Giải Nghĩa KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO

 







義 

 

撰 者: 賢 才 阮 文 洪

 

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH

 

GIẢI NGHĨA

KINH
THIÊN-ĐẠO VÀ THẾ-ĐẠO

 

Soạn giả:
Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng

Xuất bản lần thứ nhứt
Tại Hoa Kỳ Năm 2000

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

Giới thiệu:

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
(Năm Ðạo thứ 66)
TÒA THÁNH TÂY NINH

 

Tôi hân hạnh được đọc bản thảo "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" của Hiền Tài Nguyễn văn Hồng. Thật là một kỳ công tra cứu sưu tầm.

Lời Chí Tôn dạy: "Giáo hóa nhơn sanh cầu Triết lý" và Cổ nhơn có câu: "Ðọc kinh cầu lý".

Thật vậy, khi giờ cúng tại Tòa Thánh hay tại Thánh Thất, tiếng kinh hòa cùng giọng đờn, nếu chúng ta biết nghĩa lý kinh, luồng tư tưởng phóng ra để dâng lên Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, thì sự cúng mới thấy cảm ứng, đúng với câu của Thất Nương: "Lễ bái thường hành tâm Ðạo khởi".

Ðây là ít lời thô thiển của tôi, xin giới thiệu cùng Ðạo đồng.

Tây Ninh, ngày 6 tháng 7 năm Tân Mùi.
(dl 15-8-1991)

CHÁNH CÔNG
(Hữu Phan Quân LÊ VĂN THOẠI)

 


 

TRI ÂN

Thành kính tri ân:

• Quí Chức Sắc:

Cửu Trùng Ðài,
Hiệp Thiên Ðài và
Cơ Quan Phước Thiện,

• Quí Huynh Tỷ và Quí Thân hữu,

 

đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu để soạn giả bổ túc và sửa chữa, tạm hoàn thành quyển sách "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" nầy.

Ước mong Quí Chức Sắc, Quí Huynh Tỷ tiếp tục chiếu cố, đóng góp thêm ý kiến để chỉnh đốn quyển sách nầy cho được hoàn hảo, tạo thành một công trình chung, hầu sau nầy hiến dâng bản quyền cho Hội Thánh xử dụng. Ðó là tâm nguyện của soạn giả.

Nay kính.

Hiền Tài Nguyễn văn Hồng

 


 

Giới thiệu:

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH

 

"Tạo chúc cầu minh, đọc kinh cầu lý".

Nhờ ánh sáng ngọn đuốc rọi đường dẫn bước đi vững chắc. Ðọc kinh sách cần rõ thấu lý nghĩa cao siêu thấm nhuần trong tâm hồn thanh khiết diệu mầu, khi tụng đọc thể hiện bên ngoài mới tạo được luồng tư tưởng kính tin hiệp hòa từng tiếng kinh nhịp nhàng bên trong dâng lên khi chầu lễ.

Ðược vậy là mình đã có biết và cảm, tức nhiên thấu đáo "Chín từng Trời Ðất thông truyền chứng tri.". Ðương nhiên, luồng tư tưởng và tâm ta mới tiếp nhận sự ứng của Ơn Trên ban cho, bởi có CẢM mới có ỨNG, sự tu hành mới đoạt thành quả vị, mới hưởng được Bí Pháp huyền vi.

Quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" do Hiền Tài Nguyễn văn Hồng soạn thảo, rất dày công sưu tầm vào những kinh sách Tam Giáo roi truyền, tra cứu điển tích và các bộ Từ điển, có thể giúp ích độc giả hiểu biết thêm về ý nghĩa lời kinh trong khi tụng đọc, hầu chờ đợi sau nầy, quí Chức Sắc Ðại Thiên Phong, bậc đàn anh chị lớn chúng ta bổ cứu, dạy bảo chúng ta thêm những yếu lý cao siêu nhiệm mầu trong khi chúng ta còn quá nghèo nàn về vốn hiểu biết trong Ðạo học.

Ðôi dòng thô thiển chân thành giới thiệu quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" nầy cùng Quí Huynh, Tỷ, Ðệ, Muội, môn sinh của Ðấng Cao Ðài Thượng Ðế.

Giáo Hữu NGỌC PHÒ THANH

 


 

 

Lời Cầu Nguyện

Thành tâm cầu nguyện

Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu,
Tam Tông Chơn Giáo, Tam Trấn Oai Nghiêm,
Ðức Quyền Giáo Tông, Ðức Phạm Hộ Pháp,
và Các Ðấng Thiêng Liêng :

Con xin dâng lên Thân phụ và Thân mẫu của con phần công đức do con lập được trong việc biên soạn quyển "Giải nghĩa Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo", để cầu cho linh hồn Thân phụ và Thân mẫu con được siêu thăng, an nhàn nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Hiền Tài Nguyễn văn Hồng
kính bái

 


 

THAY LỜI TỰA
Trình bày tổng quát

Ðọc suốt các bài Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo của Ðạo Cao Ðài, chúng ta nhận thấy các Bài Kinh nầy có thể được phân làm 2 nhóm theo 2 khuynh hướng Triết lý khác nhau:

* Khuynh hướng Triết lý thứ nhứt:

Ðóng cửa Ðịa Ngục và mở cửa các từng Trời.

Ðiển hình là 2 Bài Kinh: Phật Mẫu Chơn Kinh (PMCK) và Kinh Giải Oan (KGO), với các câu:

Vô Ðịa Ngục, vô quỉ quan,
Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.

(PMCK)

Ðóng Ðịa Ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.

(KGO)

Khuynh hướng Triết lý nầy thể hiện rõ ÐÐTKPÐ là thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn trong buổi cuối Hạ Nguơn Tam Chuyển bước qua Thượng Nguơn Tứ Chuyển.

Ðức Chí Tôn đã ra lịnh đóng cửa Ðịa Ngục, giải phóng tất cả các tội hồn để cho họ chuyển kiếp luân hồi, trả cho xong hết các oan khiên nghiệp chướng, đồng thời lo việc tu hành, để được Ðức Chí Tôn cứu vớt, và Ðức Chí Tôn cũng ra lịnh mở cửa Cực Lạc Thế Giới để rước những Chơn linh có đầy đủ công đức đắc đạo trở về.

* Khuynh hướng Triết lý thứ nhì:

Vẫn còn cảnh Ðịa Ngục và Thập Ðiện Diêm Vương với các hình phạt nặng nề trừng trị các tội hồn đã gây ra nhiều lỗi lầm trong kiếp sanh nơi cõi trần. Các hình phạt nặng nề nơi cõi Ðịa Ngục đó là: Nấu dầu, xay, cưa, đốt, giã, bào lạc, rắn ăn thịt, mổ bụng moi tim, móc mắt, ...

Ðiển hình là 2 Bài Kinh: Kinh Sám Hối (KSH) và Giới Tâm Kinh (GTK), với các câu:

Con bất hiếu, xay, cưa, đốt, giã,
Mổ bụng ra phanh rã tim gan.

(KSH)

Nơi Ðịa Ngục gông cùm sẵn đủ,
Ðể răn loài dâm phụ gian phu.

(GTK)

Khuynh hướng Triết lý thứ nhì nầy thể hiện rõ Giáo lý của Phật giáo và của Thiên Chúa giáo thuộc thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, tức là thời kỳ trước khi mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ (tức Ðạo Cao Ðài) vào năm Bính Dần (1926).

Nhóm nầy gồm 4 Bài Kinh:

  • Kinh Cầu Siêu

  • Kinh Sám Hối

  • Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối

  • Giới Tâm Kinh.

Bốn bài Kinh nầy do các Ðấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho Chi Minh Lý và Minh Tân, là 2 Chi trong Ngũ Chi Minh Ðạo của Việt Nam, rồi khi mở Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn dạy Hội Thánh đến 2 Chi Minh Lý và Minh Tân, thỉnh 4 bài Kinh ấy về làm Kinh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Mặt khác, từ trước đến nay, Hội Thánh chưa có ban hành sách vở hay tài liệu giải thích tất cả các bài Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo, mà chỉ có một vài tài liệu giải thích tổng quát một số ít bài Kinh mà thôi, xin kể ra:

- Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (có Chú giải) của 2 vị Ðầu Sư: Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, có biên chữ Hán kèm theo và có chú giải các bài Kinh Cúng Tứ Thời.

- Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải nghĩa Bài Phật Mẫu Chơn Kinh.

Lúc đó, chúng tôi ao ước có đặng một quyển sách giải nghĩa tất cả các bài Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo, thì việc học Ðạo bước đầu được dễ dàng biết mấy!

Và bắt đầu từ đó, chúng tôi có ý hướng sưu tầm tất cả tài liệu liên quan, rồi ra công nghiên cứu để thực hiện việc giải thích nầy.

Nhưng chúng tôi cảm thấy bản thân tài sơ trí thiển, gia công học Ðạo cũng chẳng bao lâu, lại đang ở trong hoàn cảnh khó khăn nhiều mặt, sợ không kham nổi công việc muôn vàn khó khăn nầy, nên đã hết sức cầu khẩn Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu, Ðức Lý Giáo Tông, Ðức Phạm Hộ Pháp và các Ðấng Thiêng liêng hộ trì cho được mẫn huệ trí não, sáng suốt tinh thần, vượt qua các chướng ngại để hoàn thành ý nguyện.

Chúng tôi lại còn có một điều tin tưởng nữa là cứ mạnh dạn đem hết sức mình ra thực hiện ý định, để các bậc Chức sắc tiền bối, các vị Ðạo tâm thông hiểu Ðạo lý, có một tập sách cụ thể để xem xét, phê phán những chỗ sai lầm, bổ túc những chỗ thiếu sót, bỏ bớt những chỗ dư thừa, thì trong những lần ra mắt tiếp theo, quyển sách sẽ được mỗi lúc một tốt đẹp hơn.

Chúng tôi ước mong được như thế thì Tín hữu Cao Ðài lần lần sẽ có được một tập sách hữu ích trong việc học Ðạo.

Chúng tôi cũng tâm nguyện rằng, khi tập sách nầy được sửa chữa khá hoàn hảo thì chúng tôi sẽ hiến dâng cho Hội Thánh ấn hành.

Một khi đã theo Ðạo, hiểu rõ tôn chỉ, mục đích của nền Ðạo, thì người Tín đồ sẽ không bao giờ xa Ðạo, bỏ Ðạo, hay làm một điều gì trái với luật pháp của Ðạo.

Do đó, chúng tôi đem hết sức mình ra để biên soạn quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO" nhằm 2 mục đích sau đây:

-Thứ nhứt: Lời xưa có nói: Ðọc kinh cầu lý. Nếu tụng kinh mà không hiểu được nghĩa lý của lời kinh thì sự bổ ích không nhiều, bởi vì có hiểu được ý kinh thì khi tụng niệm, tâm hồn ta mới phấn khởi, giữ trọn tâm hồn trong lời kinh tiếng kệ, mới có sự cảm ứng với các Ðấng Thiêng Liêng mà ta đang tưởng niệm đến.

- Thứ nhì: Chúng tôi sưu tập được 8 bổn kinh do Hội Thánh ấn hành vào 8 kỳ khác nhau, kể ra :

* KINH CÚNG TỨ THỜI, in năm 1928, bản quốc ngữ, nhà in Ðức Lưu Phương, Sài gòn.

* TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH (có chú giải), in năm 1928, có viết kèm thêm chữ Hán, Chữ Nôm, của 2 vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt.

* ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ KINH, không để năm in, gồm chữ Hán và chữ Nôm, không có chữ quốc ngữ, của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh.

* KINH THIÊN ÐẠO và THẾ ÐẠO, của Hội Thánh in năm 1936 (Bính Tý), nhà in Ðức Lưu Phương, Sài gòn.

* KINH LỄ, in bên Pháp năm 1952, khổ nhỏ, nhà xuất bản M. Garnier.

* KINH THIÊN ÐẠO và THẾ ÐẠO , do Hội Thánh ấn hành vào các năm: 1968, 1974, 1975.

* Riêng các bài Kinh mà các Ðấng giáng cơ ban cho Minh Lý (Minh Lý Ðạo, Tam Tông Miếu) và Hội Thánh vâng lịnh Ðức Chí Tôn thỉnh về làm Kinh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, thì chúng tôi sưu tầm được quyển "KINH NHỰT TỤNG - KINH SÁM HỐI" của Minh Lý Ðạo Tam Tông Miếu ấn hành năm Quí Sửu (1973).

Khi so sánh các bản Kinh nầy, chúng tôi nhận thấy có một vài từ ngữ trong một số câu Kinh không đồng nhứt với nhau. Do đó gây ra nhiều cuộc tranh luận giữa người nầy với người kia, là chữ nầy đúng, chữ kia sai, và họ đều đưa ra bản Kinh mà họ đang nắm giữ để làm bằng chứng. Nhưng tất cả các cuộc tranh luận ấy đều đi đến chỗ bế tắc, vì bản Kinh nào cũng đều do Hội Thánh ấn hành và đều có Ban Kiểm Duyệt của Hiệp Thiên Ðài ấn ký. Chẳng lẽ những chữ khác biệt ấy đều đúng cả hay sao? Lỗi nầy do sự sắp chữ sai của nhà in hay do ai sửa đổi? Còn bản Kinh gốc đúng nhứt là bản nào? Không một ai biết được.

Ðể tạm thời giải tỏa vấn đề nầy, chúng tôi đưa ra phần "KHẢO DỊ" liệt kê ra hết những chữ dị biệt giữa các câu kinh trong các bản Kinh, để rộng đường khảo luận của các học giả, và cũng để giúp tài liệu cho việc nghiên cứu sau nầy của Khảo Cứu Vụ của Hội Thánh, sẽ xác nhận chữ nào đúng nhứt, để dùng thống nhứt cho toàn đạo.

Ðể bổ cứu 2 mục tiêu trên, chúng tôi phụ đính thêm phần chữ Hán cho các bài Kinh Hán Việt sau đây:

  • Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

  • Kinh Phật giáo.

  • Kinh Tiên giáo.

  • Kinh Nho giáo.

  • Bài Dâng Rượu, Dâng Trà.

  • Ngũ Nguyện.

  • Phật Mẫu Chơn Kinh.

Phần viết chữ Hán kèm theo các bài Kinh Hán Việt kể trên, chúng tôi căn cứ phần chánh vào bản Kinh Hán văn in trong quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH" xuất bản năm 1928 của 2 vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, có sự phối hợp đối chiếu bản Kinh Hán văn in trong quyển "ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ KINH" của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh, có lẽ in vào năm 1928 hoặc 1929.

Khi biên soạn quyển "GIẢI NGHĨA KINH THIÊN ÐẠO & THẾ ÐẠO", chúng tôi chỉ mong muốn giúp các Bạn học Ðạo một phương tiện để tìm hiểu ý nghĩa của các câu Kinh căn cứ theo từ ngữ, trong cái học Hạ Thừa, còn phần ý nghĩa siêu việt của câu Kinh, vượt khỏi văn tự mà các Ðấng muốn đặt vào đó, thuộc về phần học Thượng Thừa, chúng tôi chưa đủ trình độ đạt tới.

Chúng tôi mong mỏi được quí Chức sắc, các bậc Ðạo tâm, chỉ giáo thêm cho chúng tôi, thì đó là một ơn huệ lớn lao dành cho soạn giả vậy.

Kính.

Soạn giả:
Hiền Tài Nguyễn văn Hồng

 


 

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
(Sắp theo thứ tự A B C)

 

B BDH Bài Dâng Hoa.
  BDR Bài Dâng Rượu.
  BDT Bài Dâng Trà.
  BÐNÐ Bát Ðạo Nghị Ðịnh.
  BKNKSH Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối.
  BXTCÐPTTT Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần
  BQÐ Bát Quái Ðài
C CGPCT Chú Giải Pháp Chánh Truyền.
  CKTG Càn Khôn Thế giới.
  CKVT Càn Khôn Vũ Trụ.
  CKVV Càn Khôn Vạn vật.
  CLTG Cực Lạc Thế giới.
  CTÐ Cửu Trùng Ðài.
  CQPT Cơ Quan Phước Thiện.
D DLCK Di Lạc Chơn Kinh.
  DTC Diêu Trì Cung.
Ð ÐÐTKPÐ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
  ÐLMD Ðạo Luật năm Mậu Dần (1938).
G GTK Giới Tâm Kinh.
H HTÐ Hiệp Thiên Ðài.
K KCBCTBCHÐQL Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Ðã Qui Liễu.
  KCHKHH Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối.
  KCK Kinh Cứu Khổ.
  KCS Kinh Cầu Siêu.
  KCTPÐQL Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu.
  KÐLC Kinh Ðưa Linh Cửu.
  KÐ1C Kinh Ðệ Nhứt cửu.
  KÐ2C Kinh Ðệ Nhị cửu.
  KÐ3C Kinh Ðệ Tam cửu
  KÐ4C Kinh Ðệ Tứ cửu.
  KÐ5C Kinh Ðệ Ngũ cửu.
  KÐ6C Kinh Ðệ Lục cửu.
  KÐ7C Kinh Ðệ Thất cửu.
  KÐ8C Kinh Ðệ Bát cửu.
  KÐ9C Kinh Ðệ Cửu cửu.
  KÐRÐ Kinh Ði Ra Ðường.
  KÐT Kinh Ðại Tường.
  KGO Kinh Giải Oan.
  KHH Kinh Hạ Huyệt.
  KHP Kinh Hôn Phối.
  KK Khai Kinh.
  KKĂCR Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.
  KKCÐTTT Kinh Khai Cửu Ðại Tường Tiểu Tường.
  KKÐCR Kinh Khi Ðã Chết Rồi.
  KKÐN Kinh Khi Ði Ngủ.
  KKTD Kinh Khi Thức Dậy.
  KKV Kinh Khi Về.
  KNH Kinh Nhập Hội.
  KNHTÐ Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
  KSH Kinh Sám Hối.
  KTCMÐQL Kinh Tụng Cha Mẹ Ðã Qui Liễu.
  KTÐTÐ Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo.
  KTHÐMP Kinh Tụng Huynh Ðệ Mãn Phần.
  KTKCQV Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị.
  KTKTQV Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị.
  KTKVQL Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu.
  KTKVTH Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà.
  KTL Kinh Tẫn Liệm.
  KTP Kinh Thuyết Pháp.
  KTT Kinh Tắm Thánh.
  KTTg Kinh Tiểu Tường.
  KVĂC Kinh Vào Ăn Cơm.
  KVH Kinh Vào Học.
  KXH Kinh Xuất Hội.
N NG Nho Giáo, Kinh Nho Giáo.
  NH Niệm Hương.
  NN Ngũ Nguyện.
  NTTP Nữ Trung Tùng Phận.
P PCT Pháp Chánh Truyền.
  PG Phật Giáo (Kinh Phật Giáo).
  PMCK Phật Mẫu Chơn Kinh.
T Td Thí dụ.
  TÐ.ÐPHP Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp.
  TG Tiên Giáo, Kinh Tiên Giáo.
  TKPÐ Tam Kỳ Phổ Ðộ.
  TL Thiêng liêng.
  TLHS Thiêng Liêng Hằng Sống.
  TNHT Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
  TNHT.II.36 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển II, trang 36.
  TTCÐDTKM Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu.
  TTTN Tòa Thánh Tây Ninh.
V VSTC Vãng Sanh Thần Chú.

 


 

Phần thứ nhứt:
GIẢI NGHĨA Kinh Thiên Ðạo

 

Kinh Cúng Tứ Thời

NIỆM HƯƠNG

(Giọng Nam ai)

 


 

GIẢI NGHĨA

Phần I: Giải nghĩa các từ ngữ tổng quát:

Kinh: Bài văn, bài thơ do các Ðấng Phật, Tiên, Thánh viết ra để xưng tụng công đức, mô tả nhiệm vụ của các Ðấng TL, hoặc để dạy đạo đức cho nhơn sanh và để cầu nguyện.

Tân Kinh: Kinh mới (Tân là mới), tức là Kinh thuộc Tam Kỳ Phổ Ðộ. Cũng như Tân Luật là Luật mới về tu hành của TKPÐ. Còn Kinh và Luật của thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ được gọi là Cựu Kinh, Cựu Luật. (Cựu là cũ, trái với Tân là mới).

Vậy, Tân Kinh là Kinh của ÐÐTKPÐ, tức là Kinh của Ðạo Cao Ðài. Kinh nầy gồm: Kinh Thiên Ðạo và Kinh Thế Ðạo.

Thiên Ðạo: Ðạo Trời, tức là con đường tu với mục đích cuối cùng là giải thoát khỏi luân hồi, để linh hồn trở về hiệp nhứt với Trời, tức là hiệp với Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.

Con đường tu Thiên Ðạo dành cho bực Thượng thừa quyết chí tu hành, phế đời hành Ðạo, nghiêm giữ giới luật tu hành, thực hành Tam Lập: Lập Ðức, Lập Công, Lập Ngôn.

Trước khi bước vào Thiên Ðạo, người tu phải trải qua bực Hạ thừa tu phần Nhơn Ðạo.

Nhơn Ðạo là Ðạo làm Người, là đường lối dạy con người phải làm tròn bổn phận của một người đối với gia đình, gồm cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái; đối với thân tộc, bạn bè; và sau cùng là bổn phận đối với quốc gia xã hội.

Thế Ðạo: Ðạo ở đời (Thế là đời), tức là đường lối dạy con người bổn phận làm một người ở đời thế nào cho hợp với Ðạo lý, lẽ phải. Ðó chính là Nhơn Ðạo.

Thế Ðạo, tức là Nhơn Ðạo, ví như nền móng; Thiên Ðạo ví như nhà lầu. Không đào móng đúc nền cho vững chắc thì cất nhà lầu lên ắt sụp đổ. Cho nên, phải tu xong Nhơn Ðạo thì mới có thể tiến lên tu Thiên Ðạo được.

Cúng: Ðốt nhang, dâng lễ vật, cầu nguyện và lạy để tỏ lòng thành kính.

Tứ Thời: 4 điểm thời gian trong một ngày vào các giờ: 0 giờ (tức 12 giờ khuya) thuộc giờ Tý, 6 giờ sáng thuộc giờ Mẹo, 12 giờ trưa thuộc giờ Ngọ, và 18 giờ (tức 6 giờ chiều) thuộc giờ Dậu.

Nghi lễ của Ðạo Cao Ðài dạy các tín đồ cúng Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng vào Tứ thời kể trên, bởi vì vào 4 thời điểm nầy, khí Dương và khí Âm trong CKVT có sự biến đổi tương đối đặc biệt:

▪ Lúc 0 giờ, thời Tý: Khí Âm cực thạnh, khí Dương khởi sanh.

▪ Lúc 6 giờ và 18 giờ, thời Mẹo và thời Dậu: Hai khí Dương và Âm giao hòa cân bằng nhau.

▪ Lúc 12 giờ trưa, thời Ngọ: Khí Dương cực thạnh, khí Âm khởi sanh.

▪ Thời Tý và thời Ngọ: Cúng Rượu (Rượu trắng).

▪ Thời Mẹo và thời Dậu: Cúng nước Âm Dương, tức là cúng nước trà và nước trắng thiên nhiên.

Kinh Cúng Tứ Thời: là các bài kinh để tụng cúng Ðức Chí Tôn và 3 Ðấng Giáo chủ Tam giáo vào 4 thời trong một ngày.

Kinh cúng Ðức Chí Tôn vào Tứ thời tại Tòa Thánh hay tại Thánh Thất gồm 8 bài kinh kể ra sau đây:

1. Niệm Hương.

2. Khai Kinh.

3. Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

4. Kinh Phật giáo.

5. Kinh Tiên giáo.

6. Kinh Nho giáo (Thánh giáo).

7. Bài Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà.

8. Ngũ Nguyện.

Kinh cúng Ðức Phật Mẫu vào Tứ thời tại Báo Ân Từ hay tại Ðiện Thờ Phật Mẫu gồm 6 Bài Kinh, kể ra sau đây:

1. Niệm Hương.

2. Khai Kinh.

3. Phật Mẫu Chơn Kinh.

4. Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu.

5. Bài Dâng Rượu hoặc Dâng Trà.

6. Ngũ Nguyện.

Kinh Cúng Tứ Thời còn được gọi là Kinh Nhựt Tụng, (Nhựt là mỗi ngày). Kinh Nhựt Tụng là những bài kinh dùng để tụng mỗi ngày.

Những bài kinh thường được tụng theo 2 giọng: Nam xuân và Nam ai. Chỉ có 3 Bài Dâng Tam Bửu là thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung.

Giọng Nam ai: là giọng ngâm theo điệu cổ nhạc Nam ai, có tính cách buồn bã bi ai, nên nhạc đi theo nhịp chậm rãi.

Giọng Nam xuân: giọng ngâm theo điệu cổ nhạc Nam xuân, có tính cách vui tươi, nên nhạc đi theo nhịp nhanh.

Niệm Hương: Niệm là tưởng nghĩ tới, hương là mùi thơm, chỉ cây nhang đang đốt cháy tỏa mùi thơm. Niệm Hương là đốt nhang và tưởng niệm các Ðấng thiêng liêng.

 

Phần II: Nguồn gốc bài Niệm Hương:

Kinh Niệm Hương có nguồn gốc là bài Kinh chữ Hán "Phần Hương Chú" trích trong Kinh Cảm Ứng của Tiên giáo.

Vào năm Ất Sửu (1925), Ðức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ tại Minh Lý (Tam Tông Miếu) dịch bài Phần Hương Chú ra chữ Nôm ban cho Chi nầy cho dễ hiểu.

Khi mới khai ÐÐTKPÐ, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Ðạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Ðường) dâng Kinh cho ÐÐTKPÐ. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm 4 vị: Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Thượng Giáo Sư Vương quan Kỳ, Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, đến Chi Minh Lý thỉnh 6 Bài Kinh: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Bài Khen Ngợi KSH, Kinh Cầu Siêu, Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần, về làm Kinh ÐÐTKPÐ.

Sau đây, xin chép lại bài Phần Hương Chú:

PHẦN HƯƠNG CHÚ

焚 香 咒

Ðạo do tâm hiệp

道 由 心 合

Tâm giả hương truyền.

心 假 香 傳

Hương phần ngọc lư

香 焚 玉 爐

Tâm chú Tiên nguyện.

心 注 仙 願

Chơn linh hạ giáng.

眞 靈 下 降

Tiên bội lâm hiên.

仙 珮 鄰 軒

Kim thần quan cáo

今 臣 關 告

Kính đạt Cửu Thiên.

逕 達 九 天

Sở khải sở nguyện

所 啟 所 願

Hàm tứ như nghiên. (ngôn)

咸 賜 如 言

Dịch nghĩa:
Bài Cầu Nguyện đốt nhang.

- Ðạo là do cái Tâm hợp lại,
- Cái Tâm mượn mùi thơm của nhang để truyền đi.
- Ðốt nhang tỏa mùi thơm nơi cái lư quí báu,
- Cái Tâm hướng đến các vị Tiên để cầu nguyện.
- Chơn linh của các Ðấng giáng xuống,
- Các vị Tiên ngồi trên xe đi đến.
- Ngày nay kẻ bề tôi cần tấu trình.
- Mau chóng thẳng đến Chín từng Trời.
- Ðiều quan trọng mà mình muốn tỏ bày và mong ước,
- Ðều ban cho ơn huệ như lời cầu khẩn.

Bài Phần Hương Chú của Tiên giáo để cúng các vị Tiên, được Ðức Nam Cực Chưởng Giáo diễn nôm một cách thoát ý tài tình, thành bài kinh cúng Ba Ðấng Giáo chủ Tam giáo nơi Tam Tông Miếu của Minh Lý Ðạo, và cuối cùng được thỉnh về làm kinh của Ðạo Cao Ðài cúng Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và Ba Ðấng Giáo chủ Tam giáo.

Do đó, ý nghĩa của bài kinh nầy được thăng hoa đến tột đỉnh vì được dùng để cúng Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.

 

Phần III: Giải nghĩa Kinh Niệm Hương

Câu 1:

Ðạo gốc bởi lòng thành tín hiệp.

Ðạo: "Ðạo là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Ðạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Ðạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Ðạo, nghĩa lý rất sâu xa, nhưng phải hiểu trước bao nhiêu đó rồi mới học các nghĩa huyền bí khác cho đích xác đặng." (TNHT.II.3). Do đó, nghĩa thông thường của Ðạo là tôn giáo. Thành: Thành thật.

Tín: Tin, tin có Thượng Ðế, tin có Thần, Thánh, Tiên, Phật, tin mỗi người đều có linh hồn bất tiêu bất diệt, tin linh hồn là điểm Linh quang do Thượng Ðế ban cho mỗi người để tạo nên sự sống và gìn giữ sự sống.

Tín chính là đức tin rất cần thiết cho người theo Ðạo.

Hiệp: Hợp lại. Lòng thành: Cái tâm chơn thật.

C.1: Người theo đạo, cốt yếu phải có một tấm lòng thành thật và một đức tin mạnh mẽ, có dủ 2 yếu tố ấy hợp lại mới vững bước trên đường đạo.

Câu 2:

Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra.

Lòng: Cái tâm của con người. Nương: Dựa vào.

C.2: Tư tưởng nơi tâm nương theo khói nhang truyền lên Trời cao.

Câu 3:

Mùi hương lư ngọc bay xa.

Mùi hương: Mùi thơm của khói nhang tỏa ra, ý nói những tư tưởng hay ý nghĩ trong sạch tốt đẹp của cái Tâm phát ra. Lư: Dụng cụ đặt trên bàn thờ dùng để đốt trầm hay để đốt nhang cắm vào; đốt trầm thì gọi là Lư trầm, đốt nhang thì gọi là Lư hương. Ngọc: Loài đá quí, chỉ sự quí báu. Lư ngọc: Cái lư bằng ngọc, chỉ cái Tâm quí báu của con người.

C.3: Tư tưởng, ý nghĩ trong sạch tốt đẹp phát ra từ cái Tâm quí báu bay lên truyền đến các cõi Trời xa.

Câu 4:

Kính thành cầu nguyện Tiên Gia chứng lòng.

