Thánh Ðịa cũng như các Châu Ðạo địa phương không được đồng nhứt. Cho nên mấy lúc sau nầy có nhiều phúc trình của Chức Sắc, Chức Việc gởi về thỉnh giáo với Hội Thánh.

Hội Thánh đã thành lập một Ủy Ban hổn hợp gồm có Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện để nghiên cứu, tu chỉnh nghi thức Tang Lễ cho đồng nhứt và phù hợp với nhơn trí hiện tại, hầu chánh thức ban hành chung cho toàn Ðạo trong một ngày gần đây, để noi theo đó mà thi hành nhứt luật.

Trong lúc chờ đợi, tạm thời khóa trường nầy, Hội Thánh soạn thảo những bài học, giảng dạy đại cương về nghi thức hành lễ như: Lập Ðàn cầu bịnh, Lễ Cầu Hồn khi hấp hối, Cầu Hồn khi đã chết rồi, Lễ Tẩn liệm, Thành phục phát tang, Cúng tế, Cầu siêu, Phát hành, An táng, Tuần cửu, Tiểu Tường, Ðại Tường và cách hành lễ Hôn nhơn tại tư gia để giúp cho Chức Việc Bàn Trị Sự Nam Nữ hiểu rõ phương pháp hầu thực hành đồng nhứt.

III. PHẦN LUẬT PHÁP ÐẠO.

Luật Pháp là một điều hệ trọng nhứt của nền Ðạo để bảo thủ Chơn Truyền khỏi bị tay phàm canh cải ra Phàm Giáo.

Vì thế Hội Thánh cố gắng chọn lọc bài học chỉ dẫn Học Viên những phần chánh như: Luật Pháp áp dụng cho người giữ Ðạo, cách lập hồ sơ kiện tụng, phương pháp thực hành, về quyền sửa trị gồm: Khuyên giải, răn phạt, hòa giải, răn trị để giúp cho Bàn Trị Sự đủ tài liệu áp dụng trong việc hành quyền trong khuôn viên Luật Pháp của Ðạo.

Thưa quý bạn Học Viên Nam, Nữ.

Thiết tưởng Ðời còn loạn, con đường Ðạo rất gập ghềnh, lại dẫy đầy chông gai hiểm trở, chúng ta đã trải qua bao phen Ðạo chuyển, mà mỗi lần biến là mỗi lần con cái Ðức Chí Tôn lâm cảnh âu sầu thảm đạm. Chúng ta là Chức Sắc, Chức Việc của Ðạo, thọ quyền hành, phẩm tước của Ðức Chí Tôn ban cho để đủ phương tiện phụng sự cho nhơn sanh, thế là chúng ta rất hân hạnh đặng dự phần sử dụng Luật Tiến Hóa không ngừng, vạch cho nhơn loại một vòng chơn trời trong sáng, an ủi những tâm hồn đau khổ, cảnh giác những tâm hồn tội lỗi để đưa lần những tâm hồn đó đến chỗ thanh cao là nơi chói lọi ánh huy hoàng của sự thật, sự lành và sự đẹp.

Một công trình vĩ đại, một công tác lợi tha và hy sinh cho lý tưởng, một tinh thần cao cả, đưa chúng ta đến chỗ cao thượng phi phàm.

Mặc dầu khóa học cấp tốc trong vòng một tháng, bài vở sơ lược đại cương, quý Học Viên Nam Nữ nên cố gắng để tâm theo dõi, chăm chỉ nghe những lời giảng giải của quý vị Giảng Sư về chi tiết cần yếu hầu ghi chú vào tập riêng, khi học bài giở ra xem mới lãnh hội được cả yếu lý.

Tóm lại, những lời sơ siển trên đây, tôi ước mong anh chị em Học Viên sáng suốt, biết bổn phận và trách nhiệm của mình để đồng lao cộng tác với Hội Thánh, phụng sự cho Nhơn sanh, chèo chống Ðạo thuyền mạnh lướt qua bờ bỉ ngạn.

Ðể đoạt được kết quả mỹ mãn trên đường lập thân hành Ðạo, chư Chức Việc đã thọ nơi mình một Thiên Mạng nên tận tâm giáo hóa dìu dắt Nhơn sanh biết tuân theo luật pháp Chơn Truyền của Ðạo, biết tôn trọng quyền năng của Hội Thánh, nghĩa là hàng phẩm Chức Sắc, Chức Việc lớn nhỏ đều có trật tự phân minh, trên dưới quyền hành đặc biệt tùng nhứt luật mà thực hành phận sự cho vuông tròn.

Tôi lấy làm cảm kích và hân hoan nhận thấy anh chị, em sốt sắng tham dự khóa Hạnh Ðường được đông đảo với lòng thành thật, tôi xin có đôi lời khen tặng toàn thể.

Trước khi dứt lời, tôi nhơn danh Ngọc Chánh Phối Sư Chủ Trưởng Chức Sắc Nam Phái Cửu Trùng Ðài thay mặt cho Hội Thánh Cửu Trùng Ðài, chơn thành cảm tạ Ðức Thượng Sanh có lòng chiếu cố đến chủ tọa Lễ Khai Giảng Hạnh Ðường và sự hiện diện của Chức Sắc Hội Thánh Lưỡng Ðài và Phước Thiện làm cho cuộc lễ được tăng phần danh dự và long trọng.

Tôi xin cầu nguyện Ơn Trên Ðức CHÍ TÔN, Ðức PHẬT MẪU và các Ðấng Thiêng Liêng ban bố điễn lành cho chư Học Viên Nam, Nữ được sáng suốt mẫn huệ, minh tâm để mạnh tiến trên đường tu học cho được thành công mỹ mãn.

Nay kính,

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ
NGỌC NHƯỢN THANH

 

 

 

HUẤN TỪ
của
ÐỨC THƯỢNG SANH

  • Kính Hội Thánh Lưỡng Ðài Hiệp Thiên và Cửu Trùng,

  • Kính Hội Thánh Phước Thiện,

  • Chư Chức Sắc Lưỡng Phái,

  • Chư Chức Việc Bàn Trị Sự Nam, Nữ Châu Thành Thánh Ðịa.

Hôm nay tôi không giấu được niềm hân hoan khi đến chủ tọa buổi Lễ Khai Giảng khóa huấn luyện Chức Việc Bàn Trị Sự Nam, Nữ Châu Thành Thánh Ðịa nơi Hạnh Ðường năm Canh Tuất (1970).

Sự hiện diện đông đủ của toàn thể Chức Việc Nam, Nữ trong buổi Lễ nầy làm cho Hội Thánh thấy rõ cái thiện chí của quý vị là dốc lòng học hỏi cho thông hiểu Luật Pháp và các Nghi Lễ về Quan, Hôn, Tang, Tế của nền Ðại Ðạo, hầu dìu dắt nhơn sanh cho khỏi sai đường lạc lối, tránh điều đổ vỡ tai hại vô phương cứu vãn, tức là sự thất kỳ truyền nơi ngày mai hậu.

Trước đến giờ quý vị vẫn được các bậc đàn anh như chư Ðầu Phận Ðạo hoặc vị Khâm Thành Thánh Ðịa, nhắc nhở và chỉ dẫn trong việc thừa hành phận sự về mặt hành chánh cũng như về các nghi lễ của Ðạo, nhưng trong những cuộc hành lễ nơi nhiều Phận Ðạo cũng còn có sự sai biệt nhau, không đồng một nghi thức duy nhứt theo lời chỉ dạy của Hội Thánh.

Nhiều vị chưa am hiểu tường tận Luật Pháp Chơn Truyền nên lúc thi hành nhiệm vụ có lắm điều sơ suất đáng tiếc trong việc đối nội cũng như đối ngoại.

Vì vậy Ngọc Chánh Phối Sư có sáng kiến đề nghị lên Hội Thánh, dành khóa Hạnh Ðường năm nay để huấn luyện chư Chức Việc Bàn Trị Sự Châu Thành Thánh Ðịa để cho quý vị lãnh hội các phương pháp hành quyền và có đủ khả năng thực thi nhiệm vụ được chu đáo.

Ðề nghị nói trên đã được Hội Thánh chấp thuận và hôm nay quý vị hiện diện trong buổi Lễ Khai Giảng nầy, đó là cái kết quả tốt đẹp do sáng kiến của Ngài Ngọc Chánh Phối Sư vậy.

Thưa quý Chức Việc Bàn Trị Sự Nam Nữ,

Hội Thánh hằng để ý chăm nom dìu dắt quý vị, Chức Sắc giảng viên không nài khó nhọc ra công chỉ dẫn, dạy dỗ đàn em cho có đủ tài, đủ hạnh hầu phục vụ đắc lực nhơn sanh trên đường tu hành, thì quý vị nên gắng lo trau giồi trí thức cho được minh mẫn sáng suốt để ngày sau có thể lập vị xứng đáng cho mình trong cửa Ðại Ðạo.