Kính: Kính trọng. Thành: Thành thật. Cầu: Xin. Nguyện: Mong ước. Cầu nguyện là cầu xin các Ðấng thiêng liêng ban cho điều mà mình mong ước. Tiên Gia: Tiên là ông Tiên, Gia là Cha. Tiên Gia là Ông Cha Tiên, đó là Ðại Từ Phụ, Ðấng Cha chung thiêng liêng của toàn cả vạn linh sanh chúng trong CKVT, mà ta thường gọi là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

C.4: Tấm lòng tôn kính và thành thật cầu nguyện thì Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ sẽ chứng cho mình.

Câu 5-6:

Xin Thần Thánh ruổi dong cỡi hạc,
Xuống phàm trần vội gác xe Tiên.

Ruổi dong: Ði thẳng một mạch cho mau tới nơi. Hạc: Giống chim lớn, chân cao, cổ dài, lông trắng, bay nhanh, dáng thanh nhã, sống đến ngàn năm, thường được các vị Tiên dùng để cỡi bay đi. Phàm: Tầm thường thấp kém. Trần: Bụi bặm. Phàm trần là chỉ cõi thế gian, cõi đời, cõi của nhơn loại đang sống, vì cõi nầy thấp kém có nhiều bụi bặm ô trược.

Gác: Ðặt ngang lên trên. Xe Tiên: Chiếc xe mầu nhiệm nơi cõi thiêng liêng, cũng gọi là Xe Như Ý, dùng để chở các vị Tiên đi lại. Người ngồi trên xe muốn đi đến đâu thì chiếc xe Tiên hay xe Như Ý chở ngay đến đó tức khắc. Gác xe Tiên: Ngồi lên chiếc xe Tiên.

Câu 5-6: Xin các Ðấng Thần Thánh cỡi hạc hoặc đi trên chiếc xe Tiên dong ruổi xuống cõi thế gian.

Câu 7:

Ngày nay đệ tử khẩn nguyền.

Ðệ tử: Học trò. Học trò đối với Thầy thì xưng mình là đệ tử. Ðức Chí Tôn tự xưng là Thầy, và gọi các con đang học đạo là môn đệ hay đệ tử.

Khẩn: Tha thiết. Nguyền: Mong mỏi cầu xin. Khẩn nguyền: Tha thiết cầu xin điều mình mong ước.

C.7: Ngày nay, chúng con là học trò của Thầy, xin tha thiết cầu nguyện.

Câu 8:

Chín từng Trời, Ðất thông truyền chứng tri.

Chín từng Trời: Chữ Hán gọi là Cửu Trùng Thiên. Chín từng Trời nầy có tên theo đúng 9 bài Kinh Tuần Cửu, kể từ thấp dần lên cao là:

  1. Từng Trời thứ nhứt có Vườn Ngạn Uyển.

  2. Từng Trời thứ nhì có Vườn Ðào Tiên của Phật Mẫu.

  3. Từng Trời thứ ba gọi là Thanh Thiên.

  4. Từng Trời thứ tư gọi là Huỳnh Thiên.

  5. Từng Trời thứ năm gọi là Xích Thiên.

  6. Từng Trời thứ sáu gọi là Kim Thiên.

  7. Từng Trời thứ bảy gọi là Hạo Nhiên Thiên.

  8. Từng Trời thứ tám gọi là Phi Tưởng Thiên.

  9. Từng Trời thứ chín gọi là Tạo Hóa Thiên.

CHÚ Ý:

Có một số vị cho rằng: Vườn Ngạn Uyển và Vườn Ðào Tiên không ở trên 2 từng Trời thứ nhứt và thứ nhì, mà từng Trời thứ nhứt là Thanh Thiên trong bài Kinh Ðệ Tam Cửu; từng Trời thứ hai là Huỳnh Thiên, vv..., từng Trời thứ 7 là Tạo Hóa Thiên, từng Trời thứ 8 là Hư Vô Thiên, bỏ từng Trời Hội Nguơn Thiên, và từng Trời thứ 9 là Hỗn Nguơn Thiên, và gọi đó là Cửu Trùng Thiên.

Ðiều nầy hoàn toàn không đúng, vì 3 lý do sau đây:

1. Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải nghĩa bài Kinh Phật Mẫu tại Cửu Long Ðài ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947) có nói rõ rằng: "Từng Trời thứ 9 gọi là Cung Tạo Hóa Thiên, có vị cầm quyền tạo đoan gọi là Thiên Hậu." (TÐ.ÐPHP.Q1. 64)

2. Bài Thài hiến lễ Ðức Phật Mẫu trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung có 4 câu khoán thủ là: Cửu Thiên Huyền Nữ, nghĩa là: Cửu là thứ 9, Thiên là từng Trời, Huyền là huyền diệu, Nữ là người phụ nữ. Cửu Thiên Huyền Nữ là người phụ nữ huyền diệu ở từng Trời thứ 9. Ðó là Ðức Phật Mẫu. Ðiều nầy một lần nữa chứng tỏ Tạo Hóa Thiên là từng Trời thứ 9.

3. Nghi thức Tang lễ trong Ðạo Cao Ðài đối với các Chức sắc Ðại Thiên Phong hàng Tiên vị như Ðầu Sư, Thập nhị Thời Quân đổ lên, khi đăng Tiên, thể xác được liệm vào liên đài. "Liên đài được quàn tại biệt điện của mỗi vị một đêm, Báo Ân Từ một đêm, Ðền Thánh một đêm, và Cửu Trùng Thiên một đêm. Hội Thánh sẽ cử hành Lễ Tiểu Tường, Ðại Tường, kỷ niệm hằng năm và xây bửu tháp. Không có làm Tuần Cửu và hành pháp độ thăng." (Trích trong quyển Quan Hôn Tang Lễ năm 1976 của Hội Thánh).

Chúng ta lưu ý trong nghi thức tế lễ nầy, liên đài được đặt trên Cửu Trùng Thiên tại Ðại Ðồng Xã, không làm Tuần Cửu, chỉ làm Tiểu Tường, Ðại Tường, không hành pháp Ðộ Thăng.

Ðiều đó cho chúng ta hiểu rằng: Chức sắc hàng Tiên vị đổ lên có đủ công đức để vượt lên khỏi Cửu Trùng Thiên (mới được ngồi trên Cửu Trùng Thiên) mà không cần nhờ làm Tuần Cửu hay Phép Ðộ thăng.

Hội Thánh chỉ làm lễ Tiểu Tường, mà bài Kinh Tiểu Tường là để đưa chơn hồn lên từng Trời Hư Vô Thiên. Vậy Hư Vô Thiên phải ở bên trên Cửu Trùng Thiên, chớ không thể ở trong Cửu Trùng Thiên được, và đó chính là từng Trời thứ 10.

Qua sự trình bày 3 lý do vừa kể trên, chúng ta đi đến kết luận là: Tạo Hóa Thiên là từng Trời thứ 9 nằm trong Cửu Trùng Thiên, và Hư Vô Thiên là từng Trời thứ 10 nằm bên trên Cửu Trùng Thiên. Theo đó thì Hội Nguơn Thiên là từng Trời thứ 11, và Hỗn Nguơn Thiên là từng Trời thứ 12.

Ba từng Trời bên trên (Hư Vô Thiên, Hội Nguơn Thiên, Hỗn Nguơn Thiên) hợp với 9 từng Trời (Cửu Trùng Thiên) bên dưới tạo thành 12 từng Trời, gọi là Thập nhị Thiên.

Trở lại giải thích các từ ngữ trong Câu kinh 8:

Ðất: Chỉ các quả Ðịa cầu, ý nói Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu). Thông: Suốt tới khắp nơi. Thông truyền: Truyền đi khắp nơi. Chứng: Nhận thực. Tri: Biết. Chứng tri là nhận thực có biết rõ.

C.8: Lời khẩn nguyền của đệ tử sẽ được truyền đi suốt đến 9 từng Trời và đến các quả Ðịa cầu để các Ðấng thiêng liêng chứng thực biết rõ.

Câu 9:

Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo.

Sở: Ðiều quan trọng của mình. Vọng: Mong ước. Sở vọng là điều quan trọng của mình hằng mong ước. Gắng ghi: Cố gắng ghi nhớ. Ðảo: Cúng tế cầu nguyện. Cáo: Tấu trình, báo cáo. Ðảo cáo là cúng tế cầu nguyện và tấu trình các việc

C.9: Ðiều quan trọng mà lòng mình hằng mong ước, cố gắng ghi nhớ để cúng tế cầu nguyện và tấu trình lên các Ðấng Thiêng liêng.

Câu 10:

Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

Ơn Trên: Ơn huệ của Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng thiêng liêng. Bổ: Giúp đỡ, thêm vô cho đủ. Báo: Ðáp lại. Bổ báo là giúp đỡ báo đáp lại.

C.10: Nhờ ơn Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng thiêng liêng giúp đỡ báo đáp lại và ban cho phước lành.

Câu Chú của Thầy:
Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Câu Chú: Câu niệm có tánh cách huyền bí của một Ðấng TL đặt ra để hộ trì các môn đệ trên bước đường tu.

Thầy: Trong thời ÐÐTKPÐ, Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế giáng cơ dạy đạo, xưng mình là Thầy, gọi các con đang học đạo là môn đệ. Ðức Chí Tôn dạy đạo đức cho nhơn sanh như là Thầy dạy trò, gần gũi thân mật, biểu lộ lòng thương yêu của Chí Tôn đối với chúng sanh thật vô cùng tận.

Câu Chú của Thầy tức là của Ðức Chí Tôn có 12 chữ:

Nam- Cao- Ðài Tiên- Ông Ðại Bồ- Tát Ma- Ha- Tát
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Nam-mô: do phiên âm từ tiếng Pali "Namô" hoặc từ tiếng Phạn "Namah", dịch nghĩa là: Qui mệnh, kỉnh lễ, cúi đầu làm lễ. Từ ngữ Nam-mô thường được dùng làm chữ khởi đầu một câu cầu nguyện.

Cao Ðài: Cái đài cao, dùng làm nơi ngự của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế khi có Ðại hội triều đình của Ðức Chí Tôn tại Linh Tiêu Ðiện Ngọc Hư Cung.

Tiên Ông: Ông Tiên, vị Tiên.

Ðại: Lớn. Bồ- Tát: Nói đầy đủ là Bồ-Ðề-Tát-Ðóa, tiếng Phạn là Bodhisattva, nghĩa là người đã tự giác được bản tánh và có nhiệm vụ phổ độ chúng sanh. Ma-Ha-Tát: Nói đầy đủ là Ma-Ha-Tát-Ðóa, tiếng Phạn là Mahasattva, nghĩa là Ðại chúng sanh, tức là người có dũng tâm muốn làm việc lớn.

Ðại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát là vị Bồ Tát lớn, ở phẩm bực cao trọng, xứng đáng đứng hàng Phật vị, nhưng vì còn nhiệm vụ cứu độ chúng sanh nên còn mang danh Bồ Tát.

Câu Chú của Thầy đặc biệt có 12 chữ là vì con "số 12 là số riêng của Thầy ".

Câu Chú nầy có ý nghĩa bao hàm Tam giáo:

  • CAO ÐÀI: tượng trưng Nho giáo.

  • TIÊN ÔNG: tượng trưng Tiên giáo (Ðạo giáo).

  • ÐẠI BỒ-TÁT MA-HA-TÁT: tượng trưng Phật giáo.

Do đó, Câu Chú của Thầy (Ðức Chí Tôn) có ý nghĩa Tam giáo đồng tông, ngày nay qui nguyên Ðại Ðạo. Ðại Ðạo đó chính là ÐÐTKPÐ, tức là Ðạo Cao Ðài do Ðức Chí Tôn sáng lập và làm Giáo Chủ.

 

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

 


 

Kinh Cúng Tứ Thời: Khai Kinh

 

KHAI KINH

(Giọng Nam ai)

 


 

GIẢI NGHĨA

Phần I: Nguồn gốc bài kinh:

Bài Khai Kinh có nguồn gốc là bài Kinh chữ Hán, tựa là KHAI KINH KỆ trong quyển Kinh Huyền Môn Nhựt Tụng từ bên Tàu truyền sang nước ta.

Vào năm Ất Sửu (1925), Ðức Lữ Tổ giáng cơ tại Chi Minh Lý, diễn nôm bài Khai Kinh Kệ nói trên, ban cho Chi nầy làm bài Khai Kinh để tụng trước khi tụng Kinh Sám Hối.

Ðây là một trong 6 bài Kinh mà Hội Thánh vâng lịnh Ðức Chí Tôn thỉnh từ Chi Minh Lý về làm Kinh ÐÐTKPÐ. (Xem trở lại Phần II: Nguồn gốc bài Niệm Hương trong phần Giải Nghĩa bài Niệm Hương).

Sau đây, xin chép lại bài Khai Kinh Kệ:

KHAI KINH KỆ

開 經 偈

Trần hải mang mang thủy, nhựt đông,

塵 海 茫 茫 水 日 東

Vãn hồi toàn trượng Chủ Nhơn Công.

挽 回 全 仗 主 人 公

Yếu tri Tam giáo tâm nguyên hiệp,

要 知 三 敎 心 源 合

Trung thứ, Từ bi, Cảm ứng, đồng.

忠 恕 慈 悲 感 應 同

DỊCH NGHĨA:

Bài kệ mở đầu các bài kinh.

- Biển trần bát ngát mênh mông nước, mặt trời ở phương Ðông,
- Vãn hồi được là hoàn toàn nhờ vào Ðấng Thái Thượng Ðạo Tổ.
- Những điều trọng yếu cần biết của Tam giáo là do cái Tâm làm gốc cho sự hòa hợp.
- Ðức Khổng Tử dạy Trung Thứ, Ðức Phật dạy Từ Bi, Ðức Thái Thượng dạy Cảm Ứng, đều đồng như nhau.

Bài Khai Kinh Kệ gồm 4 câu thơ chữ Hán được Ðức Lữ Tổ diễn nôm thoát ý một cách tuyệt diệu theo thể thơ song thất lục bát gồm 9 câu: Từ câu 1 đến câu 9. Ðức Lữ Tổ viết thêm 3 câu chót, dường như có ý để về sau dùng bài nầy làm Khai Kinh cho ÐÐTKPÐ với tôn chỉ Tam giáo qui nguyên:

10. Một cội sanh ba nhánh in nhau,
11. Làm người rõ thấu lý sâu,
12. Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh.

(Lữ Tổ là Lữ Ðồng Tân, đạo hiệu là Lữ Thuần Dương, một vị Ðại Tiên trong Bát Tiên, thường giáng cơ ban cho kinh điển).

 

Phần II: Giải nghĩa bài Khai Kinh

Khai Kinh: Bài Kinh để tụng mở đầu trước khi tụng các bài Kinh khác như: Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Kinh Phật giáo, Kinh Tiên giáo, Kinh Nho giáo, Kinh Phật Mẫu.

Câu 1:

Biển trần khổ vơi vơi trời nước.

Biển trần khổ: Những nỗi đau khổ của con người nơi cõi trần nhiều như biển. Ðức Phật Thích Ca nói, con người có Tứ khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Ngoài ra con người còn chịu biết bao khổ sở trong việc đua chen danh lợi, vật lộn với cuộc sống. Do đó, Ðức Phật nói, nước mắt của chúng sanh nhiều hơn nước 4 biển. Vơi vơi: Bát ngát mênh mông.

C.1: Những nỗi đau khổ của con người nơi cõi trần thì nhiều như nước biển mênh mông, chỉ thấy trời và nước.

Câu 2:

Ánh thái dương giọi trước phương đông.

Thái dương: Mặt trời. Ánh Thái dương: Ánh sáng mặt trời, nguồn sống của nhơn loại và sinh vật. Giọi: Chiếu, rọi.

C.2: Ánh sáng mặt trời chiếu ra từ phương Ðông.

Từ phương Ðông, mặt trời từ từ lố dạng, phá tan màn đêm đen tối đang bao phủ địa cầu, vạn vật thức tỉnh, bừng lên sự sống. Ngụ ý là: ÐÐTKPÐ mở ra tại một nước ở phía đông, ý nói nước Việt Nam, để cứu vớt nhơn loại thoát qua biển khổ.

Câu 3:

Tổ Sư Thái Thượng Ðức Ông.

Tổ Sư: Người sáng lập ra một tôn giáo và làm thầy trong tôn giáo đó. Thái Thượng Ðức Ông: Ðức Thái Thượng Ðạo Quân, Giáo chủ Tiên giáo.

C.3: Ðức Thái Thượng Ðạo Quân sáng lập Ðạo Tiên và làm Tổ Sư của Ðạo Tiên.

Câu 4:

Ra tay dẫn độ dày công giúp đời.

Ra tay: Ðem sức ra làm việc. Dẫn độ: Dẫn dắt và cứu giúp. Dày công: Có nhiều công lớn.

C.4: Rất dày công trong việc dẫn dắt và cứu giúp người đời.

Câu 5:

Trong Tam giáo có lời khuyến dạy.

Tam giáo: 3 tôn giáo lớn ở Á Ðông: Phật giáo (Thích giáo), Lão giáo (Ðạo giáo), Nho giáo (Khổng giáo). Thường nói Tam giáo là: Phật, Lão, Nho; hay Nho, Thích, Ðạo.

C.5: Trong giáo lý của Ba nền tôn giáo lớn ở Á Ðông có nhiều lời khuyên răn dạy dỗ.

Câu 6:

Gốc bởi lòng làm phải làm lành.

Gốc bởi lòng: Cái căn bản là do Tâm của mỗi người. Ba nền tôn giáo lớn Nho Thích Ðạo đều lấy TÂM làm gốc:

▪ Phật giáo dạy Minh Tâm kiến Tánh,

▪ Tiên giáo dạy Tu Tâm luyện Tánh,

▪ Nho giáo dạy Tồn Tâm dưỡng Tánh.

Làm phải: Làm điều hợp với Luân thường Ðạo lý. Làm lành: Làm điều hợp với Ðức háo sanh của Thượng Ðế và hợp với sự Tiến hóa, tức là xả thân giúp đời giúp người.

C.6: Tam giáo dạy lấy Tâm làm gốc, dạy làm điều phải, tránh điều quấy, dạy làm điều thiện, tránh điều ác.

Câu 7:

Trung Dung Khổng Thánh chỉ rành.

Trung Dung: Một học thuyết rất cao siêu của Nho giáo, do Ông Tử Tư (cháu nội của Ðức Khổng Tử, học trò của Tăng Tử) gom góp các lời dạy của Ðức Khổng Tử mà lập thành. Trung là không thiên lệch, là đường chánh trong thiên hạ; Dung là không thay đổi, là lẽ nhứt định trong thiên hạ.

Mọi việc ở đời đều có cái mức quân bình, đích đáng. Chưa đến cái mức ấy thì việc làm phải sai; quá cái mức ấy thì việc làm cũng không đúng; mức quân bình ấy cũng gọi là Trung. Ở đời, việc nhỏ như ăn uống hằng ngày, việc lớn như kinh luân thiên hạ, đều có cái lý bình thường chi phối tất cả, lý ấy thiết thực, không quái lạ mà cũng thay đổi đi được, ấy cũng là Dung. Vậy, Trung Dung là cái mức quân bình thích đáng trong tất cả mọi sự vật và con người, cũng như trong tất cả tác động của Trời Ðất.

Trong bài Khai Kinh Kệ (Hán văn) thì nói là Trung Thứ. Trung là hết lòng mình, Thứ là suy lòng mình ra lòng người. Sách Trung Dung có nói: Trung Thứ vi Ðạo bất viễn, thi chư kỷ nhi bất nguyện, diệc vật thi ư nhân. Nghĩa là: Trung và Thứ thì cách Ðạo không xa, hễ điều gì làm cho mình mà mình không muốn thì cũng đừng làm cho người.

Khổng Thánh: Ðức Thánh Khổng Tử, Giáo chủ Nho giáo.

C.7: Ðức Thánh Khổng tử dạy về đạo Trung Dung rất rành rẽ.

Câu 8:

Từ bi Phật dặn lòng thành lòng nhơn.

Từ bi: Từ là lòng thương yêu chúng sanh, bi là lòng trắc ẩn thương cảm các cảnh khổ não của chúng sanh và muốn giúp chúng sanh thoát khổ. Từ bi là hạnh đặc trưng của Phật. Dặn: Căn dặn, dặn dò. Lòng thành: Lòng thành thật. Lòng nhơn: Lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh.

C.8: Ðức Phật căn dặn phải có lòng từ bi, lòng thành thật, và lòng thương yêu khắp chúng sanh.

Câu 9:

Phép Tiên đạo tu chơn dưỡng tánh.

Phép Tiên đạo: Phương pháp tu luyện của đạo Tiên, hay nói khác hơn là Tâm pháp tu luyện của Tiên giáo.

Tu chơn: Tu là sửa đổi cho được tốt đẹp hơn, chơn là thật. Tu chơn là lối tu quyết tâm sửa đổi con người của mình mỗi lúc một thêm tốt đẹp, thiện lương, chơn chánh, không cần ăn ngon mặc đẹp, chức tước quyền hành hay mão cao áo rộng, chỉ cốt đạt được mục đích quan trọng là giải thoát khỏi luân hồi. Ðây chính là con đường tu thứ ba của Ðạo Cao Ðài.

"Cách thứ ba là cách Tu chơn hay là cách Tịnh luyện cũng thế. Những người đi trong Cửu phẩm Thần Tiên (nơi Cửu Trùng Ðài) hay đi trong Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng (nơi CQPT), khi mình nhận thấy là đã Lập Ðức, Lập Công, Lập Ngôn rồi, hay là đã thọ khổ và thắng khổ rồi mà còn sức nữa thì vào Nhà Tịnh để được Tu chơn. Nơi đây, các vị đó sẽ học phương pháp luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, tức là Tinh Khí Thần hiệp nhứt, là huờn Hư đó vậy." (TÐ. ÐPHP về Con đường TLHS, trang 5).

Dưỡng tánh: Dưỡng là nuôi nấng, Tánh là bản thể của Tâm, bên trong là Tâm, thể hiện ra ngoài là Tánh. Cho nên, Tâm và Tánh, tuy 2 danh từ khác nhau, nhưng sự tác động vẫn một. Cái bổn Tánh của con người do Trời ban cho vốn lành

(Nhơn chi sơ, Tánh bổn thiện), nhưng vì thâm nhiễm mùi trần nên sanh lòng ham muốn, làm cho Tánh biến đổi, trở nên không lành. Con người cần nuôi dưỡng cái Tánh của mình cho được lành như thuở mới sanh ra, rèn luyện trau giồi cho càng ngày càng trở nên linh thiêng sáng suốt thì tự nhiên giao tiếp được với Trời, tức là Nhơn Tánh được hiệp cùng Thiên Tánh.

C.9: Cái Tâm pháp tu luyện của đạo Tiên dạy về Tu chơn và Dưỡng Tánh.

Câu 10:

Một cội sanh ba nhánh in nhau.

Một cội: Một gốc, gốc đó là Thái Cực, tức là Ðức Chí Tôn Thượng Ðế. Ba nhánh: 3 tôn giáo lớn, tức là Tam giáo: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo. In nhau: Giống hệt nhau.

TNHT. I. 14: "Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã, Thích Ca Mâu Ni thị Ngã, Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã, kim viết CAO ÐÀI." (Nhiên Ðăng Cổ Phật là Ta, Thích Ca Mâu Ni là Ta, Thái Thượng Nguơn Thỉ là Ta, nay gọi là Ðấng Cao Ðài.)

Qua lời Thánh giáo trên của Ðức Chí Tôn, chúng ta nhận thấy rằng, mỗi khi Ðức Chí Tôn thấy nhơn loại đi vào đường tà mị hắc ám thì Ngài mở lòng Ðại từ Ðại bi, sai các Ðấng Phật Tiên giáng trần mở Ðạo giáo hóa nhơn sanh. Thời thái cổ (Nhứt Kỳ Phổ Ðộ), Ðức Chí Tôn sai Ðức Phật Nhiên Ðăng mở Phật giáo; thời thượng cổ (Nhị Kỳ Phổ Ðộ), Ðức Chí Tôn lại sai Ðức Phật Thích Ca mở Ðạo Phật ở Ấn Ðộ, Ðức Thái Thượng mở Ðạo Tiên ở Trung Hoa, Ðức Khổng Tử mở Nho giáo cũng ở Trung Hoa, Ðức Chúa Jésus mở Ðạo Thánh ở Do Thái. Các Ðấng ấy đều vâng lịnh Ðức Chí Tôn giáng trần mở Ðạo cứu đời. Như vậy, tuy các Ðạo có giáo lý khác nhau vì nhơn sanh ở mỗi vùng có trình độ tiến hóa khác nhau, nhưng cùng giống nhau ở mục đích là dạy nhơn sanh tu hành, tiến hóa trên đường đạo đức chơn chánh, hầu đoạt vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng, thoát khỏi luân hồi.

Tam giáo từ xưa vốn một nhà,
Người sau lầm tưởng vọng chia ba.
(Ðức Khổng Tử)

C.10: Tam giáo đều có cùng một gốc mà ra, gốc đó là Ðức Chí Tôn, mà ngày nay thời TKPÐ gọi là Ðấng Cao Ðài.

Câu 11:

Làm người rõ thấu lý sâu.

Thấu: Thông suốt. Rõ thấu: Biết rõ, biết một cách thông suốt. Lý sâu: Cái lẽ sâu xa huyền diệu của Trời Ðất. Ðó là Chơn lý hằng hữu bất biến của CKVT.

Con người là loài Thượng đẳng chúng sanh, có Tánh linh hơn vạn vật, nên cần phải tìm tòi học hỏi trong các kinh sách để biết rõ các lẽ cao siêu huyền diệu của Trời Ðất, thì mới biết tùng theo Thiên lý mà trở về cùng Ðức Chí Tôn.

C.11: Làm một con người nơi cõi trần cần phải tìm tòi học hỏi để biết rõ cái Chơn lý huyền diệu của Trời Ðất.

Câu 12:

Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh.

Sửa lòng: chữ Hán là Tu Tâm, nghĩa là sửa đổi cái Tâm cho chơn chánh tốt đẹp. Trong sạch: Trong thì được thanh nhẹ, sạch thì không ô trược. Tâm trong sạch thì làn sóng tư tưởng mới thanh nhẹ, vượt lên khỏi lớp không khí, đến với các Ðấng thiêng liêng. Tụng cầu: Tụng kinh và cầu nguyện. Thánh Kinh: Các bài kinh do các Ðấng Phật Tiên Thánh giáng cơ ban cho.

C.12: Cần phải sửa đổi cái Tâm cho trong sạch để tụng kinh và cầu nguyện thì mới được sự cảm ứng của các Ðấng thiêng liêng.

 


 

Kinh Cúng Tứ Thời: KINH NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ


 

Kinh NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ
經 玉 皇 上 帝

 

Nguồn gốc bài Kinh:

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế, còn được gọi là Ngọc Hoàng Thiên Tôn Bửu Cáo, hay vắn tắt là Ngọc Hoàng Bửu Cáo, do Ðại Tiên Lữ đồng Tân, thường gọi là Lữ Tổ, tước hiệu Phu Hựu Ðế Quân, một vị trong Bát Tiên, giáng cơ ban cho ở bên Trung Hoa, sau đó mới truyền sang VN.

Bài Ngọc Hoàng Bửu Cáo có in trong quyển Kinh: "Quan Thánh Ðế Quân Cứu Kiếp Vĩnh Mạng Kinh", và có cho biết xuất xứ của bài Kinh nầy như sau:

"Quang Tự Tân Mão, cửu ngoạt, sóc, Quan Ðế thỉnh Phu Hựu Ðế Quân giáng tác thử cáo, phú tụng dĩ kính Thiên Ðế".

Nghĩa là: Niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh), năm Tân Mão, tháng 9, ngày mùng 1, Ðức Quan Thánh thỉnh mời Ðức Phu Hựu Ðế Quân giáng cơ viết ra lời cáo nầy, để cho người tụng kinh biết mà tôn kính Ðấng Thượng Ðế.

Ðối chiếu niên lịch, năm giáng cơ ban cho Kinh Ngọc Hoàng Bửu Cáo là năm thứ 17 đời vua Ðức Tông nhà Thanh, niên hiệu Quang Tự, ngày 1-9-Tân Mão, tương ứng với dương lịch là ngày 3-10-1891.

Trong việc giải thích chi tiết bài Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế , có viết Hán văn kèm theo, soạn giả căn cứ phần chánh vào bản Kinh Hán văn in trong quyển "TỨ THỜI NHỰT TỤNG KINH" xuất bản năm 1928 của Nhị vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, và có sự phối hợp đối chiếu với bản Hán văn in trong quyển 大 道 三 期 普 度 經 (ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ KINH) của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh.

 

Kinh NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ

 

1.

Ðại La Thiên Ðế,

2.

Thái Cực Thánh Hoàng.

 

大 羅 天 帝
太 極 聖 皇

 

GIẢI NGHĨA

Câu 1-2:

Ðại La Thiên Ðế,
Thái Cực Thánh Hoàng.

Ðại: Lớn. La: Tấm lưới. Ðại La là tấm lưới lớn. Thiên: Trời. Ðế: Vua. Thiên Ðế là vua Trời. Thái Cực: Ngôi của Ðấng Chí Tôn Thượng Ðế. Thánh: Thiêng liêng mầu nhiệm. Hoàng: Vua. Thánh Hoàng là vua Thánh.

TNHT. II. 62: "Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong CKTG thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng, mới lập ra CKTG. Thầy lại phân Tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật chất, Thảo mộc, Côn trùng, Thú cầm, gọi là chúng sanh."

Bài Thánh ngôn trên của Ðức Chí Tôn là nền tảng Triết lý về Vũ Trụ Quan của Ðạo Cao Ðài.

Trước khi tạo dựng CKVT thì trong khoảng không gian bao la, chỉ có một khí Hồng Mông Hỗn Ðộn mờ mờ mịt mịt gọi là Hư Vô chi Khí (Khí Hư Vô). Khi tới ngày giờ thì trong Khí ấy nổ ra một tiếng dữ dội, sanh ra một Ðấng gọi là Ngọc Hoàng Thượng Ðế mà ngôi của Ngài là Thái Cực.

Ðấng ấy là Ðấng Tuyệt đối, duy có một, huyền diệu vô cùng, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng. Ðấng ấy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Âm Quang và Dương Quang. Ngài làm chủ Dương Quang, rồi Ngài hóa thân ra Ðức Phật Mẫu để làm chủ Âm Quang.

Khi đã có đủ Âm Dương rồi, Ngài cho Âm Dương chuyển động, biến hóa ra Tứ Tượng: Thái Dương, Thái Âm, Thiếu Dương, Thiếu Âm. Tứ Tượng biến hóa ra Bát Quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài. Bát Quái tiếp tục biến hóa tạo thành CKVT và vạn vật.

CKVT của Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế về phần hữu hình gồm có: Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu), cộng lại là 3072 ngôi sao. Mỗi ngôi sao có một vị Thiên Ðế cai quản. (Thiên đế cũng là hóa thân của Thượng Ðế). Các ngôi sao ấy được ví như những mắc lưới của một tấm lưới lớn (Ðại La) bao trùm CKVT, nên Ðấng chưởng quản toàn cả tấm lưới lớn ấy được gọi là Ðại La Thiên Ðế. Ðấng ấy là vị vua thiêng liêng ngự tại ngôi Thái Cực, nên cũng gọi Ðấng ấy là Thái Cực Thánh Hoàng.

Ðấng ấy hóa sanh ra vạn vật và nhơn loại, là CHA chung của chúng sanh, nên còn gọi Ðấng ấy là Ðại Từ Phụ.

Ðấng ấy là Ðấng duy nhứt, được tôn kính nhứt trong CKVT, nên gọi Ðấng ấy là Ðại Thiên Tôn.

(Ðấng Thiên Ðế cai quản Ðịa cầu 68 của nhơn loại chúng ta được Phật giáo gọi là Phạm Thiên Vương hay Ðế Thích).

Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế thường ngự trên một cái đài cao nơi Linh Tiêu Ðiện Ngọc Hư Cung để họp Thiên triều của Ngài, nên Ngài tự xưng là Ðấng Cao Ðài, và Ngài đặt ra Câu Chú riêng của Ngài trong thời ÐÐTKPÐ gồm 12 chữ là: "Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma ha Tát".

ÐÐTKPÐ được gọi là Ðạo Cao Ðài là vì tôn giáo nầy do Ðấng Cao Ðài giáng cơ lập ra và làm Giáo chủ. Ngài giáng cơ dạy đạo, xưng mình là Thầy và gọi các tín đồ là Môn đệ.

Nhơn loại thường gọi Ðấng Cao Ðài là Ðức Chí Tôn, đôi khi cũng gọi là Ðấng Chí Linh, Ðấng Chí Công.

Tóm lại, trong CKVT nầy, có một Ðấng duy nhứt tạo dựng ra CKVT và hóa sanh vạn vật. Ðấng ấy được người đời gọi bằng nhiều danh từ khác nhau tùy theo trường hợp, kể ra:

  • Ðấng Ðại La Thiên Ðế.

  • Ðấng Thái Cực Thánh Hoàng.

  • Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, hay vắn tắt là Ðấng Thượng Ðế.

  • Ðấng Huyền Khung Cao Thượng Ðế Ngọc Hoàng.

  • Ðấng Ðại Thiên Tôn.

  • Ðấng Ðại Từ Phụ.

  • Ðấng Cao Ðài.

  • Ðấng Chí Tôn, Ðấng Chí Linh, Ðấng Chí Công.

  • Ðấng ấy tự xưng là Thầy và gọi Tín đồ là Môn đệ.

C.1-2: Có một Ðấng tạo dựng ra CKVT, hóa sanh vạn vật, được người đời gọi là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế và nhiều danh hiệu khác nữa, trong đó có 2 danh hiệu là: Ðại La Thiên Ðế, Thái Cực Thánh Hoàng.

 

3.

Hóa dục quần sanh,

4.

Thống ngự vạn vật.

 

化 育 群 生
統 御 萬 物

 

GIẢI NGHĨA

Câu 3: Hóa dục quần sanh.

Hóa: Sanh ra. Dục: Nuôi dưỡng. Quần: Nhiều, tụ họp đông đảo. Sanh: Sống. Quần sanh: đồng nghĩa với Chúng sanh, chỉ tất cả các loài có sự sống như: Thảo mộc, Côn trùng, Thú cầm và Nhơn loại.

C.3: Ðấng Thượng Ðế hóa sanh và nuôi dưỡng các loài sanh vật.

Câu 4: Thống ngự vạn vật.

Thống: Tóm lãnh hết cả. Ngự: Cai trị.

C.4: Ðấng Thượng Ðế cai trị toàn cả vạn vật.

 

5.

Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết,

6.

Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh.

 

渺 渺 黃 金 闕
巍 巍 白 玉 京

 

GIẢI NGHĨA

Câu 5: Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết.

Diệu: Còn được đọc là Diêu, Diểu, Miểu, nghĩa là xa tít mù. Diệu diệu: Ở mù mù rất xa.

Huỳnh: Màu vàng. Kim: Vàng, một thứ kim loại rất quí, là vua của các kim loại. Huỳnh Kim là vàng ròng. Khuyết: Cái cổng vào đền vua. Huỳnh Kim Khuyết: Cái cổng làm toàn bằng vàng ròng để đi vào Ðền của Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Phía trong Huỳnh Kim Khuyết là nơi họp Triều đình của Ðức Thượng Ðế .

C.5: Cái cổng lớn Huỳnh Kim Khuyết ở mù mù rất xa.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo "Con đường Thiêng liêng Hằng sống" có nói như sau:

"Trên hết, chúng ta ngó thấy Ðức Chí Tôn ngự với cái triều nghi của Ngài là Huỳnh Kim Khuyết. Nơi Huỳnh Kim Khuyết, trên đầu của Ngài nơi xa xa, chúng ta thấy vọi vọi, xa nữa chúng ta thấy 3 vị Phật mà hiện giờ ta thấy tượng hình nơi nóc BQÐ là: Brahma Phật, Civa Phật, và Christna Phật, ngự trên nữa, xa hơn nữa, coi vọi vọi xa xăm hơn nữa, chúng ta không thế gì tưởng tượng được, con mắt mình ngó thấy như một đạo hào quang chớp nhoáng mà không có hình ảnh gì hết, chiếu diệu trên cái triều nghi của Ngài là Huỳnh Kim Khuyết, mà dưới Huỳnh Kim Khuyết là Cửu phẩm Thần Tiên đang ngự triều với Ðức Chí Tôn, chúng ta không thế gì tưởng tượng được, oai nghiêm huyền bí làm sao!"

Câu 6: Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh.

Nguy: Dáng núi cao lớn đồ sộ. Nguy nguy: Ðồ sộ cao vòi vọi. Bạch Ngọc: Loại đá quí màu trắng trong rất đẹp. Kinh: Tòa lâu đài to lớn dùng làm nơi đóng đô của vua.

Vàng là vua loài kim, Ngọc là vua loài đá, cho nên 2 thứ quí báu nầy được dùng làm các vật dụng của vua hay để trang trí trong đền vua.

Bạch Ngọc Kinh là tòa lâu đài đồ sộ làm toàn bằng ngọc trắng, làm nơi ngự của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.

C.6: Ðền Bạch Ngọc Kinh đồ sộ cao vòi vọi.

Có bài thơ trong TNHT. I. 112 mô tả Bạch Ngọc Kinh:

Tân tả Bạch Ngọc Kinh

Một tòa Thiên các ngọc làu làu,
Liền bắc cầu qua nhấp nhóa sao.
Vạn trượng then gài ngăn Bắc Ðẩu,
Muôn trùng nhiếp khảm hiệp Nam Tào.
Chư Thần chóa mắt màu thường đổi,
Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao.
Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,
Vững bền muôn kiếp chẳng hề xao.

Bạch Ngọc Kinh là tòa lâu đài quí báu nhứt, đồ sộ đẹp đẽ nhứt, huyền diệu nhứt nơi cõi TL. Lâu đài nơi cõi trần còn bị hư sập hay bị hủy hoại theo thời gian, nhưng Bạch Ngọc Kinh thì tồn tại vĩnh viễn. Tất cả các Chơn linh , khi đã đắc đạo, đều phải đến Bạch Ngọc Kinh bái lễ Ðức Chí Tôn.

Tòa Thánh Tây Ninh được Ðức Phạm Hộ Pháp xây cất theo kiểu vở do Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ vẽ ra, căn cứ theo hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh. Do đó, Tòa Thánh Tây Ninh được xem là Bạch Ngọc Kinh tại thế.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo về Con đường Thiêng liêng Hằng sống có mô tả Bạch Ngọc Kinh như sau:

"Lại gần tới, còn thấy một vật khác thường quái lạ, nhưng nó là một tòa Thiên các đẹp đẽ lắm, màu sắc thay đổi sáng rỡ, mà cả Thoại khí bao quanh, làm như thể vận chuyển hình trạng của nó vậy. Lâu đài chớn chở mà nó là con vật sống chớ không như gạch đá chúng ta làm đây, nó vận hành như con vật sống vậy, thay đổi màu sắc vô cùng vô biên.

Bí pháp ấy không thế gì tả đặng, ngó thấy đặc sắc lắm!

Nhà cửa ở thế gian nầy là con vật chết, Bạch Ngọc Kinh là con vật sống, biến hóa thay đổi như thể vận hành, xung quanh Thoại khí bao trùm, từ Nam chí Bắc, từ Ðông qua Tây. Khối lửa ánh sáng ấy, chúng ta ngó thấy như mặt trời vậy, mà ánh sáng mặt trời thì nóng nực bực bội, còn ánh sáng nơi tòa Bạch Ngọc Kinh lại dịu dàng và huyền bí lắm, sung sướng khoái lạc lắm!

Tại sao đài các là con tử vật mà nó sống? Sống là do nơi đâu? Nếu biết thì không lạ gì!

Bạch Ngọc Kinh là do Hỗn Nguơn Khí biến hình ra. Hỗn Nguơn Khí là Khí Sanh Quang của chúng ta đã thở, đã hô hấp, khí để nuôi cả sanh vật sống. Ta sống cũng do do nơi nó xuất hiện, mà biểu nó làm sao không sống?

Khi Bần đạo ngồi trên Pháp xa đến, thấy các Chơn linh hằng hà sa số, bao vây trước cửa la liệt không thể đếm. Pháp xa vừa ngừng, Bần đạo bước xuống thấy 3 cửa nơi Bạch Ngọc Kinh có 12 vị Thời Quân mặc khôi giáp, tay cầm Bửu pháp, đứng cản đường không cho thiên hạ vô. Bần đạo thấy 3 cửa ấy xa nhau, mỗi cửa có 4 người giữ. Bần đạo muốn nói chuyện thì 3 cửa ấy gom lại, 12 người hiệp lại đứng trước mặt Bần đạo. Bần đạo hỏi, vì cớ nào không cho người ta vô?

Vừa hỏi thì họ bỡ ngỡ nói người ta biểu đừng cho vô. Nói người ta biểu thì Bần đạo biết là Kim Quang Sứ biểu xúi đừng cho các Chơn linh vào Bạch Ngọc Kinh. Giận quá, day mặt ra ngoài biểu các Chơn linh vô. Họ tràn vô nghe một cái ào, dường như nước bể bờ chảy vào Bạch Ngọc Kinh vậy. Tới chừng các Chơn linh vô hết, liền biểu 12 vị Thời Quân vô, rồi đứng dòm cùng hết thảy coi còn ai ở ngoài nữa không? Bần đạo cầm cây Giáng Ma Xử đi vô Bạch Ngọc Kinh sau hết.

Bạch Ngọc Kinh chia làm 3 căn, cửa chính giữa các vị Phật cao siêu, mình đứng day vô, phía bên tả là phái nữ, phía bên hữu là phái nam. Bần đạo nghe đi rần rần rộ rộ, bên kia thì thấy hình bóng chiếu qua vách mà thôi, tấm vách thật lạ lùng, trong trắng giống như sương sa vậy.

Buổi đầu, Bần đạo không để ý, đi tới nữa, thấy cả thảy đều có ngôi vị của họ sẵn. Bần đạo vô cửa thấy họ ngồi có chỗ hết, còn mình thì bơ thờ, cầm cây Giáng Ma Xử đi vô, không biết đi đâu. Nói sao người ta có chỗ ngồi, còn mình không có? Vừa nói rồi thì thấy có người đứng gần bên mình mà không hay, họ trả lời: Cái ngai của Ngài kia. Bần đạo dòm lên thấy cái ngai tốt lắm, thấy rồi mà trong bụng hồ nghi nói không biết họ có gạt mình không. Bần đạo sợ, vừa sợ thì có người nói: Chính cái ngai đó là của Ngài.

Từ thử đến giờ, dầu vạn kiếp sanh chịu khổ để tạo vị nơi mặt thế gian nầy cũng không bằng ngồi được trên đó. Nơi đó sung sướng lắm, sung sướng làm sao đâu! ..."

 

7.

Nhược thiệt nhược hư,

8.

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa.

 

若 實 若 虛
不 言 而 默 宣 大 化

 

GIẢI NGHĨA

Câu 7: Nhược thiệt nhược hư.

Nhược: Nếu như, ví bằng. Thiệt: Thực, có hình ảnh cụ thể thấy được. Hư: Trống không, không thấy gì cả.

C.7: Như là có thật, nhìn thấy được; như là trống không, không thấy gì cả.

Ðó là Ðạo Trời huyền diệu không lường, hư hư thực thực, biến hóa mầu nhiệm vô cùng, lúc có lúc không, không thể nào lấy trí phàm mà biết hết được.

Câu 8: Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa.

Bất: Không. Ngôn: Lời nói. Bất ngôn: Không lời nói. Nhi: Mà. Mặc: Yên lặng. Tuyên: Bày tỏ cho người khác biết. Ðại: Lớn. Hóa: Biến đổi. Ðại hóa: Cuộc biến hóa lớn.

C.8: Không nói ra mà cứ yên lặng tỏ bày cuộc biến đổi rộng lớn trong khắp CKVT.

Sách Luận Ngữ: Thiên hà ngôn tai! Tứ thời hành yên? Vạn vật sanh yên? Nghĩa là: Trời có nói gì đâu! Bốn mùa há không vận chuyển sao? Muôn vật há không sanh hóa sao?

 

9.

Thị không, thị sắc.

10.

Vô vi nhi dịch sử quần linh.

 

是 空 是 色
無 為 而 役 使 群 靈

 

GIẢI NGHĨA

Câu 9: Thị không, thị sắc.

Thị: Là, ấy là. Không: Trống rổng, mắt phàm không thấy chi cả. Sắc: Những thứ có hình tướng, mắt phàm thấy rõ.

C.9: Là trống không, là có hình tướng.

SẮC thì có hình tướng nên thuộc vật chất hữu hình.

KHÔNG thuộc vô vi, không hình tướng, mắt phàm không thể thấy được. Nói như thế là đối với người phàm, với mắt phàm; nhưng đối với con mắt thiêng liêng thì không có gì là KHÔNG, không có gì là SẮC, tức là không còn phân biệt SẮC và KHÔNG.

Bát Nhã Tâm Kinh của Phật giáo có câu:

"SẮC tức thị KHÔNG, KHÔNG tức thị SẮC,
SẮC bất dị KHÔNG, KHÔNG bất dị SẮC."

Nghĩa là:

SẮC tức là KHÔNG, KHÔNG tức là SẮC,
SẮC không khác với KHÔNG, KHÔNG không khác với SẮC.

Trong Ðạo Ðức Kinh, Ðức Lão Tử cũng có nói: "Hữu xuất ư Vô". Nghĩa là: Cái CÓ từ cái KHÔNG mà ra.

Thuở tạo dựng Trời Ðất, Ðức Chí Tôn dùng 2 Khí Dương quang và Âm quang, là 2 chất khí không hình ảnh (tức là KHÔNG) để phối hợp sanh ra CKVT và vạn vật có hình thể (tức là SẮC). Như vậy, Ðức Chí Tôn đã lấy KHÔNG mà tạo thành SẮC. Khi đã có sắc tướng rồi thì phải chịu luật Thành Trụ Hoại Diệt, sắc tướng chỉ tồn tại một thơì gian rồi phải bị tiêu diệt để trở về KHÔNG, tức là trở về nguồn cội Vô Vi.

Câu 10: Vô vi nhi dịch sử quần linh.

Vô: Không. Vi: Làm. Nhi: Mà. Dịch: Sai khiến làm việc. Sử: Sai khiến. Quần linh: Quần là nhiều, Linh là chơn linh, Linh hồn. Quần linh đồng nghĩa Vạn linh, chỉ tất cả chơn linh trong CKVT gồm đủ Bát phẩm chơn hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Vô Vi: Nghĩa đen là không làm, nghĩa thường dùng là không hình ảnh, thuộc vô hình. Trái với Vô Vi là Hữu Vi, là có hình ảnh thấy được, thuộc hữu hình sắc tướng.

Ðạo Ðức Kinh viết rằng: "Ðạo thường vô vi nhi vô bất vi". Nghĩa là: Cái Ðạo thường thì không làm gì nhưng không việc gì không làm được.

Ðạo là Hư Vô chi Khí, mà Hư Vô chi Khí sanh ra Ðức Chí Tôn, nên Ðức Chí Tôn cũng chính là Ðạo. Ngài không làm gì nhưng sai khiến được Vạn linh trong CKVT vì Ngài là Ðạo.

C.10: Ðức Chí Tôn ở trạng thái vô vi mà sai khiến toàn cả vạn linh trong CKVT.

 

11.

Thời thừa lục long,

 

du hành bất tức.

 

時 乘 六 龍
遊 行 不 息

 

GIẢI NGHĨA

Thời: Thường thường. Thừa: Cỡi. Lục long: Sáu con rồng. Du hành: Ði khắp nơi. Bất tức: Không ngừng nghỉ.

Lục long là 6 con rồng, tượng trưng 6 vạch liền của quẻ CÀN trong Kinh Dịch.

Vương Bật, thuộc phái Huyền học thời Nam Bắc Triều bên Tàu, chú giải tượng của quẻ Càn trong Kinh Dịch như sau:

"Thời thừa lục long dĩ ngự Thiên, Càn đạo biến hóa, các chánh tánh mạng." Nghĩa là: Luôn luôn cỡi 6 rồng để ngự trị Trời, đạo Càn biến hóa, mỗi vật giữ ngay ngắn vận mạng của bản tánh.

Càn tượng trưng Trời. Thời thừa lục long là chỉ cái sức mạnh mẽ của Ðấng Thượng Ðế bao trùm CKVT như 6 con rồng vùng vẫy trong không trung.

Du hành bất tức là chỉ sự vận chuyển và sự biến hóa luôn luôn, và vô cùng tận của Ðấng Thượng Ðế.

Nơi nóc Plafond dù ở 9 cấp Cửu Trùng Ðài của Tòa Thánh Tây Ninh, có tạc hình 6 con rồng đoanh nhau theo 3 màu đạo: 2 rồng vàng, 2 rồng xanh, 2 rồng đỏ, để tượng trưng cho Câu kinh 11 ở trên.

C.11: Nghĩa đen là: Thường cỡi 6 rồng đi khắp nơi không ngừng nghỉ. Nghĩa bóng là: Cái sức mạnh to lớn và sự chuyển vận biến hóa vô cùng tận của Ðấng Thượng Ðế.

 

12.

Khí phân Tứ Tượng.

13.

Oát triền vô biên.

 

氣 分 四 象
斡 旋 無 邊

 

GIẢI NGHĨA

Câu 12: Khí phân Tứ Tượng.

Khí: Chất khí, ở đây chỉ khí Lưỡng Nghi: Âm quang và Dương quang. Phân: Chia ra. Tứ Tượng: Bốn Tượng gồm: Thái Dương, Thái Âm, Thiếu Dương, Thiếu Âm.

Theo phần Giải nghĩa nơi Câu 1 và Câu 2 thì: Khí Hư Vô biến sanh Thái Cực, ngôi của Ðức Chí Tôn và đó cũng là một Khối Ðại Linh Quang của Ðức Chí Tôn. Ðức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Âm quang và Dương quang. Hai khí nầy xây chuyển và phối hợp với nhau để sanh ra Tứ Tượng. Rồi Tứ Tượng biến hóa tiếp tục để tạo ra Bát Quái. Bát Quái biến hóa vô cùng để tạo thành CKVT và vạn vật.

Như vậy, nguồn gốc phát khởi là Khí Hư Vô.

Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng đều là thể khí với nguồn năng lực là ánh sáng linh thiêng vô cùng tận. Tới khi Bát Quái biến hóa thì bắt đầu có Trời Ðất và vạn vật hữu hình.

C.12: Khí phân Tứ tượng là 2 khí Dương quang và Âm quang phối hợp để hóa sanh ra Tứ Tượng.

Câu 13: Oát triền vô biên.

Oát: Chuyển xoay đi. Triền: Xoay trở lại. Oát triền là xoay chuyển qua lại. Vô biên: Không biên giới, không giới hạn.

CHÚ Ý: Chữ Hán 斡 旋 phải phiên âm ra tiếng Việt là OÁT TRIỀN thì mới đúng chánh tả, theo Từ Ðiển Hán Việt của Ðào Duy Anh quyển II, trang 87 và 490.

C.13: Xoay chuyển qua lại, rộng ra không giới hạn.

 

14.

Càn kiện cao minh.

15.

Vạn loại thiện ác tất kiến.

 

乾 健 高 明
萬 類 善 惡 悉 見

 

GIẢI NGHĨA

Câu 14: Càn kiện cao minh.

Càn: Quẻ đầu tiên trong Bát Quái, tượng trưng Trời. Kiện: Mạnh mẽ. Cao: Ở trên cao. Minh: Sáng tỏ.

C.14: Ngôi Càn mạnh mẽ, cao vọi, sáng tỏ.

Trong quyển "Châu Dịch Huyền Giải" của Minh Lý Ðạo ấn tống, nói về sự mạnh mẽ của ngôi Càn như sau:

"Kiền (Càn) là cương kiện. Nói rõ hơn, Kiền là cương kiện bất khuất chi nghĩa. Thế của nó có 6 hào đều dương, tượng của nó là thuần dương (nên nói 6 rồng, rồng thuộc về Dương). Mạnh không chi bằng Trời, Trời là Ðạo, một khí lưu hành, tuần hoàn không giáp mối, trải bao nhiêu thời gian, không gian, không ngằn mé (vô biên). Vạn vật không có một vật nào mà không đặng nó che chở, mà cũng không vật nào làm hại nó được."

Câu 15: Vạn loại thiện ác tất kiến.

Vạn loại: Muôn loài sanh vật trong CKVT. Thiện ác: Lành và dữ. Tất: Ðều, biết rõ. Kiến: Thấy, biết.

C.15: Việc lành, việc dữ của muôn loài vật đều biết và thấy rõ.

Do đó, trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn dạy thờ Thiên Nhãn là thờ THẦY. Thầy là Trời, là Thượng Ðế, mà theo lời nói thông thường là Trời cao có Mắt, cái gì cũng thấy rõ hết, dầu giấu giếm kín đáo đến đâu cũng không thể che được con Mắt thiêng liêng của Trời được.

 

16.

Huyền phạm quảng đại.

17.

Nhứt toán họa phước lập phân.

 

玄 範 廣 大
一 算 禍 福 立 分

 

GIẢI NGHĨA

Câu 16: Huyền phạm quảng đại.

Huyền: Sâu xa kín đáo, huyền diệu. Phạm: Khuôn mẫu để người ta bắt chước làm theo, phép tắc. Quảng: Rộng lớn. Ðại: Lớn. Quảng đại là rộng lớn.

C.16: Cái khuôn phép huyền diệu và rộng lớn.

Phạm vi khuôn phép của Trời Ðất rộng lớn mênh mông vô cùng, nhưng cũng rất huyền diệu, dầu một mũi kim nhỏ cũng không qua lọt, một mảy cũng không bỏ sót. Cho nên có câu: Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu. Nghĩa là: Lưới Trời lộng lộng, thưa mà không lọt.

Câu 17: Nhứt toán họa phước lập phân.

Nhứt: Một. Toán: Ðếm số mà tính ra nhiều ít, làm toán, tính toán. Họa: Tai vạ lớn. Phước: Ðiều may mắn tốt lành. Lập: Tạo nên, lập thành. Phân: Chia ra.

C.17: Chỉ một cái tính toán mà Ðức Chí Tôn tạo lập và chia ra một cách rành rẽ cái nào là họa, cái nào là phước.

Cái tính toán của Ðức Chí Tôn thể hiện bằng Cây Cân Công Bình thiêng liêng, để cân họa phước, trong nháy mắt thì biết rõ kết quả: Phước nhiều thì thăng, tội nhiều thì đọa.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo về Con đường Thiêng liêng Hằng sống, có mô tả Ðức Chí Tôn cầm Cây Cân Công Bình thiêng liêng như sau:

"Vừa nói rồi thì thấy Ổng (Ðức Chí Tôn) bước ra đứng ngay chính giữa, ngó ngay Bần đạo, dường như thể biểu con coi đây, ngó ngay lên Ổng, thấy đạo hào quang chiếu diệu ra, tay cầm cây gậy coi đẹp lắm. Cây gậy của Ổng quảy cái bầu, bên mình Ổng mang một cái bị, mặc bộ đồ Ngọc Hoàng Thượng Ðế, nắm ngang cây gậy trên tay thành cây đòn cân, Ổng kéo cái bầu ra thành cái giá cân, Ổng kéo cái bị ra thành trái cân. Ba món báu ấy hiệp lại thành Cây Cân Công Bình thiêng liêng mà chính mình đã thấy Ổng nơi Linh Tiêu Ðiện."

 

18.

Thượng chưởng Tam thập lục Thiên,

 

Tam thiên Thế giới.

 

上 掌 三 十 六 天
三 千 世 界

 

GIẢI NGHĨA

Thượng: Ở trên, phần trên. Chưởng: Nắm giữ, cai quản . Tam thập lục: 36. Thiên: Ở đây có nghĩa là từng Trời. Tam thập lục Thiên là 36 từng Trời. Tam thiên: 3000. Thiên là một ngàn. Thế giới: Ðịa cầu. Khi nhìn lên bầu trời vào đêm, chúng ta thấy những vì sao lấp lánh sáng, đó là những Thế giới. Những Thế giới thanh nhẹ thì ở trên cao, những Thế giới ít thanh nhẹ hơn thì ở dưới thấp. Tam thiên Thế giới là 3000 Thế giới, tức 3000 Ðịa cầu.

C.18: Ở phần trên của Vũ trụ, Ðức Chí Tôn chưởng quản 36 từng Trời và 3000 Thế giới.

Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy Luật Tam Thể, có đoạn nói về Tam thiên Thế giới và Thất thập nhị Ðịa như sau:

"Mấy em thử phân lại Tam thiên Thế giới và Thất thập nhị Ðịa coi thử? Bạch: Tam thiên Thế giới là ở từng trên bao phủ mà Thất thập nhị Ðịa ví như bàn cờ ở dưới. Ðức Cao Thượng Phẩm nói: Phải đó vậy. Tam thiên Thế giới là ngôi vị, còn Thất thập nhị Ðịa là Trường thi Công quả, hiểu chưa?"

Theo lời dạy của Ðức Cao Thượng Phẩm thì bên trên của vũ trụ hữu hình là 3000 Thế giới, chỉ gồm có những ngôi vị của chư Thần Thánh Tiên Phật, còn bên dưới của vũ trụ là 72 Ðịa cầu có nhơn loại ở, nơi đó dùng làm Trường Thi Công Quả, tức là để cho nhơn loại tu hành, lập công bồi đức mà đắc đạo, đoạt được quả vị và được thăng lên ở trên 3000 Thế giới.

 

19.

Hạ ốc Thất thập nhị Ðịa,

 

Tứ Ðại Bộ Châu.

 

下 握 七 十 二 地
四 大 部 洲

 

GIẢI NGHĨA

Hạ: Ở dưới, ở phần dưới. Ốc: còn đọc là Ác, nghĩa là: Nắm lấy, cầm giữ.

Thất thập nhị: 72. Ðịa: Ðịa cầu. Thất thập nhị Ðịa: 72 quả Ðịa cầu. Các Ðịa cầu nầy được đánh số từ cao dần xuống thấp, tức là từ thanh khiết xuống trọng trược, và Ðịa cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là Ðịa cầu số 68.

Tứ: 4. Ðại: Lớn. Bộ: Ngành, môn. Châu: Vùng đất lớn có biển bao bọc chung quanh.

Tứ Ðại Bộ Châu là 4 Bộ Châu lớn được phân chia theo 4 hướng: Ðông, Tây, Nam, Bắc , có tên là:

  • Ðông Thắng Thần Châu,

  • Tây Ngưu Hóa Châu,

  • Nam Thiệm Bộ Châu,

  • Bắc Câu Lư Châu.

Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu) được chia ra ở trong Tứ Ðại Bộ Châu nầy. Ðịa cầu 68 của nhơn loại chúng ta thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.

C.19: Ở phần dưới của vũ trụ, Ðức Chí Tôn chưởng quản 72 Ðịa cầu và 4 Bộ Châu lớn.

Tóm tắt 2 Câu 18 & 19:

Phần trên của vũ trụ là Tam thập lục Thiên và Tam thiên Thế giới; phần dưới của vũ trụ là Tứ Ðại Bộ Châu và Thất thập nhị Ðịa. Tất cả trên dưới đều do Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế tạo dựng và chưởng quản. Như vậy CKVT của Ðức Chí Tôn gồm có 2 phần: Hữu hình và Vô hình.

  • Phần Vô hình gồm: Tam thập lục Thiên và Tứ Ðại Bộ Châu (36 từng Trời và 4 Bộ Châu lớn).

  • Phần Hữu hình gồm: Tam thiên Thế giới và Thất thập nhị Ðịa (3000 Thế giới và 72 Ðịa cầu).