Thiết tưởng dầu cho trong giới nào, từ cổ chí kim ai cũng lấy sự học tập làm phương pháp đào tạo nhân tài, nhứt là trong các Tôn Giáo, sự học hỏi lại càng cần thiết cho người tu sĩ do câu "Tự giác nhi giác tha", phải đủ sáng suốt mới có thể dìu đường cho kẻ khác; nếu mình không sáng suốt hoặc thông hiểu một cách mù mờ, tức nhiên tránh không khỏi sự lạc đường sai hướng và trên bước lạc lầm của mình, mình sẽ kéo theo cả một đoàn người do mình làm hướng đạo.

Ðức Chí Tôn có dạy: "Dầu làm vua, làm thầy, làm công nghệ, làm đạo sĩ cũng phải có cái chí lớn mới mong thành tựu đặng".

Chúng ta nên quan niệm rằng trước khi lập chí, chúng ta cần phải lo học hỏi để trở nên sáng suốt tức là đem trí não ra khỏi vòng mờ tối vậy.

Hội Thánh hằng để tâm lo lắng, muốn cho quý vị trở nên những nhơn vật xứng đáng đối với mặt Ðạo cũng như mặt Ðời, vì quý vị là những cộng sự viên cần yếu của Hội Thánh, đại diện cho Hội Thánh nơi địa phận mình trấn nhậm. Tuy ở vào địa vị hạ cấp của guồng máy Hành Chánh Ðạo, nhưng quý vị có nhiệm vụ trọng yếu không kém gì các Chức Sắc cao cấp của Hội Thánh. Hơn nữa quý vị là những người thân cận hằng ngày với Tín Ðồ, hòa mình với nhơn sanh, chia vui sớt nhọc với Bổn Ðạo trong mọi trường hợp thì quý vị chẳng nên khinh thường cái trách vụ cao đẹp của mình.

Cũng như ngoài mặt Ðời, nền tảng chánh trị quốc gia ở nơi Ấp, Xã; trong Ðạo Cao Ðài nền tảng Chánh Trị Ðạo ở nơi Ấp và Hương Ðạo, rồi kế đến là Tộc Ðạo hay là Phận Ðạo.

Mặc dù ở vào hạ từng cơ sở, nhưng nếu trong Ấp hoặc Hương Ðạo có điều xáo trộn, trên dưới thiếu sự yên ấm điều hòa, tín hữu có điều bất mãn, nhơn tâm ly tán mất hẳn tình đoàn kết tương thân thì ở nơi cấp trên Hội Thánh cũng chịu ảnh hưởng không hay, khó giữ vững uy tín đối với mặt Ðời và Bổn Ðạo.

Bởi thế, đem thắng lợi vẻ vang về cho Ðạo hay làm cho Ðạo thất bại, mang tai tiếng cũng đều do nơi hành vi của quý vị.

Ðã mang danh là Hội Thánh em, quý vị nên thận trọng, giữ gìn tư cách đứng đắn, làm cho người đời kính nễ, người Ðạo tin cậy, đối đãi với toàn thể tín hữu nơi địa phận mình như tình huynh đệ trong gia đình, đem tình thương chan rưới khắp cả Bổn Ðạo, giúp đỡ, nương nhờ lẫn nhau, thực hành câu "Nhứt gia hữu sự bá gia ưu". Ðược vậy dù cuộc đời chua cay bi đát đến mức nào, quý vị cũng không đến nỗi lâm vào cảnh khó khăn nan giải.

Ðiều cần nhứt là phải giữ trọn hiếu với Ðức CHÍ TÔN ÐẠI TỪ PHỤ, giữ trọn trung thành với Hội Thánh, ngoài ra gắng công học hỏi, noi gương Thánh trước Hiền xưa mà rèn luyện đức tốt, tính lành. Tiền tài châu báu có nhiều giá trị ở đời, nhưng đức tốt tính lành có giá trị hơn nữa. Tiền tài châu báu có thể bị chúng cướp giựt chớ đức tốt tính lành không thể nào mất được và khi xác thân trở về với cát bụi những đức tốt tính lành sẽ theo linh hồn ta để nâng cao địa vị ta nơi cõi Thiêng Liêng.

Ðức Chí Tôn có bài thi dạy rằng:

Ðược vàng chớ khá gọi là may,
Vàng hết tội kia chất dẫy đầy.
Bỏ đức bỏ nhân bao kiếp đọa,
Khuyên con giữ Ðạo đến cùng Thầy.

Phân biệt được lẽ cao thấp giữa tinh thần và vật chất, quý vị nên quý trọng cái Thiên chức của mình và gắng công làm tròn Thiên chức ấy.

Muốn làm tròn Thiên chức, quý vị nên thực thi mấy điều sau đây:

  1. Thực hành trọn vẹn Tứ Ðại Ðiều Qui ấn định nơi chương V Tân Luật.

  2. Phải giữ dạ vô tư mà cư xử với Bổn Ðạo, không vì ai giàu mà trọng đãi, ai nghèo mà khinh khi.

  3. Chỉ thi hành những việc do Hội Thánh ra lịnh bằng văn kiện chính thức, không nên chia phe phân nhóm, làm mất sự đoàn kết thân mật trong Bổn Ðạo và gây khó khăn cho Hội Thánh.

  4. Nếu có điều khó khăn không giải quyết được, phải thỉnh giáo bề trên, không nên phán định sơ suất.

  5. Trong trường hợp nào cũng phải giữ uy tín của mình và nâng cao uy quyền của Hội Thánh.

Nếu quý vị tuân hành đúng theo lề lối ghi trên đây, tôi tin chắc quý vị sẽ thành công mỹ mãn và sẽ được người Ðạo cũng như người Ðời kính phục.

Ðã dấn thân vào trường thi công quả, quý vị phải chịu khó nhọc làm cho cái vốn đạo đức của mình ngày càng tăng lên mãi, phải biết ưa thích công việc mình làm thì việc làm mới có thành quả tốt đẹp và sẽ đem hạnh phúc đến cho mình, vì hạnh phúc không cốt làm việc gì ta thích mà thích việc gì ta làm.

Cái vốn đạo đức mà quý vị cố gắng góp nhặt và dành dụm, ngày sau sẽ giúp cho quý vị được mãn nguyện, vì quý vị sẽ đạt đến địa vị trọng yếu trong hàng Thánh Thể Ðức Chí Tôn và ngày đó quý vị sẽ không tiếc công học hỏi cần cù nơi Hạnh Ðường mà quý vị đang hiện diện trong cuộc Lễ Khai Giảng hôm nay.

Thưa quý vị,

Trước khi dứt lời, nhơn danh Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, tôi xin chúc quý vị tiến triển khả quan trên đường học vấn và cầu nguyện Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu ban ơn cho toàn thể quý vị Nam Nữ.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

 

 

 

HÀNH CHÁNH ÐẠO


BỔN PHẬN CHỨC VIỆC BÀN TRỊ SỰ
ÐỐI VỚI HỘI THÁNH

Thánh Giáo Ðức Chí Tôn dạy: "Thầy dùng Lương sanh mà cứu vớt Quần sanh, cả Lương sanh ấy Thầy dùng quyền Thiêng Liêng dạy dỗ, trước un đúc nơi lòng một khiếu từ bi cho tâm địa có tình ái vật ưu sanh theo tánh đức háo sanh của Thầy, dùng lợi khí phàm tục để độ rỗi người phàm tục.

Những Lương sanh ấy hiệp lại làm một lập thành Hội Thánh là xác thân phàm, tức là hình thể hữu vi của Thầy tại thế để Thể Thiên Hành Hóa, làm gương mẫu mà giáo hóa dìu dắt con cái của Thầy trên đường Ðạo và đường Ðời trong buổi Tam Kỳ Phổ Ðộ để Thầy tránh khỏi phải hạ trần như lúc Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Ðộ".

Bổn phận của Chức Việc Bàn Trị Sự phải tuân mạng lịnh của Hội Thánh truyền dạy, không được phép trái với sở định của bề trên, chẳng nên lấy ý riêng của mình mà canh cải bất tùng giáo hóa, phải giữ lễ nghĩa khiêm cung đối với Chức Sắc Hội Thánh cho vẹn toàn bổn phận làm em, dầu người có kém tài, kém trí đi nữa, đàn em cũng chẳng nên khinh khi, vi lịnh. Khinh khi vi lịnh người tức là buộc vào mình cái tội bất tuân Luật Pháp.

Thảng như Chức Sắc bề trên cầm quyền hành chánh của Ðạo rủi có làm việc chi ngộ bất cập lượng, sai siễn một đôi điều không phù hạp với Luật Thương Yêu và Quyền Công Chánh thì bổn phận của đàn em được phép gián can với lễ độ của tình huynh đệ nhứt gia, chỉ rõ những việc làm khuyết điểm để cho đàn anh suy độ mà cải cách hành vi cho phù hạp nhơn tâm thuận tùng Thiên lý.

Một điều nên ghi nhớ trong Tứ Ðại Ðiều Qui là "Dưới gián trên đừng thất khiêm cung" mà lỗi đạo làm em và bị phạm Luật Ðạo.

Tóm lại bổn phận Chức Việc Bàn Trị Sự đã mang danh là Hội Thánh em, mà đối với Hội Thánh cùng Chức Sắc đàn anh bề trên được như vậy thì bao giờ Hội Thánh cũng tín nhiệm và thương yêu đàn em có tâm vì Ðạo, và cũng làm tròn sứ mạng Thiêng Liêng của một Chức Việc đối với Hội Thánh.

 

BỔN PHẬN CHỨC VIỆC BÀN TRỊ SỰ
ÐỐI VỚI BỔN ÐẠO

Chúng ta đã công nhận Ðức Chí Tôn là Ông Cha chung của Nhơn loại về phần Thiêng Liêng, tức nhiên Nhơn loại là Anh Em với nhau, mặc dầu khác màu da sắc tóc; cái tình Huynh Ðệ nầy giữa người đồng Ðạo, càng thêm thâm thúy và mật thiết hơn.

Ðức CHÍ TÔN có giáng dạy:

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Ðạo tức cùng CHA.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.

Vậy Chức Việc Bàn Trị Sự đối với Bổn Ðạo đàn em phải hết dạ thương yêu, thành thật giúp đỡ và dìu dắt đàn em trên đường Ðạo cũng như trên đường Ðời. Phải giữ hạnh khiêm cung từ nhượng, dùng lời dịu ngọt mà dạy dỗ, nhứt là phải đối xử cho công bình, giữ mình cho trong sạch để nêu gương tốt cho đàn em bắt chước.

Chức Việc Bàn Trị Sự được quyền sai khiến đàn em trong phạm vi quyền hạn của mình. Phải chỗ khiến thì ôn tồn mà khiến, chẳng phải chỗ sai chớ cưỡng bách mà sai, đừng làm điều chi quá quyền mà mất niềm hòa khí cùng nhau trong tình Huynh Ðệ của Ðại gia đình Tôn Giáo.

Chức Việc Bàn Trị Sự là người đã mang nơi mình một trọng trách thay cho Hội Thánh, thân cận với Nhơn sanh trong Hương Ðạo, thì bổn phận của mỗi vị cần phải thực thi đúng theo trách nhiệm của mình y trong Pháp Chánh Truyền, tóm lược sau đây:

1. CHÁNH TRỊ SỰ:

Mỗi Hương Ðạo có một vị Chánh Trị Sự thay mặt Hội Thánh làm đầu cho Tín Ðồ, gọi là Ðầu Hương Ðạo, làm Anh Cả trong địa phận ấy, chịu trách nhiệm về phần Ðời và phần Ðạo đối với Hội Thánh.

Vì vậy Chánh Trị Sự phải là người đầy đủ đạo hạnh, hiểu biết về Luật Pháp Chơn Truyền của Ðại Ðạo, có đủ năng lực dìu dẫn Bổn Ðạo được trong ấm ngoài êm, chăm nom giúp đỡ sanh hoạt của Môn đệ Thầy, giúp khó trợ nghèo, coi cả Tín Ðồ như em ruột.

2. PHÓ TRỊ SỰ:

Là người thay mặt cho Chánh Trị Sự trong một Ấp, gọi là Tri Lý Ðạo để lo về phần Hành Chánh Ðạo đặng phép sửa đương giúp đỡ, dìu dắt, dạy dỗ chư Tín Ðồ trong địa phận trấn nhậm.

Về mặt xã hội, giúp đỡ Bổn Ðạo trong xóm ấp được tương thân tương trợ, gặp người hoạn nạn thì Phó Trị Sự phải sốt sắng kêu gọi Bổn Ðạo chung tâm trợ giúp. Phó Trị Sự có quyền giáo hóa chớ không có quyền sửa trị.

3. THÔNG SỰ:

Là người thay mặt Chánh Trị Sự trong một Ấp, gọi là Thông Lý Ðạo, để lo về phần Luật lệ.

Thông Sự có quyền răn dạy người Ðạo phạm Luật Pháp của Ðạo bằng cách giải thích khuyên lơn, nếu đôi ba lần mà người phạm lỗi không biết ăn năn chừa cải, thì Thông Sự có quyền phúc sự lên Chánh Trị Sự khuyên giải hoặc định phạt sám hối.

(Ðọc kỹ chú giải trong Pháp Chánh Truyền).

 

QUYỀN HÀNH và LUẬT CÔNG CỬ
CHÁNH, PHÓ TRỊ SỰ và THÔNG SỰ

Quyền Hành Chánh Ðạo địa phương có hai vấn đề quan trọng là QUYỀN HÀNHLUẬT CÔNG CỬ Chức Việc Bàn Trị Sự.

Ðể thi hành theo nguyên tắc khỏi vi phạm Luật Pháp Chơn Truyền của Ðạo; vì nhiều nơi đã tỏ ra lắm điều sơ sót trong việc công cử Bàn Trị Sự, hoặc cũng có nhiều trường hợp thi thố quyền hành của 3 phẩm: Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự không đúng theo quy định của Pháp Chánh Truyền. Sự sơ sót ấy do nơi quyền Hành Chánh địa phương không được châu đáo ở hạ từng cơ sở nơi Hương Ðạo và Ấp Ðạo, căn bản của nền Chánh Trị Ðạo.

I. QUYỀN HÀNH

Chức Việc Bàn Trị Sự có 3 phẩm yếu trọng là:

THÔNG SỰ, PHÓ TRỊ SỰ, CHÁNH TRỊ SỰ

1. THÔNG SỰ:

Là người cầm Luật Pháp, nên trong Pháp Chánh Truyền gọi là HỘ PHÁP Em, nghĩa là đồng quyền đồng thể, không hơn không kém, nhưng HỘ PHÁP cầm quyền toàn Ðạo khắp Thế Giới, còn Thông Sự chỉ trong địa phận một Ấp mà thôi, vì thế mới gọi là HỘ PHÁP Em.

2. PHÓ TRỊ SỰ:

Người cầm quyền Hành Chánh tức là Chánh Trị Ðạo, ở Pháp Chánh Truyền gọi là GIÁO TÔNG Em, hễ quyền trên lớn lao bao nhiêu thì quyền dưới cũng thế, nhưng Phó Trị Sự chỉ cầm quyền một Ấp Ðạo. Hai vị Phó Trị Sự và Thông Sự đều đồng thể cùng nhau không ai lớn ai nhỏ, cũng như Giáo Tông và Hộ Pháp, song quyền hành riêng biệt, Phó Trị Sự có quyền về Hành Chánh Ðạo, còn Thông Sự có quyền về Luật Lệ.

Phó Trị Sự và Thông Sự có quyền ứng cử chức Chánh Trị Sự.

3. CHÁNH TRỊ SỰ:

Người cầm quyền Luật Pháp và Hành Chánh Ðạo. Tại sao người cầm hết 2 quyền? Bởi vì Chánh Trị Sự là ÐẦU SƯ Em, nên phải kiêm cả 2 quyền và làm đầu trong một Hương Ðạo, trong Luật Pháp cấm người không cho đi ngoài ranh giới Chánh Trị Sự khác.

Ngoài ra Luật Pháp còn nghiêm cấm không cho công cử Chánh Trị Sự nội dung, Chánh Trị Sự Ðầu Văn Phòng hoặc Chánh Trị Sự Phổ Tế.

II. LUẬT CÔNG CỬ

Theo như thường tình ở ngoài Ðời thì ta cũng đã thấy Luật công cử Hội Ðồng Xã, Ấp, Hội Ðồng Tỉnh và Dân Biểu, Thượng Hạ Nghị Viện .v.v.

Hễ có công cử thì có người ra ứng cử và người thừa sai (cử tri), quyền ứng cử mỗi người đều có như quyền công cử.

Phó Trị Sự và Thông Sự phải chịu cho Tín Ðồ trong Ấp Ðạo xúm nhau công cử, mà trong một Hương Ðạo chia ra nhiều Ấp Ðạo. Mỗi Ấp có một Thông Sự và một Phó Trị Sự làm đầu.