Ðức Chí Tôn dạy Ông Phối Sư Thái Bính Thanh làm một Trái Càn Khôn tượng trưng CKVT thờ nơi BQÐ TTTN:

TNHT. I. 45: "Bính! Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không? Cười ... Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm 3 thước 3 tấc, nghe con! Lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hóa trong ấy, mà sơn màu xanh da trời, Cung Bắc Ðẩu và Tinh tú vẽ lên Trái Càn Khôn ấy.

Thầy kể, Tam thập lục Thiên, Tứ Ðại Bộ Châu, ở không không trên không khí, tức là không phải Tinh tú, còn lại Thất thập nhị Ðịa và Tam thiên Thế giới thì đều là Tinh tú. Tính lại 3072 ngôi sao. Con phải biểu vẽ lên đó cho đủ.

Con giở sách Thiên văn Tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Ðẩu, con phải vẽ 2 cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Ðẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Ðẩu, vẽ Con Mắt Thầy."

 

20.

Tiên Thiên, Hậu Thiên,

 

Tịnh dục Ðại Từ Phụ.

 

先 天 後 天
並 育 大 慈 父

 

GIẢI NGHĨA

Tiên: Trước. Hậu: Sau. Thiên: Trời.

Tiên Thiên là trước khi tạo dựng Trời Ðất. Thời kỳ Tiên Thiên nằm trong khoảng thời gian từ khi xuất hiện ngôi Thái Cực cho đến khi Thái Cực phân ra Lưỡng Nghi Âm Dương. Dương nhẹ nổi lên thành Trời, Âm nặng chìm xuống thành Ðất. Thời kỳ Tiên Thiên còn ở trạng thái Vô vi, vô hình.

Hậu Thiên là sau khi tạo dựng Trời Ðất. Thời Hậu Thiên nằm trong khoảng thời gian sau khi xuất hiện Lưỡng Nghi, tức là sau khi có được Trời Ðất, tức CKVT và vạn vật. Thời kỳ nầy thuộc về Hữu hình sắc tướng.

             Thái Cực                     Lưỡng Nghi            Trục thời gian
--------------------
O----------------------------
----------------------X---------------------------------------------->>
Hồng mông (Hỗn Ðộn)   Tiên Thiên            Hậu Thiên

Tịnh: Cùng, đều. Dục: Nuôi dưỡng. Tịnh dục là nuôi dưỡng đồng đều như nhau. Ðại: Lớn. Từ: Lòng thương yêu chúng sanh. Phụ: Cha. Ðại Từ Phụ là người Cha lớn hơn hết các người cha, có lòng lành thương yêu chúng sanh, vì chúng sanh đều là con cái của Ngài. Ðấng ấy là Ngọc Hoàng Thượng Ðế, nay gọi là Ðấng Cao Ðài.

C.20: Trước khi tạo dựng Trời Ðất, sau khi tạo dựng Trời Ðất, Ðức Chí Tôn là Ðại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh, nuôi dưỡng chúng sanh đồng đều như nhau.

Ðấng Thượng Ðế nuôi sống chúng sanh bằng không khí để thở, bằng ánh sáng mặt trời để sưởi ấm, nước để uống và các loại thực phẩm. Không vì người đạo đức mà Thượng Ðế ban cho nhiều hơn, hay không vì kẻ hung bạo gian tà mà ban cho nó ít hơn, không ban cho nó sống. Còn các vật, không vì loài hữu ích mà ban cho nó nhiều, không vì loài độc hại mà lấy bớt. Thượng Ðế nuôi dưỡng chúng sanh mọi loài đều như nhau. Tình thương của Thượng Ðế chan hòa đồng đều khắp cả.

Mặt khác, Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế là Thầy mà cũng là Cha (Ðại Từ Phụ). Ðức Phạm Hộ Pháp thắc mắc điểm nầy nên có cầu Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, hỏi:

- Phàm là Cha thì làm Cha, còn Thầy thì làm Thầy, chớ sao Ðại Từ Phụ lại xưng là Thầy, rất nên khó hiểu?

Ðức Nguyệt Tâm trả lời bằng bài thơ Pháp văn, dịch ra thơ song thất lục bát như sau: (Ðức Phạm Hộ Pháp dịch)

Người cũng vẫn Cha Thầy luôn một,
Cả chơn linh, hài cốt, tay Người.
Nuôi mình dùng vật thanh tươi,
Tạo hồn lấy phép tột vời Chí Linh.

Nơi Người vốn quang minh cách trí,
Tấn hóa hồn phép quí không ngưng.
Vật hèn trước mắt thành trân,
Hồn hèn Người lại dành phần Phật Tiên.

Luật Thương yêu, quyền là ngay chánh,
Gần thiện căn, xa lánh phàm tâm.
Làm Cha nuôi sống âm thầm,
Làm Thầy lại nhượng phẩm Thần ngôi Tiên.

 

21.

Kim ngưỡng, cổ ngưỡng.

22.

Phổ tế Tổng Pháp tông.

 

今 仰 古 仰
普 濟 總 法 宗

 

GIẢI NGHĨA

Câu 21: Kim ngưỡng, cổ ngưỡng.

Kim: Thời nay. Cổ: Thời xưa. Ngưỡng: Ngửa mặt nhìn lên với lòng kính mến.

C.21: Thời nay cũng như thời xưa, đều được kính mến.

Câu 22: Phổ tế Tổng Pháp tông,

Phổ: Khắp nơi, rộng lớn. Tế: Giúp đỡ. Tổng: Gom lại. Pháp: Pháp có nghĩa rất rộng, ở đây, Pháp có nghĩa là Giáo lý của một nền tôn giáo. Tông: còn đọc là Tôn: Tôn giáo. Pháp tông là giáo lý của một tôn giáo.

Tổng Pháp tông là gom tất cả Giáo lý của các nền tôn giáo lại thành một mối.

C.22: Giúp đỡ chúng sanh, gom tất cả Giáo lý của các nền tôn giáo có từ trước tới nay thống nhứt thành một mối dưới sự chưởng quản của Ðức Chí Tôn.

Xưa kia, Ðức Chí Tôn cho khai mở riêng rẽ nhiều nền tôn giáo khác nhau nơi các vùng dân cư khác nhau trên mặt Ðịa cầu nầy, để giáo hóa và cứu giúp dân chúng vùng đó, vì thuở ấy, con người còn kém văn minh, việc đi lại và thông tin từ nơi nầy đến nơi khác rất khó khăn. Các tôn giáo chỉ hành đạo nơi địa phương riêng của mình mà thôi. Bởi thế, nhơn loại bị phân chia đối nghịch nhau, cho đạo mình là chánh, đạo khác là tà.

Ngày nay, nhơn loại tiến đến một nền văn minh rất cao, nhơn loại đã hiệp đồng, và cũng đúng vào thời kỳ Hạ nguơn Mạt kiếp, một cuộc Tận thế sắp xảy ra, để chuyển sang Thượng nguơn Thánh đức, nên Ðức Chí Tôn mở lòng Ðại từ Ðại bi, khai sáng ÐÐTKPÐ để gom tất cả Giáo lý của các nền tôn giáo đã có từ trước tới nay, qui về một mối duy nhứt là Ðạo Cao Ðài, không còn chia rẽ phân biệt nhau, cùng nhau có chung một tín ngưỡng, cùng thờ một Ðấng Duy Nhứt Tối Cao, Chúa Tể CKVT, và cũng là Ðại Từ Phụ của nhơn loại. Ðó chính là tôn chỉ của Ðạo Cao Ðài: Qui nguyên Tam giáo, Phục nhứt Ngũ Chi.

Ðây là thời kỳ mà Ðức Chí Tôn làm một cuộc Tổng Pháp tông, thống hợp các tôn giáo, cứu độ toàn chúng sanh trong buổi đời Mạt kiếp của Hạ Nguơn Tam Chuyển nầy.

 

23.

Nãi Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần chi quân,

24.

Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ.

 

乃 日 月 星 辰 之 君
為 聖 神 仙 佛 之 主

 

GIẢI NGHĨA

Câu 23: Nãi Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần chi quân.

Nãi: Bèn, hóa ra là, ấy là. Nhựt: Mặt trời. Nguyệt: Mặt trăng. Tinh: Ngôi sao, tinh tú. Thần: Ngày giờ, chỉ về thời gian. Chi: Tiếng đệm. Quân: Vua.

Nhựt, Nguyệt, Tinh là Tam bửu trên bầu trời, chỉ về Không gian. Thần là ngày giờ, chỉ về Thời gian.

Câu 23: Ấy là vua của Mặt trời, Mặt trăng, Ngôi sao, và ngày giờ, tức là vua của Không gian và Thời gian.

Ðức Chí Tôn có giáng cơ dạy rằng:

"Thập nhị Khai Thiên là Thầy, Chúa cả Càn Khôn Thế Giới, nắm trọn Thập nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy," (TNHT. I.12)

Theo Bài Thánh ngôn nầy, Ðức Chí Tôn là Chúa của Càn Khôn Thế Giới, tức là Chúa của Nhựt Nguyệt Tinh; và Ðức Chí Tôn cũng là Chúa của Thập nhị Thời Thần, tức là Chúa của Thời gian.

Câu 24: Vi Thánh Thần Tiên Phật chi chủ.

Vi: Là. Thánh, Thần, Tiên, Phật: Bốn cấp phẩm vị thiêng liêng dành cho những người đạo đức tu hành đắc quả, tùy theo công đức nhiều ít mà được phẩm vị cao thấp tương xứng. Phẩm thấp nhứt là Thần, cao hơn chút là phẩm Thánh, cao hơn nữa là phẩm Tiên, và cao nhứt là phẩm Phật. Chi: Tiếng đệm. Chủ: Người làm chủ, làm Chúa, tức là người làm ra sự vật và có toàn quyền quyết định số phận của sự vật ấy.

C.24: Là người chủ của chư Thần, Thánh,Tiên, Phật.

Người chủ đó là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Ðức Chí Tôn, chẳng những là chủ của các Ðấng ấy, mà còn là Cha sanh ra các Ðấng ấy nữa.

TNHT. I. 52: "Khai Thiên Ðịa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy. Thầy nói một Chơn thần mà biến Càn Khôn Thế Giới và cả nhơn loại.

Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy.

Các con là chư Phật, chư Phật là các con.

Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới, nên mới gọi là Pháp. Pháp có mới sanh ra Càn Khôn Vạn vật, rồi mới có người, nên gọi là Tăng.

Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy,"

Nhiều người mê chấp cho rằng, chỉ có Phật là lớn, còn Thượng Ðế là Ông Trời thì nhỏ hơn Phật. Họ dẫn chứng bằng Truyện Tây Du, khi Tề Thiên Ðại Thánh loạn Thiên Cung, Thượng Ðế cũng phải thua chạy, phải cầu cứu Phật Tổ. Phật Tổ qua mới bắt được Tề Thiên, đem đè dưới Ngũ Hành Sơn.

Ðầu truyện thì nói Tề Thiên tài giỏi như thế, song về sau thì Tề Thiên rất dở, đánh không lại nhiều con yêu, phải đi cầu cứu thầy của chúng xuống bắt về. Xét như thế để thấy rằng Truyện Tây Du trước sau không thống nhứt, không đáng tin.

Mặt khác, chúng ta thử hỏi: Phật Tổ do đâu mà có? Trả lời: Do Thái tử Sĩ Ðạt Ta đi tu thành Phật. Thái tử Sĩ Ðạt Ta chỉ là một người nơi thế gian. Thể xác của Thái Tử do vua cha và hoàng hậu, mẹ của Thái tử sanh ra, nhưng Linh hồn và Chơn Thần của Thái tử do đâu mà có?

Chúng ta biết rằng, tất cả đều do Thượng Ðế sanh ra. Ðó là Ðấng Ðại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh. Dù con người có tu thành Phật thì Phật đó cũng vẫn là con của Thượng Ðế, mà con thì không thể lớn hơn cha.

Ðây là một Chơn lý không thể chối cãi được. Nó có tính cách khoa học hợp lý, chớ không phải do mê tín đặt ra.

 

25.

Trạm tịch chơn đạo.

26.

Khôi mịch tôn nghiêm.

 

湛 寂 眞 道
恢 漠 尊 嚴

 

GIẢI NGHĨA

Câu 25: Trạm tịch chơn đạo.

Trạm: Nước sâu, sâu dày. Tịch: Yên lặng. Trạm tịch: Sâu dày và yên lặng. Chơn: Thật, thường nói Chơn thật.

Ðạo: Nguyên lý đầu tiên tạo thành CKVT và vạn vật. (Xem giải nghĩa chi tiết chữ Ðạo trong Kinh Tiên giáo). Ở đây, chữ Ðạo có nghĩa là nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn.

C.25: Nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn chơn thật, sâu dày và yên lặng.

Câu 26: Khôi mịch tôn nghiêm.

Khôi: To lớn. Mịch: còn đọc là Mạc, nghĩa là yên lặng. Tôn: Ðáng kính. Nghiêm: Vẻ oai nghi đáng nể sợ.

C.26: Nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn to lớn, lặng lẽ, đáng kính, oai nghiêm.

Nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn mở ra bao gồm các Giáo lý của Tam giáo và Ngũ Chi, nên nó là một nền Ðại Ðạo chơn chánh, vĩ đại, sâu xa, cao quí, tôn nghiêm, và huyền diệu vô cùng. Có được như vậy mới độ được 92 ức nguyên nhân còn đang bị đọa lạc nơi cõi trần, đồng thời tận độ toàn cả chúng sanh, trong thời kỳ Mạt Kiếp Hạ Nguơn, để chuyển qua thời kỳ Thượng Nguơn Thánh đức.

 

27.

Biến hóa vô cùng.

28.

Lũ truyền bửu kinh dĩ giác thế.

 

變 化 無 窮
屢 傳 寶 經 以 覺 世

 

GIẢI NGHĨA

Câu 27: Biến hóa vô cùng.

Biến hóa: Thay đổi thành cái khác, hay đổi sang trạng thái khác, hình thức khác. Vô cùng: Không có chỗ cuối cùng, không giới hạn.

C.27: Biến hóa không cùng tận.

Câu 28: Lũ truyền bửu kinh dĩ giác thế.

Lũ: Nhiều lần. Lũ truyền: Nhiều lần truyền ra khắp nơi. Bửu: còn đọc là Bảo, nghĩa là quí báu. Kinh: Kinh sách. Bửu kinh: Kinh sách quí báu. Dĩ: Ðể mà, dùng để. Giác: Tỉnh ra mà biết rõ, trái với Mê. Giác và Mê, tỷ như người thức với kẻ ngủ, thức là Giác, ngủ là Mê. Giác là Phật, Mê là chúng sanh. Thế: Ðời, người đời. Giác thế: Giác ngộ người đời, làm cho người đời tỉnh ra mà biết rõ, đâu là tạm bợ, đâu là vĩnh cửu, đâu là thật, đâu là giả, vv...

C.28: Nhiều lần truyền bá kinh sách quí báu để giác ngộ người đời.

Từ xưa đến nay, Ðức Chí Tôn đã nhiều lần cho các Ðấng Phật Tiên giáng trần mở Ðạo cứu đời: Ðức Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Ðộ, Ðức Chúa Jésus mở Thánh giáo ở nước Do Thái; Ðức Lão Tử, Ðức Khổng Tử mở Tiên giáo và Nho giáo tại Trung Hoa, vv... Các Ðấng Giáo chủ ấy đã thuyết giảng biết bao giáo lý cao siêu, ghi lại thành kinh sách quí báu, truyền bá trong dân chúng, hầu thức tỉnh người đời bỏ mê tìm giác, lo việc tu hành mà trở về ngôi xưa vị cũ.

 

29.

Linh oai mạc trắc.

30.

Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh.

 

靈 威 莫 測
常 施 神 敎 以 利 生

 

GIẢI NGHĨA

Câu 29: Linh oai mạc trắc.

Linh: Thiêng liêng. Oai: Cái vẻ trang nghiêm khiến người khác phải nể sợ. Mạc: Không. Trắc: Ðo lường. Mạc trắc là không thể đo lường để biết được.

C.29: Cái oai quyền thiêng liêng của Ðức Chí Tôn không thể đo lường để biết hết được.

Người thời nay, nơi các nước văn minh tối tân Âu Mỹ, Nhựt, đã chế tạo được máy bay, tàu lặn, hỏa tiển, phi thuyền, năng lượng nguyên tử, người máy, vv... tưởng như vậy là giỏi lắm, có thể cướp được quyền Tạo Hóa.

Chúng ta phải nói rằng, họ hoàn toàn sai lầm trong tư tưởng, vì họ chưa biết rõ cái oai quyền thiêng liêng của Thượng Ðế. Họ không thể tạo ra được sự sống, họ chỉ tạo ra được sự chết mà thôi. Chừng nào mà các nhà khoa học chế tạo được một người máy Nam và một người máy Nữ, cho phối hợp với nhau như vợ chồng, đẻ ra được một người máy con, thì họ mới gọi là cướp được quyền của Tạo Hóa.

Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế là Ðấng duy nhứt tạo ra được sự sống và làm chủ sự sống đó.

Ngài là chủ tể của 2 nguyên lý Âm Dương và Ngũ Hành (Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ). Ðức Chí Tôn chỉ dùng cái oai linh của Ngài để xoay chuyển Ngũ Hành cho đảo lộn một chút thôi, thì chúng ta tưởng tượng sẽ xảy ra như thế nào?

- Súng đạn không có lửa nẹt ra đúng lúc để nổ.

- Tàu bè, xe cộ, không có xăng lửa (Thủy Hỏa) điều hòa thì máy móc làm sao chuyển động được.

- Ðiện tử, điện trường, từ trường bị xáo trộn, làm sao tạo ra được các phản ứng vật chất.

- Ngũ tạng, Lục phủ trong thân thể con người sẽ rối loạn, làm cho con người mê loạn và chết thảm.

Vậy thì, con người dù khôn ngoan đến đâu cũng không thể bằng Trời, mà cũng không thể chống lại Trời.

Người khôn ngoan là người biết nương theo các định luật của Tạo Hóa để mau tiến hóa.

Câu 30: Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh.

Thường: Luôn luôn, hằng có. Thi: Sắp đặt mà làm ra, thi hành. Giáo: Dạy. Dĩ: Ðể mà, dùng để. Lợi: Có ích. Sanh: Sống, ý nói nhơn sanh, chúng sanh. Thần: Có 2 nghĩa tùy theo trường hợp: Thần là thiêng liêng; Thần là một trong Tam Bửu Tinh, Khí, Thần, nên Thần là Chơn linh, Linh hồn.

Do đó, Câu kinh trên có thể được giải thích bằng 2 cách tùy theo nghĩa của chữ Thần:

1. Thần là thiêng liêng: Thần giáo là lời giáo huấn thiêng liêng của chư Tiên, Phật. Thần giáo đồng nghĩa với Thánh giáo.

C.30: Thường đặt ra các lời giáo huấn thiêng liêng để làm ích lợi cho nhơn sanh.

2. Thần là Chơn linh. Thi Thần là sắp đặt cho các Chơn linh.

C.30: Thường sắp đặt cho các Chơn linh giáng trần mở đạo giáo hóa nhơn sanh để làm lợi ích cho nhơn sanh.

Cách giải thích nầy phù hợp với Câu kinh 28: Lũ truyền bửu kinh dĩ giác thế: Nhiều lần truyền bá kinh sách quí báu để giác ngộ người đời.

Ðức Chí Tôn đã nhiều phen sắp đặt cho các Chơn linh cao trọng giáng trần lập Ðạo, giáo hóa nhơn sanh tu hành, tức là làm lợi ích cho nhơn sanh. Nhưng, nhơn sanh u mê tăm tối, lại bị Quỉ Vương xúi giục, cám dỗ, nên lần lần các mối Ðạo quí báu bị sửa cải Chơn truyền, qui phàm, mất hết giá trị.

 

31.

Hồng oai, hồng từ.

32.

Vô cực, vô thượng.

 

洪 威 洪 慈
無 極 無 上

 

GIẢI NGHĨA

Câu 31: Hồng oai, hồng từ.

Hồng: To lớn, rộng lớn. Oai: Vẻ trang nghiêm đáng nể sợ. Thường nói: Oai quyền. Từ: Lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới, lòng thương yêu chúng sanh.

1) Hồng oai: Cái oai quyền to lớn do lòng thương yêu mà có, chớ không phải do sức mạnh vũ lực đè nén người, nhờ đó mà làm cho người ta phải tâm phục.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo có kể lại một câu chuyện để chúng ta hiểu cái Hồng Oai của Ðức Chí Tôn:

"Bần đạo đã đọc sự tích đó hồi còn đi học. Có 2 anh em bạn học ở chung một trường với nhau. Tới kỳ thi Tú Tài thì người bạn thi rớt, về thất chí đến nước muốn hủy mình, mà may có một điều, người bạn tâm tình kia đem cả sự đau khổ tâm hồn mình tỏ cho bạn mình. Người bạn an ủi khuyên lơn chi cũng không được hết.

Hôm nọ, người thất chí đó nhứt định đi ra đón xe lửa đặng nhào đầu vô xe lửa chết, mà không dè là người bạn của mình đi theo bén gót, đi theo xa xa, giữ gìn mà không hay. Ông ta mới vừa đi lại gần xe lửa, người bạn chạy theo níu, năn nỉ giữ lại đó. Người kia vùng vẫy, đổ quạu lên nói: "Mầy tưởng đâu mầy thương tao mà mầy kéo dài sự đau khổ của tao, chớ không phải mầy thương tao."

Bây giờ chẳng thế gì can gián được, nên phải dùng chiến lược khác, phát gây lộn, nói: "Cái thân thể mầy đã dở, mầy ngu, mầy thi rớt, rồi mầy muốn hủy mình. Mầy mà có chết đi nữa, linh hồn mầy xuống Ðịa ngục là thằng tù ngu, dầu có được Ðức Chí Tôn tức nhiên Ðức Chúa Trời ban cho mầy thành Ông Thánh đi nữa, mầy cũng là Ông Thánh ngu."

Mắng, 2 đàng đánh lộn, ôm vật với nhau, đánh thẳng tay, mà cái Ông kia, mình làm mưu không nỡ đánh lắm, đánh sợ đau bạn. Còn Ông bạn kia đổ quạu thật, đánh thôi mình mẩy sưng tùm lum túa lua, rồi đem vô nhà thương nằm. Vô đó, người bạn đó mới nói: Mầy ơi! Tao cốt yếu cố tâm đặng cứu mầy, mầy làm tao thân thể như thế nầy, thôi hết sức nói.

Tới chừng người kia nằm kế bên mới động lòng khóc mướt, rồi ôm người bạn khóc mướt đó vậy. Cứu được, từ đó anh ta theo mãi, tới thi đậu ra trường thôi.

Ðó, Hồng Oai đó. Bây giờ mình mới nghĩ coi Hồng Oai mà làm được như vậy cũng nên làm chớ."

Cái oai quyền của một người Cha đối với đàn con có được là do đâu? Có phải là do lòng thương yêu của Cha đối với Con, và của Con đối với Cha. Chính 2 sự thương yêu tương liên đó tạo ra oai quyền của Cha đối với Con.

Còn Hồng Oai của Ðức Chí Tôn là đối với toàn thể vạn linh trong CKVT, là con cái thương yêu của Ngài. Ðức thương yêu của Ðức Chí Tôn vô cùng tận thì Hồng Oai của Ðức Chí Tôn cũng vô cùng tận.

2) Hồng từ: Lòng thương yêu to lớn, không vì lợi ích riêng cho mình mà vì lợi ích cho xã hội nhơn quần. Ðó là lòng thương yêu cao cả, vượt trên ích kỷ nhỏ nhen để đem lại lợi ích chung.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng về Hồng từ của Ðức Chí Tôn như sau:

"Hồng từ, ta thử kiếm hiểu, phải có cái tinh thần Ðại từ bi, Ðại bác ái, nghĩa là mọi điều nó phải do nơi Luật Tương đối hiện tượng, bây giờ là cái tình đời thì ta phải khoan hồng dung thứ. Muốn làm cho không lầm, phải có tinh thần lịch lãm và khoan dung.

Nắm được tánh đức Hồng từ của Ðức Chí Tôn, lịch lãm, ta phải biết mình biết người.

Một cái gương lịch lãm từ cổ chí kim, chưa hề có một lần thứ nhì nữa là Vua Nghiêu, có 9 người con: 7 trai, 2 gái, mà đi tìm Ông Thuấn đặng truyền ngôi vua lại. Còn mấy người con trai kia, ta thử nghĩ thế nào đã? Khi tìm đặng Ông Thuấn, đem 2 người con gái gả hết, Nga Hoàng và Nữ Anh (gả hết cho Ông Thuấn), mà ta thử nghĩ Ông Thuấn là gì? Một tên ít học, cày ruộng, cha là Cổ Tẩu, em là Tượng ghét đáo để, nhứt là bà kế mẫu. Ngài (Ông Thuấn) bị hiếp bức. Ta thử nghĩ vì lẽ gì Vua Nghiêu chọn Ông Thuấn làm vua kế nghiệp cho Ngài (vua Nghiêu), chỉ vì Ông Thuấn là người hiếu mà thôi.

Với cái tánh lịch lãm, vua Nghiêu cho tánh đức hiếu nghĩa là đủ hết rồi. Hễ hiếu cùng cha mẹ, nghĩa cùng anh em, 2 tánh đức đó đủ cả tinh thần đặng trị thiên hạ. Ngài đoán rồi chọn Ông Thuấn. Ngài không lầm, quả nhiên Ông Thuấn đã thành một vị Hoàng Ðế, từ cổ chí kim, chưa hề có một người thứ nhì nữa.

Ấy là lịch lãm, nhờ cái tinh thần lịch lãm của vua Nghiêu, mà cả sự hèn hạ của Ông Thuấn kia nó mất hết. Ông chỉ lấy có Hiếu với Nghĩa mà thôi. Ấy là cái gương lịch lãm khoan dung, mà cái cử chỉ của vua Nghiêu truyền ngôi cho Ông Thuấn là một cái Hồng Từ mà tự thử tới giờ, chưa có ai làm một lần thứ nhì nữa."

Qua lời thuyết đạo của Ðức Phạm Hộ Pháp, chúng ta thấy vua Nghiêu cũng thương con lắm, nhưng Ngài lại yêu dân hơn yêu con, vì Ngài thấy rõ, con của Ngài không thể làm cho dân hạnh phúc bằng Ông Thuấn, nên Ngài dẹp bỏ lòng thương yêu ích kỷ, truyền ngôi cho Ông Thuấn. Do đó, Ðức Hộ Pháp mới cho vua Nghiêu có Hồng Từ vậy.

Chúng ta xét trong CKVT nầy, có ai oai quyền hơn Ðức Chí Tôn không? Ðó là cái oai quyền của một ông chủ sáng lập ra cái gia tài đồ sộ là CKVT và vạn vật. Ðó là cái oai quyền của một ông vua đối với các bề tôi là chư Thần Thánh, Tiên, Phật.

Ðức Chí Tôn có sử dụng cái oai quyền to lớn ấy để trấn áp ai không? Ðức Chí Tôn chỉ dùng tình thương yêu bao la mà ban phát cho tất cả con cái của Ngài, để mong cải hóa họ trở về nẻo chánh đường ngay; cả những đứa con hung bạo, ngỗ nghịch, phản Ngài mà Ngài cũng vẫn thương yêu, cố đem tình thương đến những đứa con nầy để mong chúng hồi tâm. Ðấng nào muốn trừng phạt những đứa con phản nghịch ấy cũng đều bị Ðức Chí Tôn ngăn cản đến phút chót, làm cho các Ðấng ấy phải lên tiếng kêu nài.

Câu 32: Vô cực, vô thượng.

Vô: Không. Cực: Cái đầu cùng. Thượng: Trên.

Vô cực là không có gì ở ngoài cái đầu cùng, ý nói tột bực rồi. Vô thượng là không có gì ở trên hơn nữa, ý nói cao hơn hết, cao hơn tất cả.

C.32: Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế là Ðấng vô cực vô thượng. Nghĩa là: Trong CKVT nầy, không ai lớn hơn hay cao hơn Ðức Chí Tôn.

 

33.

Ðại Thánh, Ðại Nguyện,

 

Ðại Tạo, Ðại Bi.

 

大 聖 大 願
大 造 大 悲

 

GIẢI NGHĨA

Câu 33: Ðại Thánh, Ðại Nguyện, Ðại Tạo, Ðại Bi.

Ðại: Lớn. Ðại Thánh: Ðức Thánh lớn. Nguyện: Mong muốn và quyết tâm thực hiện. Nguyện cũng là lời thề hứa chắc đối với bản thân mình để mình cố gắng thực hiện cho kỳ được mới nghe, nên thường nói là Thệ nguyện. Ðại nguyện: Lời nguyện lớn của các Ðấng từ Bồ Tát đổ lên, muốn cứu độ tất cả chúng sanh. Lời nguyện đó phổ cập đến toàn cả chúng sanh, nên gọi là Ðại nguyện.

Tạo: Dựng nên, làm ra. Ðại tạo: là Ðấng Tạo Hóa lớn mà công trình của Ngài là toàn cả CKVT và vạn vật. Bi: Lòng trắc ẩn thương cảm các cảnh khổ não của chúng sanh, lúc nào cũng muốn cứu vớt chúng sanh khỏi phiền não và tai họa. Ðại bi: Ðức bi lớn.

Lời nói của Ðức Chí Tôn được gọi là Thánh ngôn, lời dạy của Ðức Chí Tôn gọi là Thánh giáo, ý kiến của Ðức Chí Tôn được gọi là Thánh ý. Ðức Chí Tôn thường dùng chữ Thánh để chỉ về mình, biểu thị một tánh đức khiêm tốn tối đa, để làm gương cho nhơn sanh noi theo. Cho nên, từ ngữ Ðại Thánh là chỉ Ðức Chí Tôn.

Ðức Chí Tôn là Ðấng Ðại Từ Bi, thấy trong buổi Hạ Nguơn Mạt kiếp, chúng sanh mê muội đi vào con đường hắc ám, tội lỗi chồng chất, nên Ðức Chí Tôn mở ÐÐTKPÐ, ban cho nhơn loại một cuộc Ðại Ân Xá cuối cùng, cứu vớt chúng sanh lần chót để chuyển qua Thượng Nguơn Thánh đức.