Chánh Trị Sự phải chịu cho toàn cả Phó Trị Sự và Thông Sự xúm nhau công cử, chớ không phải để cho Tín Ðồ xúm nhau công cử (Tín Ðồ chỉ được mời đến dự kiến để phê bình, chỉ trích hoặc đồng ý ứng cử viên và ký tên vào vi bằng công cử).

Hồ sơ ứng cử viên gồm có:

  1. Ðơn xin ứng cử.

  2. Chứng chỉ hạnh kiểm.

  3. Tờ khai lai lịch công nghiệp.

Chức Chánh Trị Sự phải có làm Phó Trị Sự hoặc Thông Sự mới được ra ứng cử.

Hồ sơ ứng cử phải nạp cho Ðầu Phận Ðạo.

Sau khi Ðầu Phận xem xét xong hồ sơ mỗi vị rồi thì phải gởi danh sách cho toàn Chức Việc trong Hương hiểu biết và định ngày công cử trước nhứt là 10 ngày.

Chánh Trị Sự đắc cử mỗi nhiệm kỳ là 5 năm.

Ðắc cử rồi mà vô cớ phế phận không trọn khóa đắc cử thì không được kể công nghiệp, mặc dù có viện lý do. Chánh Trị Sự mãn khóa được quyền ra ứng cử và tái cử lại một khóa nữa (thủ tục cũng như mới ra ứng cử vậy).

Luật công cử Phó Trị Sự và Thông Sự cũng y như công cử Chánh Trị Sự. Ứng cử viên Phó Trị Sự và Thông Sự phải là người Ðạo hữu giữ thập trai, có Ðạo tâm, sốt sắng và có năng lực hành sự.

Mỗi Tín Ðồ khi được nhập môn thiệt thọ nghĩa là sau khi đổi Sớ Cầu Ðạo tạm rồi đều có quyền đầu phiếu công cử và ứng cử Phó Trị Sự hay Thông Sự, nhưng Nam, Nữ riêng biệt.

Một khi có cuộc công cử Chức Việc Bàn Trị Sự thì phải thành lập một Ủy Ban chứng sự lo xem xét cuộc công cử hầu tránh điều gian lận trong khi đầu phiếu.

Ủy Ban nầy gồm có ba nhơn viên:

  1. Ðầu Phận Ðạo sở tại làm Chủ Tọa.

  2. Luật Sự Pháp Chánh địa phương Giám Thị.

  3. Chánh Trị Sự Ðầu Hương Ðạo kế cận chứng kiến.

Sau cuộc đầu phiếu công cử xong thì phận sự Ủy Ban nầy phải tuyên bố liền danh sách người đắc cử, kế lập Vi Bằng Công Cử và Tờ Cử 3 bổn y nhau gởi về cho Khâm Thành Thánh Ðịa nhờ sự xem xét và phê kiến, rồi giao trả lại cho Phận Ðạo 1 bổn để hồ sơ lưu chiếu, 1 bổn để hồ sơ văn phòng Khâm Thành, còn 1 bổn gởi về văn phòng Lại Viện (Nội Chánh). Ðến mãn hạn kỳ 6 tháng tạm vị, nếu xét đủ tinh thần phục vụ, hạnh kiểm tốt, không phạm Luật Pháp Ðạo thì Ðầu Phận Ðạo lập phúc trình và hồ sơ ứng cử luôn cả vi bằng công cử, tờ cử, đính theo 3 ảnh bán thân (4x6). Hội Thánh sẽ ban Ðạo Cấp chánh vị. Ðó là cuộc công cử đúng phép.

TRƯỜNG HỢP ÐẶC BIỆT: ÐỀ CỬ

Về Hương Ðạo mới phổ độ lập thành thì Ðầu Phận Ðạo có quyền đề cử, nghĩa là lựa chọn trong hàng Ðạo Hữu vị nào có hạnh kiểm tốt, đạo tâm, sốt sắng, lập thành Bàn Trị Sự gồm 1 Chánh Trị Sự, 1 Phó Trị Sự và 1 Thông Sự.

Sau khi đề cử xong, vị Ðầu Phận Ðạo phải đệ tờ Hội Thánh xin chứng nhận mới có giá trị.

(Ðính theo mẫu Vi Bằng công cử và Tờ cử)

 

VI BẰNG Công Cử

 

VI BẰNG

Công Cử Chánh Trị Sự Ðầu Hương Ðạo______________
----------------------

Do thơ mời của Ðầu Phận Ðạo _____ (tên Phận Ðạo) ________ có mở cuộc hội nhóm ngày ____ tháng ____ năm _______ dl:__________ đúng _____ giờ tại Văn Phòng Phận Ðạo ___________________ để công cử Chánh Trị Sự Ðầu Hương Ðạo ____________ thay thế vị Cựu Chánh Trị Sự ________ (tên, họ) ________ vừa mãn khóa (hoặc vì duyên cớ khác thì nói rõ ra, ví dụ ngưng quyền chức, triệu hồi, truy tố, v.v...)

Sau đây, thành phần của Ủy Ban xem xét cuộc công cử:

ỦY BAN TRỌNG TÀI:

  • Ðầu Phận Ðạo _____ (tên Phận Ðạo) __________ Chủ Tọa.

  • Ðại Diện Pháp Chánh địa phương _____________ Giám Thị.

  • Chánh Trị Sự_____________________________
    Ðầu Hương Ðạo kế cận _____________________ Giám Thị.

ỨNG CỬ VIÊN:

  • Phó Trị Sự ____________________ kể tên tất cả.

  • Thông Sự _____________________ kể tên tất cả.

Sau khi tất cả chư vị Phó Trị Sự và Thông Sự hiện diện bỏ thăm kín, Ủy Ban trọng tài khui thăm và công bố liền danh sách vị ________________ được đa số thăm hơn hết là _________ thăm (biên số thăm), đắc cử Chánh Trị Sự Ðầu Hương Ðạo ________________.

Lập tại Văn Phòng Phận Ðạo, ngày___tháng__năm_____
Dl:___ , ___ , 197...

CHỦ TỌA

____________

GIÁM THỊ:

  • Ðại Diện Pháp Chánh địa phương ______________

  • Ðầu Hương Ðạo kế cận ______________________

Chức Việc dự cử:

  • Phó Trị Sự________________ Thông Sự_____________

  • Phó Trị Sự________________ Thông Sự_____________

  • Phó Trị Sự________________ Thông Sự_____________

Ðạo Hữu:

  • _____________________ ___________________

  • _____________________ ___________________

  • _____________________ ___________________

 

TỜ CỬ

 

Văn Phòng ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
ÐẦU PHẬN ÐẠO (Tứ Thập ___ Niên)
----- TÒA THÁNH TÂY NINH
Số: ___/T.C.

CHÂU THÀNH THÁNH ÐỊA PHẬN ÐẠO ______

 

TỜ CỬ CHỨC ___________

 

Chiếu y PHÁP CHÁNH TRUYỀN về khoản phân định quyền hành Bàn Trị Sự và Luật công cử.

Chiếu y Vi Bằng hội nhóm tại Văn Phòng _____________ số: _____ ngày ___ tháng ______ năm ______ (Dl. ____ / ___ 197__ ).

Do _________________ Chủ Tọa, tất cả ________ Hương Ðạo ____________ đồng công cử vị _________________ tuổi, sanh quán Hương Ðạo __________ Tộc Ðạo ______________ Châu Ðạo ____________.

Nhập môn ngày _____ tháng ____ năm ______ (Dl. ___ /____ / 197__ )

Trai giới __________

Vị nầy tánh hạnh tốt, hiền lương chơn thật.

Ðắc cử chức _______________ Hương Ðạo: ______________ Phận Ðạo:_ _______________ Châu Thành Thánh Ðịa.

Vị trên đây phải trọn vâng mạng lịnh Chức Sắc bề trên và tuân y Luật Pháp Chơn Truyền của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh mà hành đạo, chẳng đặng canh cải điều chi ngoài Tân Pháp.

 

Lập tại Văn Phòng, ngày _____ tháng ____ năm ______
(Dl. ____ / _____ / 197__)

Người đắc cử
(Ký tên)
____________

_______________

_______________

 

Phê kiến

Cho tạm vị 6 tháng, nếu tròn phận sự sẽ đem vào chánh vị và ban Ðạo cấp.