"Mỗi phen Thầy đến lập Ðạo là phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu Thầy đều lãnh hết." (TNHT. I. 108)

Lời nói đó được xem là Ðại nguyện của Ðức Chí Tôn khi lập ÐÐTKPÐ (tức Ðạo Cao Ðài).

 

34.

Huyền Khung Cao Thượng Ðế Ngọc Hoàng

35.

Tích phước hựu tội,

36.

Ðại Thiên Tôn.

 

玄 穹 高 上 帝 玉 皇
錫 福 宥 罪
大 天 尊

Lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy:
Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

南 無 高 臺 仙 翁 大 菩 薩 摩 訶 薩

 

GIẢI NGHĨA

Câu 34: Huyền Khung Cao Thượng Ðế Ngọc Hoàng

Huyền: Sâu xa kín đáo, huyền diệu. Khung: To lớn cao rộng như vòm trời. Cao: Ở trên cao. Thượng Ðế Ngọc Hoàng: tức là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

C.34: Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế huyền diệu, to lớn, cao tột.

Ðấng ấy là Chúa tể CKVT, là vua của Nhựt, Nguyệt, Tinh và Thời gian, là chủ của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, là Ðại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh, và hiện nay, trong thời ÐÐTKPÐ, Ngài được gọi là Ðức Chí Tôn, Ðấng Cao Ðài.

Sách "Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh" của nhị vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, giải câu kinh nầy:

"Huyền Khung Cao Thượng Ðế: chữ Huyền là sắc đen, màu huyền. Sách Thiên Tự Văn: Thiên huyền Ðịa huỳnh là Trời đen Ðất vàng. Còn chữ Khung là cao. Có câu: Thiên hình khung long kỳ sắc thương thương, nên chữ Huyền Khung là xưng gọi vị Thượng Thiên cao vọi sắc xanh đen."

Câu 35: Tích phước hựu tội.

Tích: Cho, ban cho. Với nghĩa nầy còn đọc là Tứ. Phước: Ðiều tốt lành. Tích phước là ban cho điều tốt lành.

Hựu: Rộng lòng tha thứ. Tội: Tội lỗi, việc làm trái với pháp luật và đạo đức. Hựu tội: Tha tội.

C.35: Ðức Chí Tôn ban phước và tha tội cho chúng sanh (miễn là biết ăn năn sám hối tội tình, cải tà qui chánh).

Câu 36: Ðại Thiên Tôn.

Ðại: Lớn. Thiên: Trời, cõi Trời. Tôn: Kính trọng.

C.36: Ðấng lớn nhứt, đáng tôn kính nhứt nơi cõi Trời gọi là Ðại Thiên Tôn.

Chỉ có Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế mới được gọi là Ðại Thiên Tôn; còn các Ðấng khác đều nhỏ hơn Ðức Chí Tôn nên chỉ được gọi là Thiên Tôn (không có chữ Ðại phía trước). Thí dụ như:

  • Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

  • Nhiên Ðăng Cổ Phật Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn.

  • Thái Thượng ÐạoTổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Câu Chú của Thầy: đã được giải chi tiết nơi phần cuối của bài Kinh Niệm Hương.

 

TÓM TẮT GIẢI NGHĨA KINH NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ

  KINH: GIẢI NGHĨA:

1.

Ðại La Thiên Ðế. Ðấng Ðại La Thiên Ðế.

2.

Thái Cực Thánh Hoàng. Ðấng Thái Cực Thánh Hoàng.

3.

Hóa dục quần sanh. Sanh ra và nuôi dưỡng các loài sanh vật.

4.

Thống ngự vạn vật. Ðấng Thượng Ðế cai trị vạn vật.

5.

Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết. Cửa Huỳnh Kim Khuyết ở mù mù rất xa.

6.

Nguy nguy cao Bạch Ngọc Kinh. Ðền Bạch Ngọc Kinh đồ sộ vòi vọi.

7.

Nhược thiệt nhược hư. Như là thật nhìn thấy được, như trống không, không thấy gì cả.

8.

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa. Không nói mà cứ yên lặng tỏ bày cuộc biến đổi rộng lớn.

9.

Thị không thị sắc. Là trống không, là có hình tướng.

10.

Vô vi nhi  dịch sử quần linh. Ở trạng thái vô vi mà sai khiến vạn linh trong khắp CKVT.

11.

Thời thừa lục long du hành bất tức. Thường cỡi 6 rồng đi khắp nơi không ngừng nghỉ.

12.

Khí phân Tứ Tượng. Hai khí Dương quang và Âm quang phối hợp sanh ra Tứ Tượng.

13.

Oát triền vô biên. Xoay chuyển qua lại, rộng ra không giới hạn.

14.

Càn kiện cao minh. Ngôi Càn mạnh mẽ, cao vọi,sáng tỏ.

15.

Vạn loại thiện ác tất kiến. Việc lành việc dữ của muôn loài đều biết và thấy rõ.

16.

Huyền phạm quảng đại. Cái khuôn phép huyền diệu và rộng lớn.

17.

Nhứt toán họa phước lập phân. Một cái tính toán, Ðức Chí Tôn tạo lập, phân chia rành rẽ điều họa và điều phước.

18.

Thượng chưởng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới. Ở phần trên của vũ trụ, Ðức Chí Tôn chưởng quản 36 từng Trời và 3000 Thế giới.

19.

Hạ ốc Thất thập nhị Ðịa, Tứ Ðại Bộ Châu. Ở phần dưới của vũ trụ, Ðức Chí Tôn chưởng quản 72 Ðịa cầu và 4 Bộ Châu lớn.

20.

Tiên Thiên,
Hậu Thiên,
Tịnh dục Ðại Từ Phụ.
Trước khi tạo dựng Trời Ðất,
Sau khi tạo dựng Trời Ðất,
Ðấng Ðại Từ Phụ nuôi dưỡng chúng sanh đồng đều như nhau.

21.

Kim ngưỡng, cổ ngưỡng. Thời nay cũng như thời xưa đều được kính mến.

22.

Phổ tế Tổng Pháp Tông. Giúp đỡ chúng sanh, gom tất cả Giáo lý các tôn giáo qui về một mối.

23.

Nãi Nhựt, Nguyệt,
Tinh, Thần chi quân.
Là vua của Mặt trời, Mặt trăng,
Tinh tú và Thời gian.

24.

Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ. Là người chủ của chư Thần, Thánh Tiên Phật.

25.

Trạm tịch chơn đạo, Ðạo chơn thật,sâu dày, yên lặng.

26.

Khôi mịch tôn nghiêm. To lớn, lặng lẽ, tôn kính, oai nghiêm.

27.

Biến hóa vô cùng. Biến hóa không cùng tận.

28.

Lũ truyền bửu kinh dĩ giác thế. Nhiều lần truyền bá kinh sách quí báu để giác ngộ người đời.

29.

Linh oai mạc trắc. Cái oai quyền thiêng liêng của Ðức Chí Tôn không thể đo lường để biết rõ được.

30.

Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh. Thường sắp đặt cho các Chơn linh giáng trần mở Ðạo giáo hóa làm lợi ích cho nhơn sanh.

31.

Hồng oai, Hồng từ. Oai quyền lớn do lòng thương yêu và đức thương yêu lớn.

32.

Vô cực vô thượng. Cao hơn tất cả, trên tất cả.

33.

Ðại Thánh, Ðại nguyện, Ðại Tạo, Ðại Bi. Ðức Thánh lớn, Lời nguyện lớn, Ðức tạo hóa lớn, Ðức bi lớn.

34.

Huyền Khung Cao Thượng Ðế Ngọc Hoàng, Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế huyền diệu, to lớn, cao tột,

35.

Tích phước hựu tội. Ban phước và tha tội.

36.

Ðại Thiên Tôn. Ðấng lớn nhứt, được tôn kính nhứt trong CKVT.

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy: Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát)

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

 


 

Kinh Cúng Tứ Thời: Phật giáo


 

PHẬT GIÁO
佛 敎

Nhiên Ðăng Cổ Phật chí tâm qui mạng lễ.
燃 燈 古 佛 志 心 皈 命 禮

 

Phần I: Nguồn gốc 3 bài Kinh Tam giáo:

Ba bài kinh Tam giáo: Kinh Phật giáo, Kinh Tiên giáo, Kinh Nho giáo, do các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ ban cho ở chùa Hàn Sơn Tự, nơi Cô Tô Thành, bên Trung Hoa, rồi sau đó mới truyền qua Việt Nam.

Thời gian các Ðấng TL ban cho Kinh Tam giáo, theo các bậc tiền bối kể lại, là trong thời Nhà Thanh, đời vua Thanh Nhơn Tông, niên hiệu Gia Khánh (1796 - 1820) và đời vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Ðạo Quang (1821 - 1851).

Như bài Kinh Tiên giáo, có in trong quyển sách: Huỳnh Ðình Nội Cảnh Tường Chú, do Hàm Hư Tử bình chú năm 1847.

 

Phần II: Ghi chú về việc Giải nghĩa:

Trong phần Giải nghĩa 3 bài Kinh Tam giáo, có viết chữ Hán kèm theo, soạn giả căn cứ phần chánh vào Bản Kinh Hán văn in trong quyển "Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh" xuất bản năm 1928, của Nhị vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, có sự phối hợp đối chiếu với Bản Kinh Hán văn in trong quyển "Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Kinh" của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh, xuất bản năm 1929.

 

Phần III: Giải nghĩa Kinh Phật giáo:

Phật giáo: đồng nghĩa Phật đạo, chỉ những tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật.

Thích giáo: Thích là chỉ Ðức Phật Thích Ca. Thích giáo là tôn giáo do Ðức Phật Thích Ca lập ra tại Ấn Ðộ và Ðức Thích Ca làm Giáo chủ.

Từ ngữ Thích giáo tương ứng với các từ ngữ như: Lão giáo, Khổng giáo.

- Lão giáo là tôn giáo do Ðức Lão Tử lập ra và Ðức Lão Tử làm Giáo chủ.

- Khổng giáo là tôn giáo do Ðức Khổng Tử lập ra và Ðức Khổng Tử làm Giáo chủ.

Thích giáo dạy tín đồ tu thành Phật, nên Thích giáo cũng là Phật giáo, nhưng từ ngữ Phật giáo có nghĩa rộng hơn, vì Thích giáo là chỉ riêng về tôn giáo của Phật Thích Ca, còn Phật giáo là nói chung các tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật.

Do đó, Bà La Môn giáo, Pythagore giáo, là thuộc về Phật giáo (hay Phật đạo), chớ không thuộc về Thích giáo.

Cho nên, bài Xưng Tụng Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được gọi là bài Kinh Phật giáo thì sát nghĩa hơn.

Nhiên Ðăng Cổ Phật: Nhiên là đốt cháy, Ðăng là cây đèn, Cổ là xưa, Cổ Phật là vị Phật xưa.

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật, gọi theo tiếng Phạn là Dipankara, dịch ra Hán văn là: Nhiên Ðăng Phật hay Ðính Quang Phật. (Ðính là cái chân đèn).

Kinh Trí Ðộ Luận viết: Như Nhiên Ðăng Phật, khi sanh ra, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Ðăng Thái Tử. Khi tu thành Phật thì gọi là Nhiên Ðăng Phật, xưa gọi là Ðính Quang Phật.

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật giáng sanh nơi nước Ấn Ðộ và mở Phật giáo tại đây vào thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ.

TNHT. I. 31: "Như kẻ bên Phật giáo tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế.

Người ta gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh đời nhà Châu."

Theo Từ Ðiển Phật Học Việt Nam, Ðức Phật Thích Ca có một tiền kiếp là Tỳ Kheo Nho Ðồng. Nho Ðồng từng gặp và cúng hoa cho Ðức Phật Nhiên Ðăng. Nho Ðồng mua hoa ấy từ một cô gái với giá rất đắt. Cô gái hỏi vì sao Nho Ðồng lại chịu mua hoa với giá đắt như thế. Nho Ðồng trả lời là mua hoa để cúng Ðức Phật Nhiên Ðăng. Cô gái liền tặng không bó hoa với lời nguyện là Cô với Nho Ðồng sẽ kết duyên vợ chồng trong các kiếp sau.

Sa môn Nho Ðồng là tiền thân của Phật Thích Ca, cô gái bán hoa là tiền thân của Công Chúa Gia Du Ðà La (Yasodhara).

Theo Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn thì: Ðức Phật Nhiên Ðăng có thọ ký cho Thiện Huệ Bồ Tát, phán rằng, về sau, Ngài Thiện Huệ Bồ Tát sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Trong Vô Lượng Thọ Kinh, Phật phán với A Nan rằng: Về đời quá khứ, thuở xưa cách nay lâu xa vô lượng, chẳng có thể suy nghĩ bàn bạc được là bao nhiêu kiếp, Ðức Ðính Quang Như Lai (Nhiên Ðăng) xuất hiện ở thế, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, đều đắc đạo, rồi Ngài mới diệt độ (nhập Niết Bàn).

Theo giáo lý của Ðạo Cao Ðài thì:

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị Phật xưa nhứt, đầu tiên hơn hết trong hằng hà sa số Phật trong CKVT nầy. Ngài được sanh ra từ thời Hỗn Ðộn, sau khi ngôi Thái Cực xuất hiện và trước khi tạo dựng Trời Ðất. Ngài giáng trần ở nước Ấn Ðộ, ứng vào thời vua Huỳnh Ðế bên Tàu, mở ra PG thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ. Ngài là Chưởng giáo Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Ðại Hội, điểm đạo các vị đắc quả trong Nhứt Kỳ Phổ Ðộ.

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật hiện nay chưởng quản từng Trời Hư Vô Thiên, là từng Trời thứ 10, ở bên trên Cửu Trùng Thiên, nơi đó có Ngọc Hư Cung để họp Triều đình của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế, thiết lập Thiên Ðiều cai trị CKTG.

Nối tiếp Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật thì có Ðức Phật Thích Ca giáng sanh nơi Ấn Ðộ, ứng vào thời nhà Châu bên Tàu, mở Phật giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.

Chí tâm qui mạng lễ: Chí là ý chí, lòng mong muốn mạnh mẽ làm một việc gì, tâm là lòng, chí tâm là lòng phấn khởi đem hết tâm chí ra thực hiện. Qui là đem mình về, nương theo, mạng là mệnh lệnh, lễ là cúng lạy.

Chí tâm qui mạng lễ là cúng lạy với tất cả ý chí và tâm hồn, đem mình về vâng chịu nghe theo.

 

1.

Hỗn Ðộn Tôn Sư,

2.

Càn Khôn Chủ Tể.

 

混 沌 尊 師
乾 坤 主 宰

 

GIẢI NGHĨA

Câu 1: Hỗn Ðộn Tôn Sư.

Hỗn Ðộn: Hỗn là lộn xộn không rõ ràng, Ðộn là lộn lạo với nhau. Hỗn Ðộn là thời kỳ mà các chất khí còn ở trạng thái lộn lạo với nhau, chưa phân thanh trược. Tôn Sư: Vị thầy đáng kính. Tôn là kính trọng, Sư là thầy.

C.1: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị thầy đáng kính, được sanh ra vào thời Hỗn Ðộn.

Thời Hỗn Ðộn ở đây là thời kỳ sau khi đã xuất hiện ngôi Thái Cực rồi, đến khi Thái Cực phân ra Lưỡng Nghi Âm Dương. Ðó cũng là thời Tiên Thiên, tức là thời kỳ trước khi tạo dựng Trời Ðất. (Xem lại Câu 20 KNHTÐ)

Như vậy, Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế (Ngôi Thái Cực) được Khí Hư Vô hóa sanh ra trước, sau đó mới hoá sanh ra Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.

Câu 2: Càn Khôn Chủ Tể.

Càn Khôn: Hai quẻ trong Bát Quái, Càn chỉ Trời, Khôn chỉ Ðất. Càn Khôn là Trời Ðất, chỉ toàn thể vũ trụ bao la, nên thường nói là Càn Khôn Vũ Trụ. Chủ Tể: Chủ là người đứng đầu cai quản và quyết định mọi việc trong phạm vi quyền hạn; Tể là đứng đầu. Chủ tể, còn đọc Chúa Tể là vị đứng đầu có quyền thống trị hết thảy.

C.2: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là Ðấng Chúa Tể Càn Khôn Vũ Trụ.

Quyền hành nầy có được là do Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế giao phó cho Ngài. Ngài thay mặt Ðấng Thượng Ðế chưởng quản cả CKVT.

 

3.

Qui Thế giới ư nhứt khí chi trung.

 

歸 世 界 於 一 氣 之 中

 

GIẢI NGHĨA

Qui: Gom vào một chỗ. Thế giới: Càn Khôn Vũ Trụ của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế gồm có Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu). Chữ Thế giới trong câu kinh trên là chỉ 3000 Thế giới. Ư: Ở tại. Nhứt Khí: Một chất khí nguyên thủy, đó là Hư Vô chi Khí. Chi: Tiếng đệm. Trung: Ở trong.

C.3: Gom 3000 Thế giới vào trong một Khí Hư Vô.

 

4.

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội.

 

握 塵 寰 於 雙 手 之 內

 

GIẢI NGHĨA

Ốc: còn một âm nữa là Ác, nghĩa là nắm giữ, cầm giữ. Trần: Bụi bặm. Huờn: hay Hoàn là vùng đất lớn. Trần huờn hay Trần hoàn là chỉ các cõi trần, đó là các quả Ðịa cầu có nhơn loại ở. Có tất cả 72 Ðịa cầu (Thất thập nhị Ðịa) mà Ðịa cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là Ðịa cầu số 68. (Xem trở lại Câu 18 và 19 KNHTÐ) Ư: Ở tại. Song: Hai. Thủ: Tay. Song thủ là hai tay, hai tay: mặt và trái, nên Song thủ có hàm ý nói về Âm Dương: Khí Âm và Khí Dương. Chi: Tiếng đệm. Nội: Trong, ở trong.

C.4: Nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong hai bàn tay.

Tóm tắt 4 Câu kinh 1-2-3-4:

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị thầy đáng kính, được sanh ra vào thời Hỗn Ðộn, làm Chúa tể CKVT, tóm thâu 3000 Thế giới vào trong một Khí Hư Vô, nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong 2 bàn tay.

Chúng ta nhận thấy, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được Ðức Chí Tôn ban cho quyền hành thay mặt Ðức Chí Tôn cai quản CKVT hữu hình gồm: Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu).

 

5.

Huệ đăng bất diệt,

 

chiếu Tam thập lục Thiên chi quang minh.

 

慧 燈 不 滅
照 三 十 六 天 之 光 明

 

GIẢI NGHĨA

Huệ: Trí não sáng suốt, thường nói là Trí huệ. Ðăng: Cây đèn. Huệ đăng là cây đèn Trí Huệ, đốt lên để soi sáng, đẩy lui sự u mê vô minh. Huệ đăng là cây đèn Phật, đèn vô vi, đốt lên để soi sáng cái Tâm.

Bất: Không. Diệt: Mất đi. Bất diệt: Không mất, trường tồn mãi mãi.

Chiếu: Soi sáng. Tam thập lục Thiên: 36 từng Trời. Chi: Tiếng đệm.

Quang: Sáng. Minh: Sáng. Quang minh: Sáng tỏ.

C.5: Cây đèn trí huệ cháy hoài không tắt, rọi sáng 36 từng Trời.

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật có cây đèn trí huệ cháy hoài không tắt, luôn luôn chiếu sáng 36 từng Trời. Cũng vì lẽ đó mà Ðức Phật ấy có hiệu là Nhiên Ðăng.

 

6.

Ðạo pháp trường lưu.

7.

Khai cửu thập nhị tào chi mê muội.

 

道 法 長 流
開 九 十 二 曹 之 迷 昧

 

GIẢI NGHĨA

Câu 6: Ðạo pháp trường lưu.

Trường: Lâu dài. Lưu: Chảy, nước chảy. Trường lưu: Nước chảy hoài không dứt. Ðạo pháp: Chánh pháp của Ðạo.

Về chữ ÐẠO, Ðức Chí Tôn có giảng giải như sau: "Ðạo, tức là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Ðạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Ðạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Ðạo, nghĩa lý rất sâu xa, nhưng phải hiểu trước bao nhiêu đó, rồi mới học các nghĩa huyền bí khác cho đích xác đặng." (TNHT. II. 3)

(Xem thêm: Giải nghĩa chữ ÐẠO trong Kinh Tiên giáo).

Về chữ PHÁP, ý nghĩa rất rộng. Bất kỳ việc chi, dù nhỏ dù lớn, hữu hình hay vô hình, tốt hay xấu, chơn thật hay hư ảo, đều có thể gọi là Pháp. Những nguyên tắc, những luật lệ, những qui luật trong CKVT, cũng được gọi là Pháp.

Thông thường, Giáo lý của Phật được gọi là Phật Pháp; thuyết giảng giáo lý được gọi là Thuyết pháp.

Tóm lại, Ðạo Pháp là Chánh Pháp của Ðạo. Ai tu đúng theo đó thì nhứt định đắc quả, giải thoát khỏi luân hồi.

C.6: Ðạo pháp trường lưu là Chánh pháp của Ðạo như dòng nước chảy hoài không dứt.

Bất cứ vào thời kỳ nào, xưa cũng như nay, Chánh pháp của các nền tôn giáo mở ra như dòng nước chảy, liên tục mãi mãi, để giúp chúng sanh gội sạch bợn trần, cuốn trôi phiền não, tẩy sạch nghiệp chướng, rửa trí não vô minh ra sáng suốt, mà lần vào nơi Cực Lạc an nhàn, để mình vào chốn thanh cao, thoát khỏi cửa Luân hồi ràng buộc.

Câu 7: Khai cửu thập nhị tào chi mê muội.

Khai: Mở ra. Cửu thập nhị: 92. Tào: Bọn, đám, nhóm người. Cửu thập nhị tào: Ý nói đám 92 ức Nguyên nhân đang còn trầm luân nơi cõi trần. Chi: Tiếng đệm. Mê muội: Mê là mơ hồ không rõ, muội là tối tăm. Mê muội là đầu óc tối tăm, không phân biệt chánh tà, thiệt giả, ...

Nguyên nhân: Những chơn linh được sanh ra từ lúc khai Thiên, được Ðức Phật Mẫu cho đi đầu thai làm người nơi cõi trần để khai hóa cho nhơn loại được tiến bộ văn minh.

Theo Triết lý Nhơn sinh của Ðạo Cao Ðài, với Luật Tiến Hóa của Bát Hồn, loài người đầu tiên xuất hiện trên mặt Ðịa cầu nầy là do loài động vật cao cấp khỉ vượn tiến hóa mà thành. Ðó là những Hoá nhơn, người khỉ, thủy tổ của loài người.

Do đó, người nguyên thủy có trí não còn rất ngu khờ, tánh tình còn hung ác, nếp sống còn dã man, ăn lông ở lỗ.

Lúc đó, Ðức Phật Mẫu vâng lịnh Ðức Chí Tôn cho 100 ức Nguyên nhân đầu thai xuống cõi trần, để khai hóa đám Hóa nhân đó, đồng thời cũng để kinh nghiệm và tiến hóa.

Nhưng các Nguyên nhơn, khi đã mang xác phàm rồi, thì lại nhiễm trần, quên nguồn gốc và nhiệm vụ đã nhận lãnh lúc đi đầu thai, lại còn gây ra lắm tội lỗi nơi cõi trần, nên phải bị đọa luân hồi.

Ðức Chí Tôn thấy vậy mới động mối từ tâm, mở ra Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, để cứu giúp và dẫn dắt các Nguyên nhân trở về cựu vị. Nhưng Nhứt Kỳ Phổ Ðộ chỉ độ được 6 ức Nguyên nhân. (Ức là 100 000 ; 6 Ức là 600 000 người).

Ðức Chí Tôn lại mở Nhị Kỳ Phổ Ðộ, gồm Tam giáo (Nho, Thích, Ðạo) và Ngũ Chi Ðại Ðạo để giáo hóa nhơn sanh tu hành, nhưng cuối cùng cũng chỉ độ được 2 ức Nguyên nhân trở về cựu vị.

Như vậy, cả 2 thời kỳ Phổ Ðộ, Ðức Chí Tôn chỉ độ được 8 ức Nguyên nhân, còn lại 92 ức nguyên nhân vẫn đang chìm đắm nơi cõi trần.

Ðức Chí Tôn lại mở lòng Ðại từ Ðại bi lần thứ ba và cũng là lần chót, trước khi xảy ra Ðại cuộc Tận Thế và Hội Long Hoa, để chấm dứt Hạ Nguơn Tam Chuyển, bước vào Thượng Nguơn Tứ Chuyển, và lần nầy, chính mình Ðức Chí Tôn đứng ra mở ÐÐTKPÐ và đồng thời cũng mở ra Ðại Ân Xá Kỳ Ba, quyết độ cho hết 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị.

Do đó, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được Ðức Chí Tôn giao nhiệm vụ mở cuộc giáo hóa các nguyên nhân còn đang mê muội nơi cõi trần.

C.7: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật khai hóa đám 92 ức Nguyên nhân đang còn mê muội nơi cõi trần.

 

8.

Ðạo cao vô cực.

9.

Giáo xiển hư linh.

 

道 高 無 極
敎 闡 虛 靈

 

GIẢI NGHĨA

Câu 8: Ðạo cao vô cực.

Ðạo: Ðạo pháp. (Xem Câu 6: Ðạo pháp trường lưu). Cao: Ở trên cao. Vô: Không. Cực: Chỗ đầu cùng. Vô cực: Không có cuối cùng, tức là không cùng tận.

C.8: Ðạo pháp cao siêu không cùng tận.

Câu 9: Giáo xiển hư linh.

Giáo: Dạy. Xiển: Mở rộng ra, làm sáng tỏ thêm. Hư: Trống không. Linh: Thiêng liêng mầu nhiệm. Giáo xiển là dạy rộng ra cho biết rõ thêm. Hư linh: Cõi không không trên thượng từng không khí, thấy trống không mà rất thiêng liêng mầu nhiệm.

C.9: Dạy rộng ra cho biết rõ thêm về cõi Hư linh.

Khi mắt phàm ta không thấy gì cả, ta bảo đó là trống không. Nói như thế là tương đối, vì mắt phàm chỉ nhìn thấy một số ánh sáng hạn hẹp mà thôi, từ ánh sáng Tím đến ánh sáng Ðỏ. Còn tia Tử ngoại (Cực tím) hay tia Hồng ngoại thì mắt ta không nhìn thấy được. Ngoài ra, mắt ta cũng không thể thấy được các vật quá bé nhỏ như con vi trùng, huống chi là thấy được các nguyên tử hay điện tử.

Khoa học ngày nay chứng minh cho biết nhiều cái hiện hữu có thật, hữu hình hữu thể mà mắt ta không thể thấy được.

Nói một cách tuyệt đối thì không có cái gì là trống không cả, chỉ có điều là mắt ta thấy hay không thấy mà thôi. Tuy nhiên, với cặp mắt thiêng liêng (Huệ nhãn hay Thiên nhãn) thì mọi vật đều rất rõ ràng.

 

10.

Thổ khí thành hồng

 

nhi nhứt trụ xang Thiên.

 

吐 氣 成 虹
而 一 柱 撐 天

 

GIẢI NGHĨA

Thổ: Phun ra, thổi ra. Khí: Chất khí. Thành: Làm nên. Hồng: Cái cầu vòng, cái móng trời. Nhi: Mà, tiếng dùng để chuyển ý. Nhứt trụ: Một cây cột. Xang: còn một âm nữa là XANH, nghĩa là chống đỡ, chống vững. Thiên: Trời.

C.10: Thổi ra một chất khí biến thành cái móng, làm như một cây cột chống vững bầu trời.

Câu kinh nầy ngụ ý nói về quyền pháp mầu nhiệm và cao siêu của Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.

 

11.

Hóa kiếm thành xích

 

nhi tam phân thác Ðịa.

 

化 劍 成 尺
而 三 分 托 地

 

GIẢI NGHĨA

Hóa: Biến thành. Kiếm: Cây gươm, cây kiếm. Thành: Làm nên. Xích: Cây thước. Nhi: Mà, tiếng dùng để chuyển ý. Tam phân: 3 phân của cây thước.

Thác: Nâng, dùng 2 tay nâng một vật. Ðịa: Ðất. Thác Ðịa: là nâng đỡ giềng Ðất.

C.11: Biến cây kiếm thành cây thước, mà 3 phân đủ đỡ vững giềng Ðất.

Câu kinh nầy cũng nói lên cái quyền pháp vô biên của Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.

Nói về Phép Luyện Ðạo, hai câu Kinh 10 và 11 có ý nghĩa luyện cho Hậu Thiên biến thành Tiên Thiên, tức là luyện cho hữu hình trở về vô hình, tức là Huờn Hư, đắc đạo.

* Thổ khí thành hồng nhi nhứt trụ xang Thiên, câu nầy có hàm ý nói quẻ LY của Hậu Thiên Bát Quái biến thành quẻ CÀN của Tiên Thiên Bát Quái, gọi là ÐIỀN LY:

Quẻ LY có một vạch đứt ở giữa, điền thêm vào chỗ trống của vạch đứt đó thì nó trở thành vạch liền, và quẻ LY biến thành quẻ CÀN , mà Càn tượng trưng cho Trời.

Hóa kiếm thành xích nhi tam phân thác Ðịa, có hàm ý nói quẻ KHẢM của Hậu Thiên Bát Quái biến thành quẻ KHÔN của Tiên Thiên Bát Quái, gọi là CHIẾT KHẢM:

Quẻ KHẢM có một vạch liền ở giữa, nếu chặt cho nó đứt ra làm hai đoạn thì ta được quẻ KHÔN có 3 vạch đều đứt đoạn, mà Khôn tượng trưng cho Ðất.

Khi đã CHIẾT KHẢM và ÐIỀN LY thì Hậu Thiên Bát Quái biến thành Tiên Thiên Bát Quái. Luyện được như vậy thì đắc đạo.

 

12.

Công tham Thái Cực.