V.P. , ngày ___ tháng ___ năm ______.
(Dl: ___  / ___  / 197__ )

KHÂM THÀNH THÁNH ÐỊA
GIÁO SƯ

____________

 

 

LỄ NGHI TẾ TỰ


 

NGHI LỄ LẬP ÐÀN CẦU BỊNH CHO BỔN ÐẠO

PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH

HÀNH LỄ TRONG BA ÐÊM

A. Khởi đêm thứ nhứt:

Vào thời Dậu thiết lễ cúng Ðức CHÍ TÔN có thượng sớ và dâng Tam Bửu: Bông, Rượu, Trà, do Chánh Trị Sự dâng sớ. Khi bắt đầu hành lễ nên lên nhang đèn bàn thờ Ông Bà cho trong tang quyến bịnh nhơn cầu nguyện rồi sẽ nhập đàn.

Buộc trong gia quyến phải cúng THẦY để cầu nguyện. Cúng xong bãi đàn thì tiếp tụng Kinh DI LẠC và 3 biến Cứu Khổ (Trường hợp tụng kinh DI LẠC một hay ba hiệp cũng được).

B. Ðêm thứ hai:

Cũng vào thời Dậu thiết lễ cúng Thầy nhưng không có thượng Sớ và chỉ dâng Trà mà thôi và việc hành lễ y như đêm thứ nhứt.

C. Ðêm thứ ba:

Hành lễ như đêm thứ hai là xong nhiệm vụ Bàn Trị Sự, nhưng nếu gia quyến yêu cầu tụng Kinh Sám Hối đêm chót thì Bàn Trị Sự buộc người trong gia quyến cũng như bịnh nhơn phải giữ chay trọn ngày và đêm để tụng Sám Hối. Bàn Trị Sự khỏi quì đọc Kinh Sám Hối (để trọn cho gia quyến quì).

Bàn Trị Sự chưa thọ phép giải bịnh thì làm như sau đây:

Khi cúng THẦY xong (chưa bãi đàn), trong gia quyến đở người bịnh đến trước Thiên Bàn cho bịnh nhơn lạy cầu nguyện CHÍ TÔN, vị chứng đàn vào quì cầu nguyện CHÍ TÔN thỉnh ly rượu giữa rửa mặt cho bịnh nhơn, kế thỉnh hai ly nước cầu nguyện CHÍ TÔN xong ký tế lại (nghĩa là kê hai miệng ly, đổ thống nhứt xuống ly riêng rồi cho người bịnh niệm câu chú của THẦY mà uống).

Trừ dư nếu có vị Chức Sắc thọ Pháp giải bịnh thì tùng người mà hành lễ.

 

PHƯƠNG PHÁP HÀNH LỄ
CẦU HỒN KHI HẤP HỐI

Bàn Trị Sự lo nghi tiết cúng THẦY trước (dù chưa đúng giờ cúng thời).

A. Nếu ngoài thời cúng thì dâng đủ Tam Bửu (Bông, Rượu, Trà).

B. Ðúng thời cúng thì tùy thời nào dâng Bửu nấy (Mặc dầu dâng một nhưng cũng phải có đủ Tam Bửu trên Thiên Bàn).

C. Sau khi cúng THẦY xong, vị Chứng Ðàn và hai vị Chức Việc Phó hay Thông Sự vào lạy THẦY cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN rằng: "Chúng con là Bàn Trị Sự đương quyền Hành Chánh sở tại được lời thỉnh cầu của vị .............. đến đây cầu hồn cho vị Ðạo Hữu ................... đã hấp hối, mong nhờ Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu, các Ðấng Thiêng Liêng ban ân cho người được nhẹ nhàng linh hồn".

Nguyện xong lạy 3 lạy, đứng dậy, vị Chứng Ðàn bước lấy 2 cây đèn sáp để trên dĩa, đốt cháy xá CHÍ TÔN và đưa cho 2 vị hầu, vị Chứng Ðàn ngó ngay Thiên Nhãn tịnh thần bắt Ấn Tý vào ngực, cùng hai vị cầm đèn đến trước đầu bịnh nhơn ngó ngay mỏ ác của người hấp hối kêu tên nói rằng: "Tôi vâng lịnh Ðức CHÍ TÔN đến tụng Kinh cho vong hồn Ðạo Hữu nhẹ nhàng siêu thăng tịnh độ, vậy Ðạo Hữu phải tịnh tâm mà nghe và phải cầu nguyện với Ðức CHÍ TÔN ban ân lành cho". Nói xong, Ðồng nhi khởi đọc bài: "Rấp nhập cảnh Thiêng Liêng hằng sống ............ v.v..". (Tụng 3 lần, khi dứt niệm câu chú THẦY 3 lần).

Ðoạn vị Chứng Ðàn cùng hai vị Chức Việc cầm đèn trở lại Thiên Bàn xá CHÍ TÔN 3 xá mới tắt đèn và vị Chứng Ðàn mới được xả Ấn Tý.

Ðiều lưu ý nếu trong khi cầu hấp hối mà bịnh nhơn tắt hơi (chết) tiếp tụng luôn bài Kinh Ðã Chết Rồi là: "Ba mươi sáu cõi Thiên Tào ......... v.v ..".

LỜI DẶN: Hai cây đèn sáp hành lễ cầu hấp hối phải để liên tục trong cuộc hành lễ liên tiếp đến khi hết thôi không nên dùng vào việc khác.

 

PHƯƠNG PHÁP HÀNH LỄ
CẦU HỒN KHI ÐÃ CHẾT RỒI

  1. Phương pháp hành lễ tẩn liệm
  2. Phần hành lễ thành phục phát tang tại tư gia
  3. Phần lễ cáo từ Tổ
  4. Phần hành lễ cúng tế và cầu siêu cho Chức Việc xuống Ðạo hữu
  5. Phần lễ phát hành an táng
  6. Phần hành lễ tuần cửu từ nhứt đến cửu cửu tại tư gia
  7. Phần hành lễ Tiểu và Ðại Tường tại tư gia

 

Bàn Trị Sự hành lễ y như cách hành lễ cầu hấp hối.

A. Phương pháp hành lễ tẩn liệm.

Phải cúng Thầy nhằm tứ thời, có dâng sớ Tân cố và dâng Tam Bửu (Bông, Rượu, Trà) vị Chứng Ðàn là Chánh Trị Sự.

Khi hành lễ cúng thời xong, tất cả người trong gia quyến đều quỳ cầu nguyện CHÍ TÔN, rồi đến chỗ người chết quỳ lạy xác một lần, Ðồng nhi khởi tụng Kinh Tẩn Liệm: "Dây oan nghiệt dứt rời trái chủ.........v.v..". Tụng xong, tang chủ lạy xác một lần nữa, vị Chứng Ðàn trở về Thiên Bàn xá CHÍ TÔN và xả ấn.

Các chi tiết hành lễ vừa kể trên từ phẩm Chánh Trị Sự đổ xuống Ðạo hữu thì vị Chứng Ðàn là Chánh Trị Sự thực hành. Còn từ phẩm Chức Sắc Lễ Sanh trở lên thì phương pháp cầu hấp hối, cầu hồn khi đã chết rồi đến tẩn liệm, Bàn Trị Sự chỉ hành lễ theo nghi thức như trên. Riêng về phần chứng đàn trước đầu người bịnh hấp hối, chết rồi nơi khoản C phải nhượng cho Ðầu Phận hay Khâm Thành nếu có thỉnh đến.

Phần thượng sớ Tân cố vị Chánh Trị Sự phải đưa lên cho Ðầu Phận Ðạo thay mặt Hội Thánh dâng sớ tại Thánh Thất hay tư gia người đã chết.

B. Phần hành lễ thành phục phát tang tại tư gia.

Trường hợp nầy có lắm khi tùy hoàn cảnh gia đình tang chủ thỉnh cầu như: thành phục phát tang kế tiếp hành lễ tế điện cầu siêu và an táng luôn, cũng có gia đình duy trì vì phải coi giờ thành phục phát tang hay ngày an táng.

Do đó mới có việc không thỏa mãn giữa nhau, vậy thì lễ thành phục phát tang kế tiếp cúng tế cầu siêu và an táng luôn là phương tiện cho gia đình hoặc Bàn Trị Sự là tốt nhứt. Còn việc coi ngày giờ thành phục phát tang hay an táng nếu quá hạn tam nhựt thì buộc tang gia phải bảo đảm quan tài về hơi hám (điều đó bất đắc dĩ mà thôi), Bàn Trị Sự cũng nên khuyên gia đình tang chủ trong ba ngày tống táng hơn là duy trì lâu ngày có nhiều bất lợi.

Việc thành phục phát tang, Bàn Trị Sự chỉ cầu nguyện CHÍ TÔN vì mới thiết lễ cúng THẦY hồi tẩn liệm.