 

功 參 太 極

 

GIẢI NGHĨA

Công: Nỗi vất vả khó nhọc làm nên việc. Tham: Góp mặt vào, tham dự. Thái cực: chỉ Ðức Chí Tôn.

C.12: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật góp công cùng Ðức Chí Tôn.

Ðức Chí Tôn nắm cơ Tạo Hóa, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật nắm cơ Giáo Hóa. Cái công Giáo hóa cũng bằng cái công sanh hóa. (TNHT: Cái công giáo hóa cũng đồng sanh.)

 

13.

Phá nhứt khiếu chi Huyền quan,

 

Tánh hiệp vô vi.

 

破 一 竅 之 玄 關
性 合 無 為

 

GIẢI NGHĨA

Phá: Làm vỡ ra. Nhứt: Một. Khiếu: Cái lỗ hổng. Chi: Tiếng đệm. Huyền: Sâu kín, huyền diệu. Quan: Cái cửa ải.

Nhứt khiếu chi huyền quan: Một cái Khiếu Huyền quan, tức là một cái lỗ sâu kín làm cửa ải trong thân thể con người, nó ngăn lại, khó mở ra được, làm cho con người mê muội vô minh. Tu luyện là cốt để khai thông cái cửa ải nầy. Khiếu Huyền Quan nầy mà được mở hoát ra thì đắc đạo.

Trong Kinh Huyền Diệu Cảnh, tác giả Ly Trần Tử viết rằng:

"Trong mấy khiếu duy có một cái Khiếu Huyền Quan là Chúa tể. Ví dụ Huyền Quan là vua một nước, Tam quan Tam điền tỷ như Lục Bộ Thượng Thơ, 9 Khiếu kia phía trước phía sau ví như quan văn tướng võ, những cái lỗ nhỏ chơn lông ví như muôn dân. Nếu như chẳng có Khiếu Huyền Quan thì cũng như nước không vua, nhà không chủ, dân chúng phải điêu đứng khổ sở.

Thân con người mà không có Khiếu Huyền Quan thì cái thân không chủ, tức nhiên Thần phải mệt, Khí phải bị hại, ắt bị mê muội theo tửu điếm thanh lâu, thì làm sao sống lâu cho được, vì Tinh Khí Thần hao mòn lần lần.

Người tu luyện phải đem hết Chơn tâm Thực ý (Lòng ngay ý thiệt) mà luyện cho đến lúc hư cực. Ðược như vậy cũng như cái cây trăm thước mà mình đã leo đến mức chót, nhưng phải rán lên cao hơn nữa thì Huyền Quan Nhứt Khiếu mới tự nhiên xuất hiện.

Huyền Quan màu như sương tuyết. Luyện Huyền Quan hóa ra Kim Ðơn, hơi nó đỏ như màu châu sa, hơi nó sáng chói như màu thủy ngân. Nó không chân mà đi được, không hình mà động được, hễ tụ thì có, tán thì không còn, nên Huyền Quan Kim Ðơn hiện ra hay ẩn ẩn, thiệt là mầu nhiệm, không thể tả hết được.

Cho nên có câu: Thiên đắc nhứt dĩ thanh, Ðịa đắc nhứt dĩ ninh, Nhơn đắc nhứt dĩ Thánh." (Trời được một thì trong, Ðất được một thì yên, Người được một thì thành Thánh). Ðược một đó là được một Khiếu Huyền Quan, được món Kim Ðơn.

Kinh Kim Cang: Nhứt hiệp tướng bất khả thuyết. Nghĩa là: Âm Dương hiệp lại thành Kim đơn, khó tả khó nói cho rõ được.

Sách Ðại Học: Chí thiện chi Ðịa. Nghĩa là: Chỗ đất tốt hơn hết, không chi bì kịp.

Kinh Dịch nói: Huỳnh trung thông lý. Nghĩa là: Giữa Huỳnh Ðình thì thông lẽ nhiệm mầu.

Ðó là những tên đặt ra cho nhiều, kể chẳng hết, chớ chung cuộc cũng chỉ cái Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy mà thôi."

Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, trong sách THIÊN ÐẠO của Ngài, có giải về Huyền Quan Khiếu, trang 125-126, như sau:

"Người tu hành, chừng nào luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô, thì Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy mở hoát ra.

Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy là chi? Là Thiên Nhãn vậy. Nó ở ngay Nê Hoàn Cung, gom trọn Chơn Dương chánh đạo. . . .

Khi Tâm người đi đến chỗ Hư không rồi, thì Huyền Quan Nhứt Khiếu được mở hoát ra, tức là Thiên Nhãn đó, ấy là ngôi Thái Cực. Chừng ấy, sự hiểu biết không lo nghĩ mà biết, không học tập mà hay. Cái biết đó vốn có sẵn từ mấy kiếp trước, nay nhờ tu tỉnh mà được xuất hiện ở kiếp nầy, nhà tôn giáo gọi là Phát Huệ."

Tánh hiệp vô vi: Hiệp là hợp lại, Vô vi là không làm, nghĩa thường dùng là vô hình vô ảnh nhưng rất huyền diệu.

TÁNH: Theo Phật giáo, Tánh là cái bản thể chơn thật của mình vốn sáng suốt, an lạc, trong lặng. Tánh là cái nguyên lý chẳng dời đổi, chẳng tiêu mất như: Thiện tánh, Phật tánh.

Theo Thiền Tông thì cái Bổn lai Tự Tánh của ta tức cái Bổn lai Diệu giác Chơn tâm, cũng là cái Bổn lai Diện Mục.

Ðức Lục Tổ Huệ Năng nói kệ về Tánh:

Nào dè Tánh mình vốn tự nhiên trong sạch,

Nào dè Tánh mình chứa đầy đủ muôn Pháp,

Nào dè Tánh mình vốn không lay động,

Nào dè Tánh mình có thể sanh ra muôn Pháp.

Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học Pháp vô ích, bằng biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là Phật.

Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng về Tâm và Tánh:

"Nhà Nho nói: Tánh tự Tâm sanh. (Cái Tánh từ cái Tâm sanh ra). Ðó là lý thuyết của Ðạo Nho. Chỉ biết có một điều là ta quan sát có thể thấy hiện tượng mà tả trạng hình được, vì Ðạo Nho chưa phải là một tôn giáo huyền bí.

Còn Ðức Chí Tôn dạy ta biết rằng: Tánh là chơn tướng của Chơn Thần, còn Tâm là chơn tướng của Chơn linh.

Ðức Chí Tôn dạy: Tánh của mỗi chúng ta là hình thể thứ nhì của ta. Hình thể thứ nhứt là Tâm, tức Chơn linh; thứ nhì là Tánh tức Chơn Thần; thứ ba là xác phàm thú chất nầy.

Ðức Chí Tôn hỏi: Tại sao từ trước đến giờ, theo Triết lý Ðạo Nho lấy nghĩa "Tánh tự Tâm sanh" mà tả ra? Bởi vì nó liên quan mật thiết cùng nhau. Trong Tâm mình như thế nào thì xuất Tánh ra y như vậy. Nhà Nho thấy hiện tượng mà đặt tên, còn Ðức Chí Tôn chỉ rõ cho biết: Chơn thần cũng tấn bộ như Chơn linh. Mỗi cá nhân đều có 2 năng lực ấy, có đủ quyền năng đào tạo ra hình hài xác thịt ta. Một Chơn linh cao trọng tự nhiên có một Chơn thần cao trọng."

Tánh hiệp vô vi là đem Tánh hiệp với Hư Vô, tức là huờn Hư. Nói cách khác, luyện Chơn thần huờn Hư (vì Tánh là Chơn thần), Tinh Khí Thần hiệp nhứt, đắc đạo.

C.13: Khai phá một Khiếu Huyền Quan cho thông suốt thì cái Tánh được huờn Hư, tức là Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tạo được Chơn thần huyền diệu, đắc đạo.

 

14.

Thống Tam Tài chi bí chỉ.

 

統 三 才 之 秘 旨

 

GIẢI NGHĨA

Thống: Trông coi bao gồm tất cả. Tam Tài: 3 Tài là Thiên, Ðịa, Nhơn (Trời, Ðất, Người). Chi: Tiếng đệm.

Bí: Kín đáo, bí mật. Chỉ: Ý định, ý chỉ, ý hướng. Bí chỉ: Ý chỉ bí mật, ý chỉ nhiệm mầu.

C.14: Chưởng quản cả Tam Tài: Thiên, Ðịa, Nhơn, trong một ý chỉ nhiệm mầu.

Ý nói: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật chỉ dùng tư tưởng mà thống quản cả CKVT và vạn vật.

 

15.

Ða thi huệ trạch,

 

Vô lượng độ nhơn.

 

多 施 惠 澤
無 量 度 人

 

GIẢI NGHĨA

Ða: Nhiều. Thi: Làm, thi hành, sắp đặt làm ra. Huệ: Ơn huệ, cái ơn làm cho người khác. Trạch: Ơn huệ. Ða thi huệ trạch: Nhiều lần ban bố ơn huệ.

Vô: Không. Lượng: Ðo lường, số lượng. Ðộ: Cứu giúp. Nhơn: Người. Vô lượng độ nhơn: Cứu giúp người đời nhiều không kể hết.

C.15: Nhiều lần ban bố ơn huệ cho nhơn sanh, cứu giúp người đời nhiều không kể hết.

 

16.

Ðại bi, Ðại nguyện,

 

Ðại Thánh, Ðại từ.

 

大 悲 大 願  
大 聖 大 慈

 

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn. Bi: Lòng trắc ẩn thương cảm các cảnh khổ não của chúng sanh, lúc nào cũng muốn cứu vớt chúng sanh ra khỏi phiền não và tai họa. Ðại bi là Ðức bi lớn.

Nguyện: Lời thề hứa chắc với bản thân mình để mình cố gắng thực hiện cho kỳ được mới nghe. Ðại nguyện là lời nguyện lớn. Phật vì thương xót chúng sanh, nên mỗi vị đều có phát ra lời Ðại nguyện:

- Ðức Phật A-Di-Ðà có phát ra 48 lời Ðại nguyện.

- Ðức Quan Âm Bồ Tát có phát ra 12 lời Ðại nguyện.

- Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát có phát ra lời Ðại nguyện là: Cứu độ hết các chơn hồn tội lỗi nơi cõi U Minh.

Ðại Thánh: Ðức Thánh lớn. Từ: Lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới, lòng thương yêu của Phật đối với chúng sanh. Ðại từ là Ðức từ lớn.

Sách Dưỡng Tử có câu: "Phật ái chúng sanh như mẫu ái tử." Nghĩa là: Phật thương chúng sanh như mẹ thương con.

 

17.

Tiên Thiên Chánh Ðạo,

 

Nhiên Ðăng Cổ Phật.

18.

Vô Vi Xiển Giáo, Thiên Tôn.

 

先 天 正 道
燃 燈 古 佛
無 為 闡 敎 天 尊

Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm:

Nam mô Nhiên Ðăng Cổ Phật Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

南 無 燃 燈 古 佛 大 菩 薩 摩 訶 薩

 

GIẢI NGHĨA

Câu 17: Tiên Thiên Chánh Ðạo, Nhiên Ðăng Cổ Phật

Tiên Thiên: Trước khi tạo dựng Trời Ðất. (Xem giải nghĩa Câu 20 KNHTÐ). Chánh Ðạo: Ðạo chơn chánh. Tiên Thiên Chánh Ðạo: Cái Ðạo chơn chánh có trước Trời Ðất. (Xem giải thích chi tiết chữ Ðạo trong phần Giải Nghĩa Kinh Tiên giáo).

C.17: Cái Ðạo chơn chánh có trước Trời Ðất, Ngài là Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật, vị Phật xưa nhứt.

Câu 18: Vô Vi Xiển Giáo, Thiên Tôn.

Vô Vi: Không hình ảnh, không sắc tướng. Trái với Vô Vi là Hữu hình. (Xem giải thích chi tiết trong phần Giải Nghĩa Kinh Tiên giáo).

Xiển: Mở rộng ra, làm sáng tỏ thêm. Giáo: Dạy. Xiển Giáo: Dạy cho sáng tỏ, hiểu biết rõ ràng.

Thiên Tôn: Nghĩa đen là được tôn kính nơi cõi Trời, nhưng ở đây là chỉ phẩm tước do Ðức Chí Tôn phong thưởng. Ðức Chí Tôn là Ðại Thiên Tôn. Ðức Chí Tôn phong thưởng cho các Ðấng khác là Thiên Tôn.

C.18: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là một Ðấng Thiên tôn, dạy cho sáng tỏ Ðạo Vô Vi.

CHÚ Ý: Không nên lầm lộn chữ Xiển giáo trong bài Kinh Phật giáo nầy với chữ Xiển giáo trong Truyện Phong Thần.

Trong Truyện Phong Thần, Xiển giáo là Chánh đạo, đối nghịch với Triệt giáo là Tả đạo Bàng môn.

Xiển giáo do Ðức Nguơn Thủy làm Giáo Chủ, còn Triệt giáo do Ðức Thông Thiên làm Giáo Chủ. Cả hai vị đều là học trò của Ðức Hồng Quân Lão Tổ.

 

TÓM TẮT GIẢI NGHĨA KINH PHẬT GIÁO

  KINH: GIẢI NGHĨA:

1.

Hỗn Ðộn Tôn Sư. Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị thầy đáng kính, được sanh ra vào thời Hỗn Ðộn.

2.

Càn Khôn Chủ Tể. Ngài làm Chúa Tể CKVT.

3.

Qui Thế giới ư nhứt khí chi trung. Gom 3000 Thế giới vào trong một Khí Hư Vô.

4.

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội. Nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong hai bàn tay.

5.

Huệ đăng bất diệt chiếu Tam thập lục Thiên chi quang minh. Ðèn trí huệ cháy hoài không tắt, rọi 36 từng Trời cho sáng tỏ.

6.

Ðạo pháp trường lưu. Ðạo pháp như dòng nước chảy hoài không dứt.

7.

Khai cửu thập nhị tào chi mê muội. Khai hóa 92 ức nguyên nhân còn đang mê muội nơi cõi trần.

8.

Ðạo cao vô cực. Ðạo pháp cao siêu không cùng tận.

9.

Giáo xiển Hư linh. Dạy cho biết rõ cõi Hư linh.

10.

Thổ khí thành hồng nhi nhứt trụ xang Thiên Thổi ra một chất khí biến thành cái móng trời, làm một cây cột, chống vững bầu trời.

11.

Hoá kiếm thành xích nhi tam phân thác Ðịa. Biến cây kiếm thành cây thước mà 3 phân đỡ vững giềng Ðất.

12.

Công tham Thái Cực. Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật góp công cùng Ðức Chí Tôn.

13.

Phá nhứt khiếu chi Huyền quan, Tánh hiệp vô vi. Khai phá cho thông suốt một khiếu Huyền quan, để cho Chơn thần huờn Hư.(đắc đạo).

14.

Thống Tam Tài chi bí chỉ. Chưởng quản Tam Tài: Thiên, Ðịa,Nhơn, trong ý chỉ nhiệm mầu.

15.

Ða thi huệ trạch,
Vô lượng độ nhơn.
Nhiều lần ban bố ơn huệ,
Cứu giúp người đời nhiều không kể hết.

16.

Ðại bi, Ðại nguyện,
Ðại Thánh, Ðại từ.
Ðức bi lớn, Lời nguyện lớn,
Ðức Thánh lớn, Ðức từ lớn.

17.

Tiên Thiên Chánh Ðạo,
Nhiên Ðăng Cổ Phật.
Ðạo chánh có trước Trời Ðất.
Ngài là Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.

18.

Vô Vi Xiển Giáo, Thiên Tôn. Dạy dỗ cho sáng tỏ Ðạo Vô Vi, Ngài là Ðấng Thiên Tôn.

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm:
Nam mô Nhiên Ðăng Cổ Phật Ðại Bồ Tát MaHa Tát)

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

 


 

Kinh Cúng Tứ Thời: Tiên giáo


 

TIÊN GIÁO
仙 敎

Thái Thượng chí tâm qui mạng lễ
太 上 志 心 皈 命 禮

 

Giải nghĩa Kinh Tiên giáo:

Tiên giáo: Ðạo Tiên, là một tôn giáo dạy người tu luyện thành Tiên.

Thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân làm Giáo chủ Tiên giáo.

Qua thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân giáng sanh xuống trần là Lão Tử để xiển dương Tiên giáo, Ngài viết ra quyển sách "Ðạo Ðức Kinh" để làm giáo lý căn bản cho Tiên giáo. Do đó, Tiên giáo cũng được gọi là Lão giáo vì do Ðức Lão Tử làm Giáo chủ; và Tiên giáo cũng còn được gọi là Ðạo giáo, vì Tiên giáo dạy về chữ ÐẠO rất cao siêu. Cho nên trong danh hiệu của Ðức Thái Thượng có chữ Ðạo: Thái Thượng Ðạo Quân.

Ngài giáng sanh xuống trần làm Lão Tử, nên người ta cũng gọi Ngài là: Thái Thượng Lão Quân.

Giải nghĩa chữ ÐẠO theo Tiên giáo:

1. Trước hết, giải nghĩa chữ ÐẠO [道] bằng cách chiết tự theo chữ Nho:

Viết chữ Ðạo, bắt đầu 2 phết [] tượng trưng Âm Dương, gạch dưới một gạch [] là chữ Nhứt, tượng trưng Âm Dương hiệp nhứt, là cơ sanh hóa, kế dưới là chữ Tự [自] nghĩa là chính mình, tự tri, tự giác, tự giải thoát, chớ không ai làm giùm mình. Trên dưới ráp lại thành chữ Thủ [首] nghĩa là đứng đầu, trên hết, là nguồn gốc của CKVT và vạn vật. Bên hông thêm chữ Tẩu [] là chạy, tức là vận chuyển biến hóa.

Vậy trong chữ ÐẠO có hàm ý Âm Dương, động tịnh, động thì sanh hoá, tịnh thì vô hình vô ảnh.

2. Ðức Lão Tử giải về chữ ÐẠO rất kỹ trong sách Ðạo Ðức Kinh, tóm tắt như sau:

ÐẠO là cái nguyên lý hoàn toàn huyền diệu, không thể bàn được, không thể định danh được, không thể dùng lý trí mà hiểu được. Muốn hiểu ÐẠO, phải dùng Tâm mà thôi.

Vậy ÐẠO là cái nguyên lý vô danh. Ðức Lão Tử tả cái Vô Danh ấy như sau:

"Có một cái tự nó sanh ra nó. Cái ấy có trước Trời Ðất, yên lặng trống không, đứng riêng một mình mà không nghiêng không lệch, lưu hành khắp nơi mà không mòn mỏi. Cái ấy khá gọi là nguồn sanh hóa thiên hạ. Ta chẳng biết tên gì, mượn chữ gọi là ÐẠO."

Vậy ÐẠO, chẳng những không tên mà còn vô hình, vô sắc, vô thinh, vô xú (không mùi) nữa.

Nói như thế thì ÐẠO là cái KHÔNG. Nhưng Ðức Lão Tử sợ người ta hiểu lầm ÐẠO là trống rổng, Ngài nói thêm:

"ÐẠO dường như không mà cũng dường như có, và ÐẠO có 3 trạng thái: Di, Hi, Vi.

  • Di là xem mà chẳng thấy,

  • Hi là lóng mà chẳng nghe,

  • Vi là bắt mà không nắm được."

Tóm lại, ÐẠO là cái vô danh, vô hình, vô sắc, vô thinh, dường như có, dường như không. Ấy là cái lẽ huyền nhiệm định vị Tạo Ðoan, định vị Trời Ðất, hóa sanh vạn vật.

Theo Ðạo Cao Ðài, ÐẠO ấy chính là Hư Vô chi Khí, hoá sanh ra Ðức Chí Tôn, và Ðức Chí Tôn dùng Khí ấy biến thành 2 khí Âm Dương, rồi hoá sanh CKVT và vạn vật.

Do đó, từ ngữ Ðạo giáo được định nghĩa là:

Ðạo giáo là tôn giáo dạy về Ðạo, tức là dạy người ta biết cái nguyên lý của Ðạo và sự biến hoá của Ðạo. Cứu cánh của Ðạo giáo là dạy và luyện Tâm Tánh con người để trở thành một vị Tiên.

Cho nên Ðạo giáo cũng là Tiên giáo, và lại do Ðức Lão Tử truyền bá rộng rãi nên cũng gọi là Lão giáo.

Chí tâm qui mạng lễ nghĩa là cúng lạy với tất cả ý chí và tâm hồn, đem mình về vâng chịu nghe theo. (Xem giải nghĩa chi tiết nơi phần đầu bài Kinh Phật giáo).

 

1.

Tiên Thiên khí hóa,

 

Thái Thượng Ðạo Quân.

 

先 天 氣 化
太 上 道 君

 

GIẢI NGHĨA

Tiên Thiên: Trước khi tạo dựng Trời Ðất. Khí: Chất khí. Hóa: Hóa sanh.

Khí Tiên Thiên: Chất khí có trước khi tạo dựng Trời Ðất. Sau khi Hư Vô chi Khí hóa sanh Ðức Chí Tôn thì khí Hư Vô được gọi là khí Tiên Thiên. Chính khí Tiên Thiên nầy hóa sanh ra Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là vị Tiên đầu tiên trong CKVT, làm chủ Tiên đạo, và làm đầu các vị Tiên.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân hiện xuống cõi trần rất nhiều lần.

* Vào thời Thái cổ:

  • Ðời vua Thiên Hoàng, Ngài là Bàn Cổ.

  • Ðời vua Ðịa Hoàng, Ngài là Vạn Pháp Thiên Sư.

  • Ðời vua Nhơn Hoàng, Ngài là Ðại Thanh Tử.

* Vào thời Thượng cổ:

  • Ðời vua Phục Hy, Ngài là Huất Hoa Tử.

  • Ðời vua Thần Nông, Ngài là Xích Tòng Tử.

  • Ðời vua Huỳnh Ðế, Ngài là Quảng Thành Tử.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân, do khí Tiên Thiên hóa sanh, nên Ngài có pháp lực vô biên, biến hóa vô cùng, khi hiện xuống cõi trần để giáo hóa nhơn sanh, khi trở về cõi Thượng Thiên, nhưng không đầu thai xuống trần.

Mãi đến đời nhà Thương bên Tàu, Ngài mới đầu thai xuống trần. Việc đầu thai của Ngài cũng rất kỳ diệu.

Ðời vua Bàn Canh nhà Thương (1401 trước Tây lịch), có một nàng con gái gọi là Ngọc Nữ, mới vừa 8 tuổi (theo sách Ðông Du Bát Tiên), con của một gia đình đạo đức, ra chơi sau vườn, thấy cây Lý có một trái to chín đỏ, cô liền hái ăn. Ăn xong, nàng cảm thấy mỏi mệt và có thai.

Người cha thấy sự lạ, bèn toán quẻ Âm Dương, biết là có một vị Ðại Tiên giáng sanh, nên không phiền hà gì cả và nuôi con gái rất kỹ. Nhưng nàng chịu mang thai như vậy cho đến già. Ðến năm nàng được 80 tuổi, trở thành bà già, tức là nàng đã mang thai ngót 72 năm, lúc đó là đời vua Võ Ðinh (1324 trước Tây lịch) nhà Thương, bà Ngọc Nữ thấy trăng tỏ, bèn đi dạo sau vườn. Khi đi ngang qua cây Lý khi xưa thì đứa con từ trong bụng mẹ theo nách mẹ nhảy ra ngoài. Bà Ngọc Nữ kinh hãi, coi thấy nách mình liền lại như thường, không đau đớn chi cả.

Ðứa con nhảy ra, đã ở trong bụng mẹ 72 năm nên đầu đã bạc trắng, do đó mới gọi là Lão Tử (con già). Lúc đó là giờ Sửu, ngày Rằm tháng 2 năm Canh Thìn, đời vua Võ Ðinh. Lão Tử chỉ cây Lý bảo rằng đó là họ của Ngài, lại xưng hiệu là Lão Ðam, tự là Bá Ðương, lại mỗi tai có 3 lỗ ở bên trong nên còn gọi lá Lý Nhĩ.

Cội Lý, nơi giáng sanh của Lão Tử, ở tại xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở.

Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đình cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao như chẻ hai, trên trán có chỉ như 3 chữ Tam Thiên.

 

2.

Thánh bất khả tri,

3.

Công bất khả nghị.

 

聖 不 可 知
功 不 可 議

 

GIẢI NGHĨA

Câu 2: Thánh bất khả tri.

Thánh: Thiêng liêng mầu nhiệm. Bất khả: Không thể. Tri: Biết, hiểu biết.

C.2: Không thể biết rõ hết sự thiêng liêng mầu nhiệm của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân do khí Tiên Thiên hóa sanh, là vị Tiên lớn nhứt đứng đầu các vị Tiên, nên quyền pháp của Ngài cao siêu vô cùng, thiên biến vạn hóa, không ai có thể biết rõ được.

Câu 3: Công bất khả nghị.

Công: Nỗi vất vả khó nhọc làm việc. Bất khả: Không thể. Nghị: Luận bàn.

C.3: Công đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân to lớn không thể nào luận bàn cho hết được.

Từ khi có loài người xuất hiện trên cõi trần đến nay, không có thời nào mà Ðức Thái Thượng Ðạo Quân không hiện xuống cõi trần để giáo hóa và cứu độ nhơn sanh. Công đức của Ngài từ đó đến nay nhiều vô lượng, không thể nào kể cho hết hay luận bàn được.

 

4.

Vô Vi cư Thái Cực chi tiền.

 

無 為 居 太 極 之 前

 

GIẢI NGHĨA

Vô Vi: là một đạo lý mà Ðức Lão Tử đặc biệt đề cao. Cư: Ở, nơi ở. Thái Cực: Ngôi của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Chi: Tiếng đệm. Tiền: Trước.

C.4: Ðạo Vô Vi ở trước ngôi Thái Cực.

Ðối với Ðức Lão Tử, Vô Vi là một đạo lý. Ngài cho rằng, bản chất của "ÐẠO" là Vô Vi. Ðạo thường vô vi nhi vô bất vi. Nghĩa là: Ðạo thường là không làm, mà không gì là không làm được.

"Không làm" vì theo quy luật tự nhiên, trơn tru không vướng mắc, mọi thứ đều tỏ sức sống cường kiện, như trăm hoa gặp khí Dương của mùa Xuân, tự nhiên đúng kỳ hoa nở.

Ðạo Trời Vô Vi, chỉ đem lợi cho muôn vật: Ðạo Trời lợi mà không hại, đạo Thánh nhân làm mà không tranh, tức là không hề chú ý đến quyền lợi cá nhân, chỉ mong có sự đóng góp tạo sự chuyển hóa cho vạn vật.

Vô Vi là một chủ trương được Ðức Lão Tử đề cao trong sách Ðạo Ðức Kinh. Ngài muốn đem chủ nghĩa Vô Vi áp dụng vào công việc Tu thân và cả đến việc Chánh trị nữa.

- Về Tu thân, Vô Vi không phải là sống nhàn cư vô sự, ăn bám xã hội, mà chính là sống cuộc đời cao siêu, huyền hóa với Trời.

Liệt Tử định nghĩa Vô Vi là hoạt động siêu việt.

Trang Tử định nghĩa Vô Vi là hoạt động của Trời Ðất.

Vô Vi là để trở về khế hợp với bổn căn bổn tánh, hiệp nhập vào Thượng Ðế. Vô Vi là nhập Ðại Ðịnh, là giai đoạn chót của khoa Tịnh luyện để đắc đạo.

Cho nên cõi Vô Vi là cõi Trời, cõi thiêng liêng tuyệt đối vô hình. Cõi Vô Vi chính là Niết Bàn của Phật.

Trái với Vô Vi là Hữu Vi, là cõi Hữu hình sắc tướng.

Muốn đạt tới Vô Vi thì phải bắt đầu từ Hữu Vi. Không có con đường tắt. Từ Hữu hình sắc tướng mới đi riết tới, lần lần giũ sạch những cái Hữu vi thì sẽ đạt đến Vô Vi, tức là Niết Bàn vậy.

Ngài Tiếp Pháp Trương văn Tràng, trong quyển Giáo Lý, giải thích về Vô Vi như sau:

"Vô Vi nghĩa là không hành động theo ngoại giới, mà chỉ hồi hướng về nội giới tâm linh, sưu tầm giác ngộ lẽ huyền nhiệm của Tâm lý và Sinh lý.

Cho nên Ðạo Ðức Kinh chương 28 nói rằng: Vi Ðạo nhựt tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi. Nghĩa là: Học Ðạo thì mỗi ngày mỗi giảm bớt, và giảm bớt nữa cho đến chỗ Vô Vi.

Không làm nhưng chẳng phải khô khan như cây khô hay cục đá, mà thật là phải giữ một tâm trạng hồn nhiên, như đứa trẻ chưa biết cười (anh nhi chi vị hài), cho nên nói rằng: Ðạo thường vô vi nhi vô bất vi, nghĩa là: Ðạo thường là Vô Vi, nhưng chẳng có việc gì không làm. Tại sao? Bởi lẽ kẻ học Ðạo phải làm những việc chưa đến, phải lo những việc chưa xảy ra (Vi vô vi, sự vô sự)."

 

5.

Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng.

 

有 始 超 群 眞 之 上

 

GIẢI NGHĨA

Hữu: Có. Thỉ: hay Thủy là bắt đầu. Siêu: Vượt lên trên. Quần: Nhiều người tụ họp đông đảo. Chơn: hay Chân là thực, có thật. Trong Tiên giáo, Chơn là những vị tu hành đắc quả thành Tiên, và được gọi là Chơn Nhơn (Người Chơn). Chi: Tiếng đệm. Thượng: Ở trên.

Hữu thỉ: Có bắt đầu, tức là có nguồn gốc. Khi Trời Ðất đã an ngôi rồi thì bắt đầu từ đó trở về sau được gọi là thời Hữu Thỉ, vì Trời Ðất là Âm Dương, như cha mẹ, hóa sanh ra muôn loài vạn vật. Như vậy, Âm Dương là cái bắt đầu của vạn vật.