C. Phần lễ cáo từ Tổ.

Có Lễ Nhạc hoặc không có trước phải đặt một bàn nghi ngoài để kiến Thần Hoàng bổn cảnh, đất đai ngũ phương một mâm cơm trai hay hoa quả bánh nước tùy gia vô hữu. Còn một mâm dâng trên bàn thờ Tổ phụ (Cửu Huyền Thất Tổ), một cái mâm đựng đồ tang để cáo từ Tổ. Khi xong bưng mâm tang qua bàn vong (linh cửu) hành lễ. Vị Chánh Trị Sự đứng phát tang phải mặc Ðại phục.

Nghi tiết trên từ hàng Lễ Sanh trở xuống Ðạo hữu, Lễ sĩ mặc áo màu xanh. Từ Giáo Hữu trở lên, Lễ sĩ mặc áo màu đỏ. Lễ Sanh, Giáo Thiện một cây Lộng và Phướn Thượng Sanh; Giáo Hữu, Chí Thiện trở lên hai cây Lộng và Phướn Thượng Phẩm.

Nên lưu ý, dầu Nam hay Nữ, Phướn Thượng Sanh tả (trái), Phướn Thượng Phẩm hữu (mặt) trong ngó ra chớ không phải để Nam tả Nữ hữu.

Ðãnh lễ Ðức Chí Tôn trước khi cáo từ Tổ.

Cách lạy khi qui vị: Lễ Sanh trở lên thì 3 lạy quỳ, còn từ Chánh Trị Sự trở xuống Ðạo hữu lạy 4 lạy, 2 quỳ, 2 đứng theo nghi thường lệ.

D. Phần hành lễ cúng tế và cầu siêu cho Chức Việc xuống Ðạo hữu.

Ðoạn nầy chiếu theo quyển Tang Lễ Ngài Cố Tiếp Pháp Chơn Quân thì hành lễ đủ kinh dầu thiếu trai giới 10 ngày (*). Chỉ đặc biệt người qui vị giữ trọn 10 ngày chay thì được thọ truyền Bửu pháp, nghĩa là thỉnh Chức Sắc hành Pháp đoạn căn mà thôi, dưới 10 ngày là không được hưởng Pháp nầy.

(*) Xin quý Chức Việc Bàn Trị Sự tham khảo quyển QUAN HÔN TANG LỄ của Hội Thánh ấn hành năm 1976, là tài liệu mới nhất sau nầy. Khóa Hạnh Ðường nầy vào năm 1970, lúc Hội Thánh chưa soạn thảo Tang Lễ thống nhứt.

Trường hợp vừa kể trên đối với trẻ em từ 10 tuổi trở lên nếu trường trai hoặc thập trai cũng được thi hành theo nghi lễ nầy.

Còn 10 tuổi trở xuống, thì chỉ thượng sớ và cầu siêu mà thôi.

Riêng về phần Chức Sắc Lễ Sanh, Giáo Thiện, Giáo Hữu, Chí Thiện trở lên được phép tạm để tư gia hành lễ chờ ngày di quan vào Khách Ðình hay Báo Ân Từ thì Bàn Trị Sự hành lễ theo các chi tiết đã nói trên (nghĩa là từ khi hấp hối, chết rồi đến cầu siêu, để di quan và phải đưa vào Khách Ðình hay Báo Ân Từ tùy theo phẩm vị, nên chung lo giúp đỡ tang quyến đến khi an táng xong).

E. Phần lễ phát hành an táng.

Ðảnh lễ Ðức Chí Tôn trước khi cáo từ Tổ, cúng vong, cầu siêu, khiển điện, di linh cửu ra thuyền Bát nhã, đi đến Báo Ân Từ thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức PHẬT MẪU, đến Ðền Thánh cũng thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức CHÍ TÔN. Nếu trường hợp đi ngoài ngang qua Thánh Thất hay Ðiện Thờ thì cũng thi hành như vào Nội Ô.

Tuần cửu chỉ làm tại Thánh Thất hoặc Ðền Thánh mà thôi. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt bất khả kháng mới được làm tại tư gia.

F. Phần hành lễ tuần cửu từ nhứt đến cửu cửu tại tư gia.

Thiết lễ cúng THẦY có thượng Sớ dâng Tam Bửu (Bông, Rượu, Trà) vào thời Ngọ và khai tuần cửu.

Trong lễ nầy nếu tang gia có cúng phẩm Tổ Phụ Ông Bà và vong linh thì tự tiện nguyện vái, Bàn Trị Sự chỉ hành lễ tuần cửu và tụng kinh Di Lạc 3 lần để cầu nguyện cho linh hồn người được siêu thoát là xong.

Mỗi tuần cửu hành lễ y như trên, đến ngày mãn cửu, tức là cửu thứ 9, tang gia có cúng phẩm vật thì việc cáo từ Tổ cúng vong theo nghi thức thường lệ.

G. Phần hành lễ Tiểu và Ðại Tường tại tư gia.

I. Thiết lễ cúng THẦY, có thượng sớ, dâng Tam Bửu vào thời Ngọ và khai tuần Tiểu hay Ðại Tường.

Trong lễ nầy nếu có Lễ Nhạc tế điện hoặc châm chước thì có cáo từ Tổ. Tiếp hành lễ tế điện, cúng tế xong, lễ thành khỏi tụng kinh khai Tiểu hay Ðại Tường nơi bàn vong nữa, vì đã khai trước Thiên Bàn sau thời cúng rồi.

II. Ðoạn Lễ thành nếu Ðại Tường thì một người trong tang quyến đứng trước bàn vong để lời tạ ơn chung các Cơ Quan, thân bằng cố hữu y như khi đám xác. Dứt rồi vị Chánh Trị Sự mặc Ðại phục sắp Ðồng nhi trước Thiên Bàn mời tang quyến đến, vị Chánh Trị Sự quỳ trước, tang quyến quỳ sau cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN để xả tang, bắt đầu đốt lá Phan và Linh vị, đồng nhi tụng 3 biến Vãng Sanh Thần Chú, dứt niệm câu chú THẦY 3 lần, tang quyến lạy Ðức CHÍ TÔN, rồi qua bàn thờ tang vong kế vị Chánh Trị Sự xả tang cho một người trưởng trong tang quyến, còn bao nhiêu tự lột khăn tang trên đầu xuống và đứng dậy xá bước ra ngoài sẽ cổi đồ tang ra đốt hay để tùy gia quyến. Ðến đây là hết phần lễ Tang tế sự.

Tóm lại, nghi lễ nầy tạm thực hành, chờ khi có quyển Tang Lễ thống nhứt, Hội Thánh sẽ cho thi hành y theo đó.

 

PHẦN HÔN NHƠN

Chiếu Tân Luật điều thứ 6 đến thứ 10 dạy sự chọn Hôn trong người đồng Ðạo, trừ khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới được kết làm giai ngẫu.

Tám ngày trước lễ Sính Hôn, chủ Hôn Trai phải dán Bố cáo nơi Thánh Thất sở tại cho trong Bổn Ðạo hay biết sau khỏi điều trắc trở.

Làm lễ Sính Hôn, hai đàng Trai và Gái phải đến Thánh Thất hoặc Ðền Thánh mà cầu lễ Chung Hôn (tức là lễ Hôn Phối).

PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH:

Tất cả người trong Ðạo khi kết thành hôn nhơn cho con, cháu, phải tuân hành theo Tân Luật như sau:

  1. Trước hết phải chọn Hôn người trong Ðạo, như "Ðiều thứ 6 của Tân Luật".

  2. Trước ngày Sính hôn, phải đăng Bát nhựt tại Thánh Thất sở tại "Ðiều thứ 7 Tân Luật".

  3. Khi làm lễ cưới, gả hai đàng Trai và Gái phải xin phép lập lễ Hôn Phối tại Thánh Thất hoặc Ðền Thánh "Ðiều thứ 8 Tân Luật".

  4. Cấm không được cưới hầu thiếp, trừ khi nào không con nối hậu thì đặng phép cưới hầu thiếp nhưng chính người chánh thê đứng cưới mới đặng "Ðiều thứ 9 Tân Luật".

  5. Cấm người trong Ðạo không được để bỏ nhau, trừ khi ngoại tình hay thất hiếu với công cô "Ðiều thứ 10 Tân Luật".

Trường hợp bất khả kháng hành lễ tại tư gia.

Bàn Trị Sự thi hành như sau:

A. Buộc chủ hôn Nam, Nữ phải xin phép Ðầu Phận, Bàn Trị Sự hỏi rõ việc kết hôn nêu trong điều thứ 6 và thứ 7 của Tân Luật.

B. Mỗi khi Bổn Ðạo gả, cưới, phải thỉnh Bàn Trị Sự hay Ðầu Phận đến chứng sự hoặc hướng dẫn cách thức hành lễ để tránh điều bất trắc trong vụ, trừ ra trong gia đình của Chức Sắc Ðại Thiên Phong dĩ hạ (dù hành lễ nơi tư gia).

C. Khi Bàn Trị Sự đến chứng sự hành lễ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm, nên cần lưu ý mọi việc châu đáo theo phép Ðạo.

D. Phần hướng dẫn hành lễ, trước hết nếu đôi bên Trai, Gái có thỉnh Chánh Trị Sự, thì hai vị nầy vào cầu nguyện CHÍ TÔN, kế 2 sui gia Nam Nữ, sau là chàng rể. Khi xong tiếp bái lễ Từ Ðường (Ông Bà quá vãng).

Ðoạn trình Hội Thánh, Quốc Vương Thủy Thổ, Ông Bà tại tiền (sống), Cha Mẹ và tiếp đến là (*) Công Cô.

Lưu ý: Khi lên đôi đèn hành lễ Cửu Huyền Thất Tổ thì tùy chủ hôn, hoặc sở cậy người trong thân quyến có đủ phước đức, vì lệ nầy thành tục.

Tóm lại, phần nghi lễ trên đây tạm thực hành chờ Hội Thánh ban hành lễ thống nhứt sẽ tuân theo.

(*) Trong bản chánh của Hội Thánh ấn hành năm Canh Tuất 1970 không có hai chữ "đến là", chúng tôi nghĩ nên có hai chữ đó, câu trên mới rõ nghĩa hơn.

 

LUẬT PHÁP ĐẠO


 

LUẬT PHÁP CHƠN TRUYỀN

Ðể bảo thủ Chơn Truyền khỏi bị tay phàm canh cải ra Phàm giáo, nên trong cửa Ðại Ðạo có đủ Luật và Pháp.

  • LUẬT: là Tân Luật.

  • PHÁP: là Pháp Chánh Truyền.

Tân Luật và Pháp Chánh Truyền là qui củ chuẩn thằng của Ðạo cũng như Hiến Pháp là điều luật của một nước. Người dân biết tôn trọng Hiến Pháp, nước mới có trật tự an ninh, thái bình thiên hạ. Còn Tín đồ của Ðạo có trọn tuân hành Luật Pháp mới giữ được Chơn Truyền Chánh giáo.

Ðạo là con đường Thiêng Liêng siêu việt cứu độ chúng sanh thoát khỏi chốn trần ai tội lỗi mà loài người còn phải chịu đày đọa vay vay, trả trả dưới phép nhơn quả luân hồi. Nếu người giữ Ðạo biết trọn tuân Luật lệ, thực hành y theo Luật Pháp Chơn Truyền là ung dung tiến bước trên con đường Chánh đạo, nhược bằng hành vi ra ngoài Luật Pháp thì phải bị sự lôi cuốn của vật chất, người hành Ðạo như thế đã xa Chơn Truyền Chánh giáo và sa vào Bàn Môn Tả Ðạo rồi vậy.

Người giữ Ðạo mà tuân y theo Luật Pháp ví như người thợ hành nghề có mực thước. Thợ không mực thước thì chẳng tạo nên vật dụng trang hoàng. Còn người Ðạo chẳng giữ gìn khuôn viên Luật Pháp Chơn Truyền của Ðạo thì không đắc vị Thần, Thánh, Tiên, Phật nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, mà trái lại còn sa đọa vào đường tội lỗi muôn năm ngàn kiếp trong phép Luân Hồi.

 

TÂN LUẬT

CHƯƠNG II : Về người giữ Ðạo

Ðiều thứ chín: Muốn xin nhập môn phải có 2 người đạo đức tiến dẫn đến người làm đầu trong họ. Hai người tiến dẫn phải lo lắng chỉ biểu và dìu dắt người mới cho hiểu biết đạo lý.

Ðiều thứ mười: Mỗi Thánh Thất từ đây phải lập minh thệ. Còn ai mới vô Ðạo, nội ngày đem tên vào sổ, phải ra đứng giữa Ðại điện thề liền.

Buộc phải thuộc kinh và thông hiểu Luật Pháp của Ðại Ðạo truyền ra.

Ðiều thứ mười một: Người làm đầu trong Họ, hay là Chức Sắc thay mặt cho mình phải đến làm lễ cúng khai Ðàn trấn Thần an vị cho người mới vào Ðạo.

Ðiều thứ mười hai: Nhập môn rồi gọi là Tín Ðồ. Trong hàng Tín Ðồ có hai bực:

1. Một bực còn ở Thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ hoặc 6 hoặc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giái Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Ðại Ðạo truyền bá. Bực nầy gọi là người giữ Ðạo mà thôi; vào phẩm Hạ Thừa.

2. Một bực đã giữ trường trai, giái sát và Tứ Ðại Ðiều Qui, gọi là vào phẩm Thượng Thừa.

Ðiều thứ mười ba: Trong hàng Hạ Thừa, ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên, được thọ truyền Bửu pháp, vào Tịnh Thất có người chỉ luyện Ðạo.

CHƯƠNG III: Về việc lập họ Ðạo.

Từ điều thứ mười sáu đến điều thứ hai mươi.

CHƯƠNG IV: Về Ngũ Giới cấm.

Ðiều thứ hai mươi mốt (từ số 1 đến số 5).

CHƯƠNG V: Về Tứ Ðại Ðiều Qui.

Ðiều hai mươi hai (từ số 1 đến số 4).

CHƯƠNG VI: Về Giáo Huấn.

Từ điều thứ hai mươi ba đến điều thứ hai mươi lăm.

CHƯƠNG VII: Về hình phạt.

Từ điều thứ hai mươi sáu đến điều thứ hai mươi tám.

CHƯƠNG VIII: Về việc ban hành Luật Pháp.

Ðiều thứ ba mươi hai.

THẾ LUẬT:

Từ điều thứ nhứt đến điều thứ hai mươi bốn.

Bàn Trị Sự cần mẫn nhắc nhở và giáo hóa trong hàng Thiện Tín phải học hành thông suốt Tân Luật, nhứt là phần Thế Luật đặng làm phép hằng tâm mà tu học, trau giồi cho xứng phận là Môn đồ của Ðức Chí Tôn.

 

HỒ SƠ KIỆN TỤNG

Người đồng Ðạo phải nhìn nhau như con một Cha, Anh Em một nhà. Nếu có sự kiện tụng xảy ra là điều bất đắc dĩ mà thôi.

Người tiên cáo phải nộp cáo trạng tường trình sự việc rõ ràng, có nhân chứng nhìn nhận. Nộp cho Trưởng Thập Nhị Gia sở tại, Trưởng Thập Nhị Gia quan soát minh bạch, mời hai bên tiên và bị cáo đến khuyên nhủ, lập vi bằng hòa giải cho đôi đàng được thấu triệt ai là phải, ai là trái, đặng thông cảm trên lẽ phải, rồi tự thuận cùng nhau.

Thoảng như bất hòa vì lẽ đôi bên ngoan cố, thì Trưởng Thập Nhị Gia lập tờ phúc, lấy công tâm trình bày sự thật kèm nội vụ gởi đến vị Thông Sự Ấp mình định đoạt.

Vị Thông Sự khi tiếp đặng hồ sơ kiện tụng phải xem xét kỹ lưỡng tìm thêm yếu lý của sự thật trong vụ đầy đủ sẽ mời đôi bên tiên, bị cáo, nhân chứng đến lấy lời khai từng người rồi quan soát lại với hồ sơ trước coi lời lẽ thế nào? Sự phải quấy về ai, mới mở cuộc hòa giải, phải lập vi bằng hòa giải, nếu êm hòa thì lập tờ tự thuận đôi bên ký tên. Nhược bằng đôi bên còn chống báng thì Thông Sự giữ dạ vô tư lập phúc trình đến Chánh Trị Sự Ðầu Hương Ðạo giải quyết.

Ðầu Hương Ðạo phải tìm mọi lý lẽ, từng khía cạnh trong nội vụ cho có đủ bằng chứng cụ thể hoặc minh tra hay mật tra tùy trường hợp, để tìm sự thật đặng hòa giải cho đôi đàng.

Việc hòa giải phải căn cứ vào: Tân Luật, Luật Lệ xử đoán, Ðạo Nghị Ðịnh, và Pháp Chánh Truyền mà thi hành cho tròn trách nhiệm.

Việc hòa giải kiện tụng trong đường Ðạo phải giữ theo trật tự đẳng cấp như là: đến Trưởng Thập Nhị Gia, đến Thông Sự, đến Chánh Trị Sự, đến Ðầu Phận hoặc Ðầu Tộc Ðạo, đến Khâm Thành hoặc Khâm Châu Ðạo, vân vân ...

CHÚ Ý: Mỗi giấy tờ đều phải có đương sự ký tên, đề ngày tháng năm. Như tờ khai đương sự ký tên rồi người lấy lời khai cũng phải ký tên thị chứng mới hợp lệ.