Trước thời Hữu thỉ là thời Hỗn Mang, chỉ có Hư Vô chi Khí, mà không ai biết được nguồn gốc của nó do đâu mà có, nên thời nầy được gọi là thời Vô thỉ, nghĩa là không có nguồn gốc phát sanh.

C.5: Trong thời Hữu thỉ, Ðức Thái Thượng đứng trên hết các vị Tiên.

 

6.

Ðạo cao nhứt khí

 

diệu hóa Tam Thanh.

 

道 高 一 氣
妙 化 三 清

 

GIẢI NGHĨA

Ðạo cao: Ðạo pháp cao siêu. Nhứt khí: Một chất khí. Ðó là chất khí Tiên Thiên, cũng gọi là Nguơn khí hay Nguyên khí (chất khí đầu tiên), khí nầy biến hóa rất huyền diệu.

Diệu: Khéo léo, huyền diệu. Hóa: Biến đổi. Diệu hóa: Biến hóa rất huyền diệu.

Tam: 3. Thanh: Cao quí. Tam Thanh: 3 Thanh, gồm: Thái Thanh, Thượng Thanh và Ngọc Thanh. Tam Thanh ấy tượng trưng Tam Bửu (Tinh Khí Thần) của con người: Ngọc Thanh là Tinh, Thượng Thanh là Khí, Thái Thanh là Thần. Một biến thành Ba, Ba hiệp lại thành Một.

C.6: Ðạo pháp của Ðức Thái Thượng rất cao siêu. Ngài có thể lấy một Nguơn khí của Ngài biến hóa thành 3 người khác rất huyền diệu, gọi là Tam Thanh.

Theo Truyện Phong Thần, Ðức Lão Tử giúp cho Khương Thượng Tử Nha (học trò của Ðức Nguơn Thỉ) phá trận Tru Tiên, do Thông Thiên Giáo chủ Triệt giáo lập ra để đánh các Tiên Xiển giáo. Trong trận nầy, Thông Thiên Giáo chủ bố trí phép thuật rất ác liệt, hung dữ và cao cường đến nỗi các vị Tiên cấp dưới không thể phá được.

Ðức Lão Tử một mình đi vào trận ở cửa Tây. Ngài xuất Tam Hoa che phủ trên đầu, lại còn hóa Linh Lung Tháp, hào quang chiếu diệu, đánh phép cùng các Ðịa Tiên trong trận. Thấy thế trận chưa núng, vì chỉ đánh vào một cửa, Ðức Lão Tử liền dùng một Nguyên Khí huyền diệu của Ngài hóa ra Tam Thanh, tức là hóa ra 3 người nữa để xông vào đánh 3 cửa trận còn lại.

* Xảy đâu có một vị Ðại Tiên, đội mão Ðạo, mặc áo hồng bào, xưng là Ngọc Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào cửa trận phía Nam, vừa đánh vừa ca bài kệ:

Trời Ðất sanh thành đã có Ta,
Theo Thầy học đạo kể hằng hà.
Thấy điều nghịch lý ra tay giúp,
Cho rõ hai bên lẽ Chánh Tà.

* Xảy nghe bên Ðông có một vị Ðại Tiên nữa, đầu đội mão vàng, mặc áo Bát Quái, xưng là Thượng Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào trận ở cửa Ðông, vừa ca bài kệ:

Hồng Quân Lão Tổ dạy vuông tròn,
Bố hóa Côn Lôn rõ mực son.
Trời Ðất tuy già, Ta chẳng thác,
Nước non dầu đổi, tánh hằng còn.

* Rồi bên phía Bắc, cũng có một vị Ðại Tiên, xưng là Thái Thanh Ðạo Nhơn, đánh vào cửa trận phía Bắc, vừa ca:

Từ thuở sanh Ta lúc Hỗn Mang,
Tính năm kể tháng biết muôn ngàn.
Một bầu Tạo hóa dầu ngang dọc.
Những kẻ Bàng môn khá tỏ tàng.

Như thế, Ðức Lão Tử đã dùng Nguyên Khí huyền diệu của Ngài hóa ra 3 vị Ðại Tiên gọi là Tam Thanh, để hợp với Ngài nữa là 4, cùng xông vào đánh 4 cửa của trận Tru Tiên.

Khi ấy, 4 vị vây Thông Thiên Giáo chủ đánh vùi một trận. Thông Thiên Giáo chủ đánh không lại, chỉ lo đỡ gạt thôi.

Ba vị Tam Thanh vừa tiếp sức với Ðức Lão Tử đánh Thông Thiên Giáo chủ, là do Ðức Lão Tử làm phép dùng Nguyên Khí biến hóa ra, chỉ trong một giờ là tan mất. Ðức Lão Tử chỉ muốn làm cho Thông Thiên Giáo chủ rối trí và cảm thấy yếu thế để sau nầy dễ đánh mà thôi.

Thấy phép gần mãn, Ðức Lão Tử ngâm bài kệ:

Hồng Quân truyền phép đạo đa thành,
Làm chủ Thần Tiên, độ chúng sanh.
Biến thử ba hình, ai dễ biết,
Cho hay Nguyên Khí hóa Tam Thanh.

Lão Tử ngâm kệ vừa dứt, nghe tiếng chuông inh ỏi, 3 vị Tam Thanh đồng biến mất, chỉ còn lại một mình Lão Tử. Thông Thiên Giáo chủ thất kinh nhìn sững, bị Lão Tử đập cho một gậy đổ hào quang, hoảng sợ, đằng vân bay mất.

Ðó là sự tích chép ra từ Truyện Phong Thần để hiểu về ý nghĩa của câu Kinh: "Ðạo cao nhứt khí, diệu hóa Tam Thanh."

 

7.

Ðức hoán Hư linh,

8.

Pháp siêu quần Thánh.

 

德 煥 靈 虛
法 超 群 聖

 

GIẢI NGHĨA

Câu 7: Ðức hoán Hư linh.

Ðức: Những việc làm hợp lòng người, thuận đạo Trời. Hoán: Sáng rực rỡ. Hư linh: Cõi Hư Vô thiêng liêng. Ðó là cõi không không tuyệt mù trên thượng từng không khí mà thường gọi là cõi Thiêng liêng Hằng sống.

C.7: Cái Thánh đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân sáng rực nơi cõi Hư linh.

Câu 8: Pháp siêu quần Thánh.

Pháp: Ðạo pháp. Cái quyền pháp của đạo. Siêu: Vượt lên trên. Quần: Nhiều người. Thánh: Bực Thánh, chỉ chung các Ðấng Tiên, Thánh.

C.8: Ðạo pháp của Ngài vượt lên trên các bực Tiên, Thánh.

 

9.

Nhị ngoạt thập ngũ,

 

phân tánh giáng sanh.

 

二 月 十 五
分 性 降 生

 

GIẢI NGHĨA

Nhị ngọat: Tháng hai âm lịch. Chữ Ngoạt còn đọc là Nguyệt, có 2 nghĩa: Một nghĩa là Mặt trăng, một nghĩa là tháng âm lịch, vì âm lịch tính theo sự di chuyển của Mặt trăng. Thập ngũ: Ngày 15 tức là ngày Rằm.

Phân: Chia ra, chiết ra. Tánh: Ðối với con người, Tâm và Tánh có chỗ khác nhau, Tâm thì ở bên trong, Tánh thì thể hiện bên ngoài. Nhưng đối với các Ðấng Tiên, Phật thì Tâm và Tánh hiệp làm một, hiệp nhứt với Chơn linh, hòa vào khối Ðại Linh Quang của Thượng Ðế. (Xem trở lại phần giải nghĩa Câu 13 Kinh Phật Giáo).

Giáng: Ði xuống. Sanh: Sanh ra. Giáng sanh: Ði xuống cõi trần, đầu thai vào bụng mẹ để được sanh ra làm người nơi cõi trần.

Câu 9: Ngày rằm tháng hai, Ðức Thái Thượng chiết chơn linh giáng sanh xuống cõi trần là Ðức Lão Tử.

Như phần trước, chúng ta nói là Ðức Lão Tử giáng sanh vào đời vua Võ Ðinh nhà Thương bên Tàu. Vua Võ Ðinh lên ngôi năm 1324 trước Tây lịch, và truyền ngôi lại cho Tổ Canh năm 1265 trước Tây lịch.

Ðiều nầy rất phù hợp với 4 câu thơ của Ðức Lão Tử giáng cơ khoán thủ tự giới thiệu:

LÝ đào mầm tược tượng long lân,
LÃO luyện đơn thành Nhị xác thân.
TỬ phủ ngồi tu lo nấu thuốc,
GIÁNG sanh Thương, đợi Võ Ðinh quân.

(Thương là nhà Thương, Võ Ðinh quân là vua Võ Ðinh)

Nhưng theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, câu chuyện Ðức Khổng Tử đến hỏi Ðức Lão Tử về Lễ, thì người ta cho rằng Ðức Lão Tử cùng thời với Ðức Khổng Tử, và lớn hơn Ðức Khổng Tử chừng 30 tuổi, và như vậy, Ðức Lão Tử cũng phải sanh vào thời Ðông Châu Liệt Quốc.

Nếu theo Truyện Ðông Du Bát Tiên và Bài thi giáng cơ của Ðức Lão Tử, chúng ta tạm lấy năm sanh của Ðức Lão Tử là năm vua Võ Ðinh lên ngôi: năm 1324 trước Tây lịch, thì Ðức Lão Tử giáng sanh trước Ðức Khổng Tử là:

1324 - 551 = 773 năm

Như vậy, chẳng lẽ Ðức Lão Tử đã sống hơn 800 năm cho đến khi gặp Ðức Khổng Tử hay sao?

Ðiều nầy, đối với các nhà Khoa học thực nghiệm thì không bao giờ xảy ra. Nhưng, đứng về mặt tín ngưỡng tôn giáo và Thần Linh Học, Ðức Lão Tử có pháp thuật vô cùng huyền diệu cao siêu, khi thì Ngài trở về cõi Thượng Thiên, khi thì Ngài trở xuống cõi trần, tùy duyên hóa độ, thì việc Ngài thị hiện xuống cõi trần để gặp Ðức Khổng Tử là một trường hợp tùy duyên hóa độ của Ngài mà thôi.

 

10.

Nhứt thân ức vạn,

 

diệu huyền thần biến.

 

一 身 億 萬
妙 玄 神 變

 

GIẢI NGHĨA

Nhứt thân: Một cái thân, một người. Ức: 100 000. Vạn: 10 000. Ức vạn là chỉ một số thật lớn. Diệu huyền: Huyền là sâu xa kín đáo, diệu là khéo léo. Diệu huyền hay Huyền diệu là sâu xa kín đáo khéo léo đến độ không thể thấy và biết rõ được.

Thần: Thiêng liêng mầu nhiệm. Biến: Thay đổi, biến hóa. Thần biến là biến hóa vô cùng mầu nhiệm.

C.10: Một thân mà có thể biến hóa thành hằng vạn người khác, sự biến hóa vô cùng huyền diệu.

Ðức Thái Thượng Ðạo Quân có pháp thuật rất cao thâm huyền diệu, một mình Ngài ở một chỗ mà có thể hóa ra thành muôn ức người khác, hiển ứng khắp nơi, động nầy núi nọ rừng kia. Các môn đệ thành tâm cầu khẩn Ngài, thì dù ở xa xôi cách mấy đi nữa, Ngài cũng hiện đến ấn chứng liền.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân hiện xuống cõi trần rất nhiều lần để cứu độ nhơn sanh. (Xem lại Câu 1)

Nay theo sách "Thực Văn Hiển Thông Khảo", Ông Các Trủy Xương có nói rằng: Ðức Lão Tử không có đời nào là không hiện xuống cõi trần, bằng nhiều hình dáng khác nhau, tên họ khác nhau:

  • Ðời vua Huỳnh Ðế, hiệu là Quảng Thành Tử.

  • Ðời vua Văn Vương, hiệu rằng Nhiếp Ấp Tử, làm quan Thủ Tân Sử.

  • Ðời vua Võ Vương, hiệu là Dục Thành Tử, làm quan Trụ Hạ Sử.

  • Ðời vua Khương Vương, hiệu là Quách Thúc Tử.

  • Ðầu nhà Hán, hiệu là Huỳnh Thạch Công.

  • Ðời vua Hán Vũ Ðế, hiệu rằng Hà Thượng Công.

  • Ðời nhà Ðường, Ðức Thái Thượng truyền kinh tại núi Dương Giác. Ðường Cao Tổ họ Lý nhận Ngài là Ông Tổ của dòng họ Lý, nên phong tặng Ngài là Huyền Nguơn Hoàng Ðế.

  • Ðời nhà Tống, vua Tống Nhân Tôn tặng hiệu Ngài là: Thái Thượng Lão Quân Hỗn Nguơn Chí Ðức Hoàng Ðế.

 

11.

Tử khí đông lai,

 

Quảng truyền Ðạo Ðức.

12.

Lưu sa tây độ,

 

Pháp hóa tướng tông.

 

紫 氣 東 來
廣 傳 道 德
流 沙 西 度
法 化 相 宗

 

GIẢI NGHĨA

Câu 11: Tử khí đông lai, Quảng truyền Ðạo Ðức.

Tử khí: Tử là màu tím, khí là chất khí. Tử khí là là chất khí màu tím, trông như một vừng mây tím hiện ra trên bầu trời. Ðông: Hướng Ðông. Lai: Ðến, tới. Tử khí đông lai: Một đám mây màu tím từ hướng Ðông bay tới.

Quảng: Rộng lớn. Truyền: Trao lại cho người khác. Ðạo Ðức: Sách Ðạo Ðức Kinh của Ðức Lão Tử là quyển sách căn bản về giáo lý của Tiên giáo. Quảng truyền Ðạo Ðức: Truyền bá rộng rãi sách Ðạo Ðức Kinh.

Câu 12: Lưu sa tây độ, pháp hóa tướng tông.

Lưu: Chảy, nước chảy. Sa: Cát. Lưu sa: Dòng cát chảy, chỉ vùng sa mạc ở phía Tây nước Tàu, nơi đó có gió thổi mạnh, cuốn cát bay theo, tạo thành một dòng cát chảy như nước. Tây: Hướng Tây. Ðộ: Cứu giúp. Lưu sa tây độ: Qua vùng sa mạc ở hướng Tây để cứu giúp người đời.

Pháp: Giáo lý của một tôn giáo. Hóa: Biến thành. Tướng: Có hình thể. Tông: Thường đọc là Tôn, Tôn giáo. Pháp hóa tướng tông: Cái giáo lý biến thành hình thể của một nền tôn giáo. Cái giáo lý ấy được trình bày rõ ràng trong sách Ðạo Ðức Kinh của Ðức Lão Tử. Kể từ khi Ðức Lão Tử truyền sách Ðạo Ðức Kinh cho Ông Doãn Hỷ thì Tiên giáo mới bắt đầu có hình tướng, và sau đó nhờ sách ấy, Ðạo Tiên được truyền bá rộng rãi khắp nơi.

C.12: Khi Ðức Lão Tử đi qua vùng sa mạc ở hướng Tây để cứu giúp người đời, Ðức Lão Tử truyền Kinh Ðạo Ðức cho Ông Doãn Hỷ, kể từ đó Tiên giáo mới thành hình tướng.

Hai câu kinh 11 và 12: Nhắc lại sự tích Ðức Lão Tử đi từ phía Ðông qua phía Tây, đến ải Hàm Cốc, dạy Ðạo cho quan giữ ải Doãn Hỷ, rồi truyền sách Ðạo Ðức Kinh cho Doãn Hỷ tu thành Tiên. Sau đó Ngài đi về hướng Tây, qua vùng sa mạc để tiếp tục cứu độ người đời.

Vào thời nhà Châu, quan Doãn giữ ải Hàm Cốc, một cửa ải quan trọng ở biên giới phía Tây nước Tàu, có tên là Hỷ, một bữa kia thấy trên Trời có một đám mây màu tím toả hào quang bay đến từ phía Ðông. Ông Doãn Hỷ toán quẻ đoán biết có một vị Thánh nhơn đến và đi qua ải. Ông bèn sai lính quét dọn cửa ải sạch sẽ, trang hoàng nghiêm chỉnh, rồi mặc triều phục chờ đợi. Xảy thấy Ðức Lão Tử ngồi trên xe trắng có trâu xanh kéo đi và Từ Giáp đánh xe, Doãn Hỷ biết đây là Thánh nhơn, liền đi ra nghinh tiếp, gọi Ðức Lão Tử là Thánh nhơn, và thành khẩn rước Ðức Lão Tử vào ải xin học Ðạo. Ðức Lão Tử nhận thấy Doãn Hỷ có lòng thành nên bằng lòng lưu lại ải dạy Doãn Hỷ học Ðạo, xong truyền cho Doãn Hỷ một quyển Kinh báu do Ðức Lão Tử viết ra gọi là Ðạo Ðức Kinh, dạy Doãn Hỷ tiếp tục tu luyện theo đó thì ắt thành Tiên.

Ông Doãn Hỷ tu luyện theo Ðạo Ðức Kinh được 1000 ngày thì đắc đạo, được Ðức Lão Tử cho phục chức cũ là Nguơn Thỉ Chưởng Giáo, cai trị 8 vạn Thần Tiên nơi cõi thiêng liêng.

Như vậy, chúng ta thấy rõ rằng, Ðạo Ðức Kinh là quyển sách căn bản của đạo Tiên, và nhờ nó mà đạo Tiên được truyền bá rộng rãi đến ngày nay.

 

13.

Sản Tất Viên, Phương Sóc chi bối.

 

產 漆 園 方 朔 之 輩

 

GIẢI NGHĨA

Sản: Sanh ra, sản xuất. Chi: Tiếng đệm. Bối: Bọn. Tất Viên: Tất là cây sơn, nhựa của nó dùng làm sơn mài, Viên là cái vườn. Tất Viên là cái vườn cây sơn. Từ ngữ nầy sau đó biến thành địa danh của vùng đất có Vườn sơn, cũng như ở Châu Thành Thánh Ðịa có địa danh Vườn điều.

Ông Trang Tử được bổ làm một chức quan nhỏ tại Cổ Thành Tất Viên, thuộc ấp Mông nước Tống; người ta gọi Ông là Tất Viên Lại, vì thế Ông lấy chữ Tất Viên làm hiệu.

Vậy, Tất Viên là tên hiệu của Ông Trang Tử.

Phương Sóc: Ông Ðông Phương Sóc, một vị Tiên thời vua Hán Võ Ðế bên Tàu.

C.13: Sản xuất ra các Ông Trang Tử và Ðông Phương Sóc.

Hai vị nầy học theo giáo lý của Ðức Lão Tử mà tu luyện thành Tiên.

Sau đây là sơ lược Tiểu sử của Trang Tử và Ðông Phương Sóc:

TRANG TỬ: tên là Trang Châu (Chu), tự là Tử Hưu, người ở ấp Mông nước Tống. Năm sanh của Ông ước lượng vào năm thứ 7 đời vua Châu Liệt Vương (369 trước Tây lịch) và năm mất lối năm thứ 29 đời vua Châu Noãn Vương (288 trước Tây lịch), Trang Tử thọ 82 tuổi.

Theo sách Kim Cổ Kỳ Quan của Bảo Ung: Trang Tử thường ngủ ngày, mơ thấy hóa thành bướm, bay nhởn nhơ trong vườn hoa thơm cỏ lạ, lòng rất vui thích, khi tỉnh dậy vẫn còn thấy như ở vai có 2 cánh chuyển động. Trang sinh lấy làm lạ, và lâu lâu thì lại nằm mơ như thế.

Một hôm, Trang sinh đang ngồi trong phòng học nghe Ðức Lão Tử giảng Kinh Dịch. Khi giảng kinh xong, Trang sinh bèn đem giấc mơ hỏi Thầy là Lão Tử. Ðức Lão Tử là vị Ðại Thánh, biết được lai lịch tiền kiếp, nói cho Trang sinh biết: Trang sinh vốn là một con bướm trắng trong khi Hỗn Ðộn mới phân. Trời sanh nước, nước sanh cây, cây tươi hoa thạnh, con bướm trắng hút tinh chất của trăm hoa, đoạt được tư chất của trăng sao, nên được trường sanh bất tử, cánh lớn như bánh xe, sau bay qua Cung Diêu Trì, hút trộm nhụy hoa Bàn Ðào, bị con chim Thanh loan giữ Vườn Ðào của Tây Vương Mẫu mổ chết. Hồn bướm thác sanh xuống trần là Trang Châu.

Vì Trang Châu có căn trí khác phàm, đạo tâm kiên cố, thờ Ðức Lão Tử làm thầy, học theo Ðạo Tiên, nay được thầy chỉ rõ tiền căn, như mộng mới tỉnh, tự thấy 2 nách sanh gió, mườn tượng như bướm vỗ cánh bay, nên coi sự được mất, nhục vinh ở cõi đời nầy như nước chảy mây trôi, không quan tâm đến nữa.

Ðức Lão Tử biết Trang sinh đã giác ngộ, nên đem bí quyết của Ðạo Ðức Kinh truyền cho. Trang sinh chuyên cần tu tập, bèn được phép phân thân ẩn mình, xuất thần biến hóa.

Từ đó, Trang Châu phế bỏ việc đời, từ biệt Ðức Lão Tử, đi chu du sơn thủy, xưng là Trang Tử.

Sau, Trang Tử đi ẩn cư tại núi Nam Hoa, viết ra sách đề là Nam Hoa Kinh, cũng gọi là sách Trang Tử, xiển dương Ðạo Lão. Bộ sách nầy rất hay, được truyền lại đến ngày nay.

ÐÔNG PHƯƠNG SÓC: Sanh vào đời vua Hán Võ Ðế, tu theo Ðạo Tiên. Việc tu Tiên của Ông Ðông Phương Sóc, có sách chép như sau: Ông Ðông Phương Sóc muốn đi tu, xảy gặp một vị Tiên xưng là Huỳnh My Lão Tổ. Sóc hỏi:

- Chẳng hay Ðại Tiên được bao nhiêu tuổi?

Ông Tiên đáp:

- Mỗi 3000 năm ta phản cốt rửa mỡ một lần, 3000 năm ta thay da một lần, 3000 năm ta thay xương một lần. Cộng chung ta đã hớp khí trời được 9000 năm.

Sóc nghe vậy liền xin thọ giáo đi tu và sau đó đắc đạo thành Tiên.

Ông Ðông Phương Sóc có luyện được một lá Bàn Ðào dùng làm phép ẩn thân hay lắm. Ông có viết một quyển sách đặt tên là Thần Dị Kinh, thuật lại những việc lạ thường ở ngoài Ðịa Cầu 68 của chúng ta và những chuyện lạ ở Bắc Câu Lư Châu.

Ông là Tổ Sư Tán Tiên, có giáng cơ cho nhiều bài thi rất tức cười, nên được tặng danh hiệu là Thần linh trào phúng.

 

14.

Ðơn tích vi mang.

 

丹 析 微 芒

 

GIẢI NGHĨA

Ðơn: Còn đọc Ðan, nghĩa là thuốc quí, thuốc Tiên. Luyện Ðơn hay Luyện Kim Ðơn là từ ngữ đặc biệt dùng trong Ðạo Tiên để chỉ việc luyện đạo, luyện Tam Bửu: Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, đắc đạo. Tích: Nói tách bạch ra, phân tích, giải thích ra cho rõ ràng. Vi: Rất nhỏ. Mang: Cái mũi nhọn.

Ðơn tích: Phân tách rõ ra về việc luyện Kim Ðơn.

Vi mang: Chỉ cái gì nhỏ khéo cực điểm, không thể nhìn thấy; ý nói tế vi mầu nhiệm hay vi diệu huyền bí.

C.14: Việc luyện Kim Ðơn (của Ðạo Tiên) phân tích nói cho rõ ra thì thật là huyền vi mầu nhiệm.

CHÚ Ý: Chữ Hán [微 芒] phiên âm ra viết là: VI MANG, thì mới đúng chánh tả, theo Hán Việt Từ Ðiển của Ðào duy Anh quyển II trang 546, và quyển I trang 545.

 

15.

Khai Thiên Ðịa Nhơn Vật chi tiên.

 

開 天 地 人 物 之 先

 

GIẢI NGHĨA

Khai: Mở ra. Thiên Ðịa: Trời và Ðất. Nhơn vật: Người và loài vật. Chi: Tiếng đệm. Tiên: Trước.

C.15: Khi mở ra Trời Ðất, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng có trước loài người và loài vật.

Câu kinh nầy nói về sự tích của Ông Bàn Cổ, một hóa thân của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, sự tích của Bàn Cổ như sau:

Tại núi Côn Lôn, có một cục đá tròn và lớn, đã thọ khí Âm Dương rất lâu đời, nên đã thâu được các tánh linh thông của vũ trụ mà tạo thành thai người. Sau 10 tháng 16 ngày, đúng giờ Dần một tiếng nổ vang, khối đá linh ấy nứt ra, sản xuất một vị Linh Chơn hy hữu, một người đầu tiên của thế gian, được gọi là Bàn Cổ.

Vừa được sanh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả lần lần lớn lên, mình cao trăm thước (thước Tàu), đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng. Một ngày kia, Bàn Cổ chạy qua hướng Tây, bắt gặp một cái búa và một cái dùi, ước nặng ngàn cân. Bàn Cổ, tay phải cầm búa, tay trái cầm dùi, ra sức mở mang cõi trần. Ngài ước ao Trời Ðất sáng tỏ thì người và vật mới hóa sanh được. Ngài ao ước vừa dứt tiếng thì tiếng sấm nổ vang, Trời trong Ðất yên, vạn vật liền sanh ra đủ cả. Ngài chỉ Trời là Cha, Ðất là Mẹ, muôn dân là con.

Ngài chính là tôn chủ sáng lập thế gian, nên gọi Ngài là Thái Thượng Ðạo Quân. Ngài tự xưng là Thiên tử (con của Trời) cai trị muôn dân. Ngài là vị vua đầu tiên của thế gian nên gọi là Thiên Hoàng.

Bàn Cổ là Thiên Hoàng, sanh nơi Dần Hội, thọ được 18000 tuổi rồi mới qui Thiên.

Tiếp theo Thiên Hoàng là Ðịa Hoàng, rồi Nhơn Hoàng, gọi chung là Tam Hoàng.

Sự tích nầy cũng có chép trong Truyện Thần Thoại Trung Quốc, rất hoang đường, nhưng cũng cho biết được rằng, Tam Hoàng gồm Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng và Nhơn Hoàng là 3 vị vua đầu tiên của nước Tàu, và Ðức Thái Thượng Ðạo Quân chính là Bàn Cổ, là Thiên Hoàng và cũng là thủy tổ của loài người (người Tàu).

 

16.

Ðạo kinh hạo kiếp.

17.

Càn Khôn oát vận.

 

道 經 浩 劫
乾 坤 斡 運

 

GIẢI NGHĨA

Câu 16: Ðạo kinh hạo kiếp.

Ðạo: Cái nguyên lý đầu tiên tạo thành CKVT và vạn vật. (Xem Giải nghĩa chữ ÐẠO chi tiết nơi phần đầu). Kinh: Trải qua. Hạo: Nhiều. Kiếp: Khoảng thời gian từ lúc sanh ra cho tới lúc bị tiêu diệt. Kiếp người là một đời người.

C.16: Ðạo trải qua nhiều kiếp lâu đời.

Câu 17: Càn Khôn oát vận.

Càn Khôn: 2 quẻ trong Bát Quái, quẻ Càn tượng trưng Trời, quẻ Khôn tượng trưng Ðất. Càn Khôn là Trời Ðất. Oát: Chuyển xoay đi. Vận: Xoay vần chuyển động.

C.17: Trời Ðất xoay chuyển vận hành.

CHÚ Ý: Chữ Hán [斡 運] phiên âm ra viết là: OÁT VẬN, thì mới đúng chánh tả, theo Hán Việt Từ Ðiển của Ðào duy Anh, quyển II trang 87. Chỗ nầy cũng giống như Câu 13 KNHTÐ: Oát triền vô biên.

 

18.

Nhựt nguyệt chi quang.

19.

Ðạo pháp bao la.

 

日 月 之 光
道 法 包 羅

 

GIẢI NGHĨA

Câu 18: Nhựt nguyệt chi quang.

Nhựt: Mặt trời. Nguyệt: Mặt trăng. Chi: Tiếng đệm. Quang: Sáng, ánh sáng.

C.18: Ðạo như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, soi sáng khắp nơi.

Câu 19: Ðạo pháp bao la.

Ðạo Pháp: Từ ngữ nầy có ý nghĩa rất sâu xa, rộng rãi, nên phải tùy trường hợp mà giải thích cho sát với ý nghĩa của câu kinh. Từ ngữ Ðạo Pháp đã có giải thích nơi Câu 6 Kinh Phật giáo: Ðạo Pháp trường lưu.

Sau đây xin ghi lại tóm tắt nghĩa của 2 chữ Ðạo Pháp:

I. ÐẠO:

1. Theo Thánh giáo của Ðức Chí Tôn (TNHT.II.3), Ðạo có nghĩa thông thường là con đường tu, tức Ðạo là tôn giáo.

2. Theo cách chiết tự chữ Ðạo Hán văn, Ðạo là nguyên lý đầu tiên tạo thành CKVT vạn vật. Ðạo có hàm ý Âm Dương hiệp nhứt, có tịnh có động, tịnh thì vô hình, động thì sanh hóa.

3. Theo Ðạo Ðức Kinh, Ðức Lão Tử giải về Ðạo: Ðạo là nguồn sanh hóa CKVT vạn vật. Nó vô hình vô sắc, vô thinh vô xú. Ðạo dường như có dường như không và có 3 trạng thái: Di, Hi, Vi. Di là xem mà chẳng thấy, Hi là lóng mà chẳng nghe, Vi là bắt mà chẳng nắm được.

Như vậy, Ðạo chính là Hư Vô chi Khí, mà Hư Vô chi Khí sanh ra Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Khi đã có Ðức Chí Tôn rồi thì Ngài tạo ra 2 nguyên lý Âm Dương, rồi phối hợp Âm Dương tạo CKVT và vạn vật. Vậy Ðạo cũng chính là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

TNHT. I. 32: "Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó, ai sanh? Ấy là ÐẠO. Các con nên biết. Nếu không có Thầy thì không có chi trong CKVT nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy."