 

QUYỀN SỬA TRỊ

Khi đã nhận trách nhiệm Bàn Trị Sự thì quyền giáo hóa chư Tín Ðồ trong Hương Ðạo hoặc Ấp Ðạo của mình cai quản và có quyền hòa giải những sự xích mích giữa người Bổn Ðạo.

1. Khuyên giải: Khi có người phạm lỗi nhẹ về Thế Luật hoặc thiếu hạnh kiểm, làm mất tư cách người Ðạo, làm tổn thương chung cho người đồng Ðạo, thì Bàn Trị Sự có bổn phận phải dạy khuyên cho người phạm lỗi biết ăn năn sám hối.

2. Răn phạt: Nếu vị nào chẳng biết sửa mình chừa lỗi lại còn tái phạm, thì Bàn Trị Sự có quyền răn phạt bằng quì hương, tụng Kinh Sám Hối.

3. Hòa giải: Những việc xích mích tranh tụng thường sự giữa người đồng Ðạo dầu thuộc về việc Ðời hay việc Ðạo, Bàn Trị Sự chẳng nên dễ dãi bỏ qua để mất niềm hòa khí, sanh những mầm hờn giận, ghét ganh mất tình tương thân tương ái cùng nhau.

Trong trường hợp nầy, Chức Việc Bàn Trị Sự cần mời hết cả đôi bên đến dùng lời đạo đức giải thích phép Ðời, luật Ðạo, lời thuận lẽ êm, cân phân phải quấy cho đôi bên hiểu rõ, rồi hòa giải cho được thuận hòa cùng nhau.

4. Răn trị: Người giữ Ðạo buộc phải tuân y Luật Pháp của Ðạo.

  • Luật có Tân Luật và Luật Lệ xử đoán.

  • Pháp có Pháp Chánh Truyền.

Thoảng như có vị nào phạm Luật, phạm Pháp về mấy khoản nặng mà Bàn Trị Sự hiểu biết hay do Trưởng Thập Nhị Gia phúc tờ lên thì chẳng nên yêm ẩn, mà chính mình Bàn Trị Sự phải đích thân đến tận nơi xảy ra, mở cuộc minh tra cho minh bạch hoặc mời đến Văn Phòng hạch vấn cho ra lẽ rồi phúc sự lên Lễ Sanh Ðầu Phận hay Ðầu Tộc để cho người liệu phương giáo hóa, hay là Ðầu Phận đệ tờ với nội vụ lên Khâm Thành định đoạt.

5. Kiện tụng: Khi có việc kiện tụng rắc rối đại sự, Chức Việc Bàn Trị Sự đã hết lời hòa giải mà chẳng đặng, đôi đàng vẫn cố tình tranh hơn thiệt, hoặc vì quyền lợi, hoặc vì danh thể cá nhân có ảnh hưởng đến quyền dân sự, thì chừng đó mới buộc lòng để đôi đàng kiện đến Tòa Án Quốc Gia.

Còn những vụ tranh tụng về phần Ðạo mà Bàn Trị Sự hòa giải không đặng, thì nên dùng quyền điều tra riêng với tánh cách vô tư, rồi phúc sự nội vụ lên Lễ Sanh Ðầu Phận Ðạo phân xử.

CHÚ Ý: Việc Hành Chánh Ðạo phải giữ đúng trật tự đẳng cấp: Trưởng Thập Nhị Gia chăm sóc 12 gia đình, Phó Trị Sự giáo hóa một Ấp Ðạo, Thông Sự gìn Luật Pháp một Ấp Ðạo, Chánh Trị Sự có quyền giáo hóa và sửa trị trong một Hương Ðạo./.

CHUNG

 


Kiểm duyệt ngày 5 tháng 6 năm Canh Tuất
(Dl. 7. 7.1970)
Trưởng Ban Kiểm duyệt Kinh Sách Ðạo
HIẾN PHÁP H.T.Ð.
TRƯƠNG HỮU ÐỨC
(Ấn ký)


 

 

PHỤ ÐÍNH: Tài liệu cập nhật cần tham khảo thêm từ quyển "QUAN HÔN TANG LỄ" do Hội Thánh ấn hành năm 1976.

Phụ đính 1: Tang lễ
Tang lễ của Chức Việc và Ðạo Hữu
Tang lễ của chư Ðạo Hữu giữ Lục trai
Tang lễ của chư Ðạo Hữu sa ngã và những người ngoại Ðạo muốn cầu siêu theo lễ Ðạo

Phụ đính 2: Nghi lễ
Nghi lễ cúng tế theo hàng Thần Vị
Nghi lễ cúng tế theo hàng vong thường

Phụ đính 3:
Bài Thài hiến lễ hàng Thiên Thần
Bài Thài hiến lễ hàng vong thường

Phụ đính 4:
Thọ tang

Các phần Phụ đính kể trên do chúng tôi kèm thêm vào để quí Chức Việc tiện tham khảo hầu cập nhật hóa phần "Lễ Nghi" cho đúng theo quyển "QUAN HÔN TANG LỄ" mà Hội Thánh đã ban hành sau này (1976). TT/NSW kính cáo.
Xin quý Chức Việc Bàn Trị Sự tham khảo quyển QUAN HÔN TANG LỄ
của Hội Thánh ấn hành năm 1976.

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 


 

MỤC LỤC

Lời nói đầu

Huấn-Dụ của Ngài Ngọc Chánh Phối-Sư

Huấn-Từ của Ðức Thượng-Sanh

HÀNH CHÁNH ĐẠO

Bổn phận Chức-việc B.T.S. đối với H.T.
Bổn phận Chức-việc B.T.S. đối với Bổn-Ðạo
Quyền hành và Luật công cử của Chức-việc Bàn-Trị-Sự
Vi bằng công cử (mẫu)
Tờ cử (mẫu)

LỄ NGHI TẾ TỰ

Nghi-lễ lập đàn cầu bịnh
Hành lễ cầu hồn khi hấp-hối
Hành lễ cầu hồn khi chết rồi (Phần hành lễ cúng tế cầu siêu, Hành lễ phát hành an táng, Tuần cửu, Tiểu và Ðại-Tường)
Phần hôn nhơn

LUẬT PHÁP ĐẠO

Luật-pháp Chơn-Truyền
Tân-Luật chương II, III, IV, V, VI, VII, VIII.
Hồ-sơ kiện tụng
Quyền sửa trị

PHỤ ÐÍNH: Tài liệu cập nhật cần tham khảo thêm từ quyển "QUAN HÔN TANG LỄ" do Hội Thánh ấn hành năm 1976.

Phụ đính 1: Tang lễ
Tang lễ của Chức Việc và Ðạo Hữu
Tang lễ của chư Ðạo Hữu giữ Lục trai
Tang lễ của chư Ðạo Hữu sa ngã và những người ngoại Ðạo muốn cầu siêu theo lễ Ðạo

Phụ đính 2: Nghi lễ
Nghi lễ cúng tế theo hàng Thần Vị
Nghi lễ cúng tế theo hàng vong thường

Phụ đính 3:
Bài Thài hiến lễ hàng Thiên Thần
Bài Thài hiến lễ hàng vong thường

Phụ đính 4:
Thọ tang

Các phần Phụ đính kể trên do chúng tôi kèm thêm vào để quí Chức Việc tiện tham khảo hầu cập nhật hóa phần "Lễ Nghi" cho đúng theo quyển "QUAN HÔN TANG LỄ" mà Hội Thánh đã ban hành sau này (1976).  TT/NSW kính cáo.
Xin quý Chức Việc Bàn Trị Sự tham khảo quyển QUAN HÔN TANG LỄ
của Hội Thánh ấn hành năm 1976.


Ấn hành năm Canh Tuất 1970
In tại nhà in Lê Thành Long Hoa.
Kiểm duyệt ngày 05 tháng 06 năm Canh Tuất
(dl. 07-07-1970)
Trưởng Ban Kiểm Duyệt Kinh Sách Ðạo
HIẾN PHÁP H.T.Ð.
TRƯƠNG HỮU ÐỨC
(Ấn Ký)


 

 

[ THƯ MỤC 1 ]

Ấn bản: 01-2014

HẠNH ÐƯỜNG
TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN CHỨC VIỆC BÀN TRỊ SỰ
NAM NỮ (Khóa CANH TUẤT 1970)

DOWNLOAD
E-book-PDF

Tài liệu kính biếu.
Thánh Thất New South Wales thực hiện.
Thư từ đóng góp ý kiến. Xin liên lạc: THÁNH THẤT N.S.W.
114-118 King Georges Road  WILEY PARK NSW 2195 - AUSTRALIA