II. PHÁP:

Pháp, được dịch từ tiếng Phạn Dharma. Từ ngữ nầy xuất phát từ động từ Dhri, nghĩa là là mang, giữ lại.

1. Nghĩa thông thường, Pháp là pháp luật, các luật pháp đặt ra để quản lý việc Ðời hay việc Ðạo.

2. Pháp là giáo lý, giáo thuyết của một tôn giáo, cho nên nói: Thuyết pháp là thuyết giảng giáo lý của tôn giáo.

3. Pháp là Pháp thuật, Phép vẽ bùa bắt ấn, niệm chú. Thí dụ như: Phép Tắm Thánh, Phép Giải Oan, ...

4. Pháp là một trong Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.

TNHT. I. 52: "Thầy khai Bát Quái mà tác thành CKTG nên mới gọi là Pháp, Pháp có mới sanh ra CKVV rồi mới có người, nên gọi là Tăng. Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy."

5. Nghĩa tổng quát của Pháp: Tất cả sự, việc, hiện tượng, nhỏ hay lớn, thấy được hay không thấy được, tốt hay xấu, chơn thật hay hư vọng, đơn giản hay phức tạp, đều được gọi là Pháp.

III. ÐẠO PHÁP:

Ðạo Pháp là các Pháp của Ðạo. Pháp là hiện tướng của Ðạo. Pháp là cách mô tả, diễn đạt chơn thực cái Ðạo. Người ta do theo Pháp mà thấu suốt được Ðạo, tức là do theo Pháp mà thấy và biết được Thượng Ðế.

Thượng Ðế thì vô hình vô ảnh, không thể lấy mắt thường mà nhìn thấy được, cũng không thể sờ mó được, cũng không thể dùng máy móc tối tân mà đo lường được.

Muốn biết, muốn nghe, muốn giao tiếp được với Thượng Ðế, thì duy có cách là dò theo và nương theo Pháp.

Pháp không phải là Thượng Ðế, nhưng biết quan sát các Pháp thì thấu suốt Thượng Ðế tức là thấu suốt được Ðạo.

Bao: Bọc lại, trùm lên. La: Tấm lưới. Bao la: Tấm lưới bao trùm lên, ý nói rộng lớn bao gồm tất cả.

C.19: Ðạo Pháp bao la, nghĩa là Ðạo Pháp rộng lớn mênh mông như tấm lưới lớn bao trùm lên tất cả.

 

20.

Cửu Hoàng Tỹ Tổ.

 

九 皇 鼻 祖

 

GIẢI NGHĨA

Cửu Hoàng: 9 vị vua. Hoàng là ông vua. Chín vị vua nầy thuộc thời thái cổ và thượng cổ nước Tàu, nối tiếp làm vua để khai hóa cho dân chúng thuở đó.

Khởi đầu là Tam Hoàng: Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng, Nhơn Hoàng.

Kế tiếp là Tam Vương: Ngũ Long, Hữu Sào, Toại Nhân.

Tiếp theo là Tam Ðế: Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế.

Công đức của 9 vị vua nầy đối với nhơn loại rất lớn, đưa con người thoát khỏi tình trạng ăn lông ở lỗ, tiến hoá lên một mức cao, biết làm quần áo, biết trật tự lễ nghĩa, biết cất nhà, dùng lửa nấu chín thức ăn, biết cày cấy, biết trị bịnh, ..

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, vị vua đầu tiên Thiên Hoàng là Bàn Cổ, một hóa thân của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân. Ðó là vị vua đầu tiên của nhơn loại và là thủy tổ của nhơn loại. Các vị vua kế tiếp đều là dòng dõi của Bàn Cổ.

Tỹ Tổ: còn đọc là Tỵ Tổ, là Ông Tổ đầu tiên sanh ra một dòng họ và đứng đầu dòng họ đó. Người ta cũng gọi ông ấy là Thủy Tổ. Như Ông Bàn Cổ là Tỹ Tổ hay Thủy Tổ của nhơn loại.

C.20: Cửu Hoàng Tỹ Tổ là Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Thủy tổ của 9 vị vua đầu tiên khai hóa nhơn loại, và cũng là Thủy tổ của nhơn loại.

 

21.

Ðại thiên Thế giới,

 

dương tụng từ ân.

 

大 千 世 界
陽 頌 慈 恩

 

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn. Thiên: Ngàn (1000). Thế giới: Những quả địa cầu trong CKVT. Theo Vũ Trụ quan của Ðạo Cao Ðài, Vũ trụ của Ðức Chí Tôn gồm Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu). Ðại thiên Thế giới, nghĩa đen là một ngàn lớn Thế giới, ý nói 3000 Thế giới trong Vũ trụ của Ðức Chí Tôn.

Dương: Ðưa lên cao cho mọi người thấy và biết. Tụng: Khen ngợi, ca ngợi. Từ: Lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới, lòng thương yêu chúng sanh. Ân: Ơn huệ.

C.21: Cả ba ngàn Thế giới, mọi người đều ca tụng đề cao lòng từ bi và ơn đức của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

 

22.

Vĩnh kiếp quần sanh,

 

ngưỡng kỳ huệ đức.

 

永 劫 群 生
仰 其 惠 德

 

GIẢI NGHĨA

Vĩnh: Lâu dài, vĩnh viễn. Kiếp: Khoảng thời gian từ lúc sanh ra cho đến lúc mất đi. Một kiếp sống là một đời người. Vĩnh kiếp: Lâu đời nhiều kiếp, chỉ thời gian lâu dài lắm.

Quần: Nhiều người đông đảo. Quần sanh đồng nghĩa với chúng sanh, chỉ tất cả các loài sanh vật trong CKVT, gồm: Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại. Với nghĩa hẹp, Chúng sanh hay Quần sanh là nhơn loại.

Ngưỡng: Ngửa mặt trông lên với lòng kính trọng và yêu mến. Kỳ: Trợ ngữ. Huệ: Ơn huệ. Ðức: Ðiều tốt lành hạp lòng người, thuận đạo Trời.

C.22: Chúng sanh vĩnh viễn đời đời ngưỡng nhờ ơn đức của Ngài.

 

23.

Ðại Thần, Ðại Thánh,

 

Chí Cực, Chí Tôn.

 

大 神 大 聖
至 極 至 尊

 

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn. Thần: Bực Thần. Thánh: Bực Thánh. Chí: Rất. Cực: Cái đầu cùng. Tôn: Kính trọng.

Ðại Thần: Bực Thần lớn. Ðại Thánh: Bực Thánh lớn. Chí cực: Rất cao, cao tột. Chí tôn: Rất được tôn kính.

C.23: Bực Thần lớn, bực Thánh lớn, cao tột, rất được tôn kính.

 

24.

Tiên Thiên Chánh nhứt,

 

Thái Thượng Ðạo Quân,

 

Chưởng Giáo, Thiên Tôn.

 

先 天 正 一
太 上 道 君
掌 敎 天 尊

Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm:

Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn

南 無 太 上 道 祖 三 清 應 化 天 尊

 

GIẢI NGHĨA

Câu 24: Tiên Thiên Chánh nhứt, Thái Thượng Ðạo Quân, Chưởng Giáo, Thiên Tôn.

Tiên Thiên: Trước khi tạo dựng Trời Ðất. (Xem Câu 20 KNHTÐ). Chánh: Ðứng đầu. Nhứt: Một, số 1. Tiên Thiên Chánh nhứt: Vào thời Tiên Thiên, Ngài là người số 1, đứng đầu. Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là vị Tiên lớn nhứt, được sanh ra trước nhứt, đứng đầu Ðạo Tiên.

Chưởng giáo: Chưởng quản Ðạo Tiên, tức là Giáo chủ Ðạo Tiên. Thiên Tôn: Nghĩa đen là được kính trong nơi cõi Trời. Ðây là phẩm tước do Ðức Chí Tôn phong thưởng. Ðức Chí Tôn là Ðại Thiên Tôn, còn các Ðấng Phật, Tiên, Thánh, đều là Thiên Tôn.

C.24: Vào thời Tiên Thiên, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là Ðấng thứ nhứt đứng đầu Ðạo Tiên, và Ngài là Giáo chủ Ðạo Tiên. Ngài là Ðấng Thiên Tôn.

Câu niệm: Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Ðạo Tổ: Tổ sư Ðạo giáo, tức là Giáo chủ Tiên giáo. (Ðạo giáo đồng nghĩa với Tiên giáo) (Xem lại phần đầu). Tam Thanh: 3 Thanh gồm: Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh. Ứng Hóa: Ứng là đáp lại, Hóa là biến hóa. Ứng Hóa là biến hoá để đáp ứng lại. (Xem phần giải nghĩa Câu 6: Ðạo cao nhứt khí, diệu hóa Tam Thanh).

 

TÓM TẮT GIẢI NGHĨA KINH TIÊN GIÁO

  KINH: GIẢI NGHĨA:

1.

Tiên Thiên Khí hoá,
Thái Thượng Ðạo Quân.
Khí Tiên Thiên hóa sanh Ðức Thái Thượng Ðạo Quân.

2.

Thánh bất khả tri. Không thể biết rõ sự thiêng liêng mầu nhiệm của Ðức Thái Thượng.

3.

Công bất khả nghị. Công đức của Ngài to lớn đến nỗi không bàn luận cho hết được.

4.

Vô vi cư Thái Cực chi tiền. Ðạo Vô Vi ở trước ngôi Thái Cực.

5.

Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng. Trong thời Hữu thỉ, Ðức Thái Thượng đứng trên hết các vị Tiên.

6.

Ðạo cao nhứt khí, diệu hóa Tam Thanh. Ðạo pháp cao siêu, dùng một Nguyên khí biến hóa huyền diệu tạo ra 3 người khác gọi là Tam Thanh: Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh.

7.

Ðức hoán Hư linh. Thánh đức sáng rực nơi cõi Hư linh.

8.

Pháp siêu quần Thánh. Ðạo pháp vượt trên các bực Tiên Thánh.

9.

Nhị ngoạt thập ngũ, phân tánh giáng sanh. Ngày rằm tháng hai âm lịch, chiết chơn linh giáng sanh xuống cõi trần là Ðức Lão Tử.

10.

Nhứt thân ức vạn, diệu huyền thần biến. Một thân mình biến hóa thành muôn ức người khác, phép biến hóa vô cùng huyền diệu.

11.

Tử khí đông lai, quảng truyền Ðạo Ðức. Ðám mây màu tím từ hướng Ðông bay tới, Rộng truyền sách Ðạo Ðức Kinh.

12.

Lưu sa tây độ, pháp hóa tướng tông. Qua vùng sa mạc hướng Tây để cứu giúp người đời, Giáo lý của Ngài nhờ Ðạo Ðức Kinh mà thành hình tướng.

13.

Sản Tất Viên, Phương Sóc chi bối. Sản xuất ra các Ông Trang Tử và Ðông Phương Sóc.

14.

Ðơn tích vi mang. Việc luyện Kim Ðơn phân tích rõ ra rất huyền vi mầu nhiệm.

15.

Khai Thiên Ðịa, nhơn vật chi tiên. Khi mở ra Trời Ðất, Ngài là Ðấng có trước loài người và vật.

16.

Ðạo kinh hạo kiếp. Ðạo trải qua nhiều kiếp lâu đời.

17.

Càn Khôn oát vận. Trời Ðất xoay chuyển vận hành.

18.

Nhựt nguyệt chi quang. Ðạo như ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi sáng khắp nơi.

19.

Ðạo pháp bao la. Ðạo pháp rộng lớn mênh mông như tấm lưới lớn bao trùm tất cả.

20.

Cửu Hoàng Tỹ Tổ. Ngài là Thủy tổ của 9 vị vua khai hóa nhơn loại, và cũng là Thủy tổ của nhơn loại.

21.

Ðại thiên Thế giới, dương tụng từ ân. Mọi người trong 3000 Thế giới đều lớn tiếng ca tụng lòng từ bi và ơn đức của Ngài.

22.

Vĩnh kiếp quần sanh, Ngưỡng kỳ huệ đức. Chúng sanh vĩnh viễn đời đời ngưỡng nhờ ơn đức của Ngài.

23.

Ðại Thần, Ðại Thánh, Chí cực, Chí tôn. Bực Thần lớn, bực Thánh lớn, Cao tột, rất được tôn kính.

24.

Tiên Thiên Chánh Nhứt, Thái Thượng Ðạo Quân, Chưởng Giáo, Thiên Tôn. Vào thời Tiên Thiên, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân là vị số 1 đứng đầu các vị Tiên, làm Giáo Chủ Ðạo Tiên, và là một Ðấng Thiên Tôn.

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm:
Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn)

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

 


 

Kinh Cúng Tứ Thời: Nho giáo


 

NHO GIÁO
儒 敎

Khổng Thánh Chí Tâm qui mạng lễ
孔 聖 志 心 皈 命 禮

 

Giải nghĩa Kinh Nho giáo:

Ðịnh nghĩa Nho giáo:

Nho giáo là tôn giáo dạy về Nhơn Ðạo, có nguồn gốc từ các vị vua thời thượng cổ là Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế, được Ðức Khổng Tử phục hưng, sắp xếp lại có hệ thống, xiển dương rộng thêm, tạo thành một học thuyết có giá trị cao siêu, đứng ngang hàng với Phật giáo và Lão giáo.

Do đó, Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo, đạo của Ðức Khổng Tử.

Chiết tự chữ NHO: Theo Hán văn, chữ Nho [儒] gồm 2 chữ hiệp lại: một bên chữ Nhơn [亻] và một bên chữ Nhu [需]

- Nhơn là người.

- Nhu là cần dùng, nhu cầu, cũng có nghĩa là chờ đợi.

Vậy theo cách chiết tự trên, NHO là hạng người lúc nào cũng được cần dùng đến để giúp cho nhơn quần xã hội biết cách ăn ở và hành động cho thuận lòng người, họp lẽ Trời. Hạng người nầy cũng là hạng người có tài năng, học thức, luôn luôn ở thế đợi chờ, khi có người cần đến thì sẵn sàng đem tài năng ra giúp.

Những người Nho học thường chuyên về mặt thực tế hơn lý tưởng, có khuynh hướng nhập thế hơn là yếm thế, nhập thế để làm lợi ích cho nhơn quần xã hội, không yếm thế trốn lánh việc đời mà tìm lấy sự an vui cho riêng mình.

Ðức Khổng Tử đã có thời đi chu du thiên hạ, mưu cầu ra làm quan để đem cái học của Ngài áp dụng, tạo lập một xã hội thanh bình, an lạc và thạnh vượng.

Các môn đệ của Ngài và các nhà Nho đời sau đều noi theo đường lối nhập thế đó của Ðức Khổng Tử.

Nho giáo bắt nguồn từ thời thượng cổ với vua Phục Hy chế ra Tiên Thiên Bát Quái, chế ra Lễ Nhạc, quần áo. Các vị vua tiếp theo như vua Thần Nông, Huỳnh Ðế, chế ra lịch, chữ viết, dạy dân họp chợ, cày cấy, dùng thảo mộc trị các thứ bịnh, vv... Ðến thời vua Văn Vương nhà Châu, nhà vua lại chế ra Hậu Thiên Bát Quái, diễn giải Kinh Dịch.

Ðức Khổng Tử gom góp tất cả sách vở thời xưa, sắp xếp và san định lại, giải thích thêm cho sáng tỏ, tạo thành Ngũ Kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, và sau đó Ngài trước tác sách Xuân Thu để bày tỏ cái Ðạo của Ngài.

Ðức Khổng Tử không phải là người sáng lập Nho giáo. Ngài chỉ phục Hưng Nho giáo, và nhờ Ðức Khổng Tử mà Nho giáo trở thành một học thuyết có hệ thống, gồm cả 2 phần: Hình Nhi Thượng học và Hình Nhi Hạ học, áp dụng rất hiệu quả trong công cuộc trị nước an dân. Do đó, Ðức Khổng Tử được xưng tụng là: Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

Như vậy, Ðức Khổng Tử là Giáo chủ Nho giáo của thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Còn thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, chúng ta có thể xem 3 vị vua Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế là 3 vị Tổ Sư của Nho giáo.

Trong tập "Phổ Cáo Chúng Sanh", trang 5: Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn ngày 25-2-1926:

"Trọng Ni (Khổng Phu Tử) là Văn Xương Tiên hạ trần đặng thừa mạng Thầy làm Chưởng giáo Nhơn đạo, lo xong phận sự thì Thầy đến độ hồi cựu vị."

TÓM TẮT TIỂU SỬ của ÐỨC KHỔNG TỬ:

Ðức Khổng Tử sanh ngày 27 tháng 8 năm Canh Tuất (551 trước Tây lịch), năm thứ 21 đời vua Châu Linh Vương, ở sông Thù, ấp Tu, làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Ðông, nước Lỗ.

Các sách xưa không thống nhứt nhau về ngày sanh của Ðức Khổng Tử. Xin nêu ra 3 tài liệu:

- Nho giáo của Trần trọng Kim, Ngài sanh vào mùa Ðông tháng 10 năm Canh Tuất.

- Khổng Môn Liệt Truyện của Tổng Hội Khổng Học VN: Ngài sanh ngày mùng 1 tháng 11 năm Canh Tuất.

- Tự Ðiển Thành Ngữ Ðiển Tích của Diên Hương: Ngài sanh nhằm ngày 27 tháng 8 năm Canh Tuất.

Ðại Lễ Vía Ðức Khổng Tử trong Ðạo Cao Ðài là ngày 27 tháng 8 âm lịch hằng năm. Ðó là ngày Lễ Kỷ Niệm Thánh đản của Ðức Khổng Tử, đúng theo Từ Ðiển của Diên Hương.

Thân phụ của Ngài là Thúc Lương Ngột, mẹ là Trưng Tại, họ Nhan. Hai Ông Bà lên núi Ni Khâu cầu tự, nên chừng sanh Ngài thì lấy tên núi mà đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni.

Theo truyền thuyết, trước khi sanh Ngài, Bà Nhan thị nằm mơ thấy có người dắt con Kỳ Lân đến cho và nói rằng: "Thủy Tinh chi tử, kế suy Châu vi Tố vương." Nghĩa là: Con của Thủy Tinh, nối nhà Châu suy, mà làm vua không ngôi. Bà sờ vào con Kỳ Lân thì nó hét lên làm bà giật mình tỉnh dậy, kế chuyển bụng và sanh ra Ngài.

Lúc sanh Ngài, Bà Nhan thị vào ở trong hang đá Không Tang, núi Nam Sơn, nghe trên Trời có âm nhạc và tiếng nói: Trời cảm lòng cầu nguyện cho sanh con Thánh. Khi gần sanh Ngài, hang đá nứt, một dòng suối chảy ra. Bà Nhan thị lấy nước suối ấy tắm cho Ngài, tắm xong, suối liền khô.

Ngài cao lớn và có nhiều tướng lạ: Môi trâu, tay cọp, vai uyên, lưng rùa, miệng rộng, mắt lồi, tai to, răng lộ, trán gồ, mình cao 9 thước 6 tấc (thước Tàu), đi nhanh.

Ngài học rộng, biết nhiều, thấy xa. Vua nước Lỗ dùng Ngài làm quan Tư Khấu, song chẳng bao lâu, vua đắm mê Nữ nhạc, bỏ việc triều chánh. Ngài cản ngăn không được, liền từ chức, đi chu du các nước chư Hầu như: Tề, Vệ, Trần, Sở, Tống, thuyết phục các vua chư Hầu, mong đem cái Ðạo của Ngài ra giúp đời.

Nhưng đến đâu, các vua chư Hầu đều chuộng Bá đạo, nên không dùng Vương đạo của Ngài.

Tuy nhiên các vua chư Hầu rất kính trọng Ngài, xem Ngài là thượng khách. Mãi đến khi Ðức Khổng Tử được 68 tuổi, Ngài mới quay trở về nước Lỗ, mở trường dạy học ở Hạnh Ðàn, san định Ngũ Kinh và trước tác sách Xuân Thu.

Học trò của Ðức Khổng Tử có tới 3000 người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào bực Hiền (Thất thập nhị Hiền) mà Nhan Hồi đứng đầu, là bực Ðại Hiền.

Ngày mất của Ðức Khổng Tử ghi trong các sách cũng không thống nhứt nhau, nhưng năm mất đều ghi là năm Nhâm Tuất (479 trước Tây lịch), Ðức Khổng Tử hưởng thọ 73 tuổi.

- Sách Nho giáo của Trần trọng Kim ghi: Ngài mất nhằm tháng 4.

- Sách Khổng Môn Liệt Truyện ghi: Ngài mất nhằm ngày Kỷ Sửu tháng 4.

- Từ Ðiển Thành Ngữ Ðiển Tích của Diên Hương: Ngài mất ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất.

Chí tâm qui mạng lễ nghĩa là cúng lạy với tất cả ý chí và tâm hồn, đem mình về vâng chịu nghe theo.

 

1.

Quế Hương nội điện,

 

Văn Thỉ thượng cung.

 

桂 香 內 殿
文 始 上 宮

 

GIẢI NGHĨA

Quế Hương: Mùi thơm của cây quế. Quế là một loại cây quí, vỏ cây có mùi rất thơm, vị ngọt và cay nồng, tính ấm, dùng làm thuốc trị bịnh. Ở đây, Quế Hương là tên riêng của một Ðiện nơi cõi thiêng liêng. Nội: Ở trong. Ðiện: Toà nhà lớn. Quế Hương nội điện: Trong điện Quế Hương nơi cõi thiêng liêng.

Văn Thỉ: Văn là văn chương, Thỉ còn viết là Thủy, là bắt đầu, nguồn gốc. Văn Thỉ là khởi đầu về văn chương. Ở đây, Văn Thỉ là tên riêng của một Cung nơi cõi thiêng liêng. Thượng: Trên, ở trên. Cung: Tòa nhà. Cung nhỏ hơn Ðiện. Trong một Ðiện có nhiều Cung. Văn Thỉ thượng cung: Cung Văn Thỉ ở phía bên trên.

C.1: Ở cõi thiêng liêng có một tòa nhà lớn gọi là Ðiện Quế Hương, trong đó một Cung ở trên hết gọi là Cung Văn Thỉ. Ðó là nơi thường ngự của Ðức Khổng Tử, Giáo chủ Nho giáo.

 

2.

Cửu thập ngũ hồi,

 

Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố.

 

九 十 五 回
種 善 果 於 詩 書 之 圃

 

GIẢI NGHĨA

Cửu thập ngũ: Chín mươi lăm (95). Hồi: Trở về, ý nói giáng sanh xuống trần rồi trở về cõi thiêng liêng, tức là Luân hồi. Cửu thập ngũ hồi: 95 lần luân hồi.

Chưởng: còn đọc là Chủng, nghĩa là gieo, thí dụ như gieo lúa hay gieo đậu. Thiện: Lành, tốt. Quả: Cái trái. Thiện quả: Trái lành. Chưởng thiện quả: Gieo trái lành thì sẽ mọc lên cây lành. Ư: Nơi, ở tại.

Thi: Thơ văn, bài văn có vần điệu. Thơ: tức là Thư, nghĩa là kinh sách. Chi: Tiếng đệm. Phố: Vườn trồng cây và hoa kiểng. Thi thơ chi phố: Vườn thơ văn kinh sách.

C.2: Ðức Khổng Tử luân hồi 95 lần để gieo trái lành nơi vườn thơ văn kinh sách.

Ðức Khổng Tử dùng văn chương thi phú, viết thành kinh sách để dạy dỗ nhơn sanh điều lành, điều đạo đức nhơn nghĩa, hiếu để trung tín, mà ăn ở cho phải đạo, hầu tạo ra một nhân lành thì sẽ hưởng được quả lành.

Ðó là Luật Nhân Quả: Chưởng qua đắc qua, chưởng đậu đắc đậu. Nghĩa là: Gieo dưa thì được dưa, gieo đậu thì hái được đậu.

Lấy kinh sách làm vườn, lấy điều lành làm giống, vun phân tưới nước thì sẽ mọc lên cây lành và sẽ sanh trái lành.

 

3.

Bá thiên vạn hóa,

 

Bồi quế thọ ư Âm chất chi điền.

 

百 千 萬 化
培 桂 樹 於 陰 騭 之 田

 

GIẢI NGHĨA

Bá: Trăm (100). Thiên: Ngàn (1000). Vạn: Muôn, mười ngàn (10 000). Hóa: Biến đổi. Bá thiên vạn hóa: Trăm ngàn muôn lần biến hóa. Ý nói: Biến hóa rất nhiều lần, không kể hết được.

Bồi: Vun đất vào gốc cây để nuôi cây tươi tốt. Quế: Cây quế. Thọ: còn đọc là Thụ, nghĩa là cây cối, thí dụ như: Cổ thụ: Cây lớn và già, sống lâu. Quế thụ: Cây quế. Bồi quế thụ: Vun bồi cây quế. Ư: Nơi, ở tại.

Âm chất: Việc làm lành cốt yếu tạo phước đức nơi cõi thiêng liêng, có Thần, Thánh chứng biết, không phô trương ra cho người đời biết. Chi: Tiếng đệm. Ðiền: Ruộng. Âm chất chi điền: Ruộng phước đức.

C.3: Trăm ngàn muôn lần biến hóa, vun bồi cây quế nơi ruộng phước đức.

"Ruộng đây là tỷ với Tâm. Tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Ðiền, có Ðiền mà chẳng có cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít vào ẩn trú. Người mà có Tâm như vậy, ra thế nào?

Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có công làm cho đất phì nhiêu đặng cho buổi gặt hưởng nhờ, mà không chịu làm, thế thì phải bị diệt tận chơn linh." (TNHT. II. 53)

Cây quế, trong văn chương, được dùng để chỉ người có học thức tài giỏi đỗ đạt, có đức hạnh, có địa vị cao và tiếng tăm lớn.

Ðiển tích: Ông Ðậu Võ đời nhà Tống, người đất Yên Sơn, tánh tình ngay thẳng, lại ham làm phước, đến 30 tuổi mà vợ chưa sanh được con. Vợ chồng đi lễ chùa Diên Thọ để cầu tự, giữa đường gặp vàng bỏ rơi, ông liền giữ lấy rồi tìm người mất vàng trả lại. Lòng ngay chánh cảm lòng Trời, nên Trời cho sống thêm 2 kỷ nữa và cho sanh 5 người con trai, lớn lên đều học giỏi và thi đậu Tiến Sĩ, làm quan hiển đạt, nổi danh là "Yên Sơn Ngũ Quế " (5 cây quế ở đất Yên Sơn).

Trung Quốc Sử có chép rằng: "Tống Ðậu quân, hữu tế nhơn âm công, sanh ngũ tử câu chiết quế." Nghĩa là: Ðời Tống, Ông họ Ðậu, có lòng cứu giúp người, tạo được âm chất công đức, nên sanh được 5 người con trai đều bẻ cành quế.

Câu Kinh: Bồi quế thọ ư âm chất chi điền, có ý nói: Ðức Khổng Tử khuyên người đời ráng làm việc phước thiện đặng lập âm chất cho con cháu hưởng lâu dài về sau. Cái âm chất ấy ví như miếng ruộng tốt, còn con cháu ví như cây quế cây hòe, hễ trồng lên miếng ruộng âm chất đó thì chắc chắn sẽ lớn lên tươi tốt sum suê, sanh trái lành quả ngọt, hưởng được lâu dài.

Còn thoảng như không lo làm âm chất, mà lo chạy theo bạc tiền danh vọng, dù sắm được bao nhiêu ruộng vườn nhà cửa đi nữa, thì khi chết cũng không mang theo được, để lại cho con cháu, chúng sẽ ỷ lại, tiêu xài phung phí, ăn không ngồi rồi, chẳng bao lâu cũng bán sạch, sự nghiệp tiêu tan.

 

4.

Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh.

 

字 雷 貯 炳 靈 於 鳳 嶺

 

GIẢI NGHĨA

Tự: Từ lúc. Lôi: Sấm, tiếng sấm. Trữ: Cất chứa. Bính: Ngọn lửa cháy sáng. (Còn một âm nữa là Bỉnh). Linh: Thiêng liêng, thường nói là Linh thiêng. Ư: Ở tại. Phụng: Con chim phụng, hay chim phượng, một con vật linh trong hàng Tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phụng. Lãnh: Núi.

Tự lôi trữ bính: Từ lúc tiếng sấm nổ vang nháng sáng.

Câu nầy ý nói lúc chế thành chữ viết bên Tàu. Sử Ký chép rằng: Ông Thương Hiệt, đời vua Huỳnh Ðế, trên xem hình sao, dưới dựa theo hình sự vật mà chế ra chữ viết (chữ Nho), nên gọi là văn tự tượng hình.

Thí dụ như chữ Khẩu [口] là miệng, phải để trống ở giữa; chữ Mã [馬] là ngựa, thì phải có 4 cái chấm bên dưới để tượng hình 4 cái chưn; chữ Môn [門] là cửa, phải có hình 2 cánh cửa ghép lại.

Khi văn tự được chế thành thì Trời sanh mưa, sấm chớp nổ vang, người người kinh sợ.

Linh ư phụng lãnh: Linh thiêng như con chim phụng trên núi.

Chim phụng có tánh linh, khi thời loạn lạc thì ẩn mình trong hang núi, khi sắp thái bình thì bay ra cất tiếng gáy báo hiệu có vua Thánh ra đời.

- Lúc vua Nghiêu xuất thế, có chim phụng hoàng bay đến đậu nơi sân.

- Ðời vua Trụ nhà Thương, có chim phụng gáy tại núi Kỳ Sơn ở xứ Tây Kỳ, ứng điềm Thánh Chúa Văn Vương, Võ Vương thống nhứt nước Tàu, mở ra nhà Châu, đem lại thái bình an lạc.

Câu 4: Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh:

Nghĩa là: Từ lúc văn tự được chế thành thì Trời sanh sấm nổ nháng sáng, nhờ có văn tự mới ghi chép những lời giáo huấn của Thánh Hiền; nhờ đó, con người học hỏi, mở sáng trí khôn ngoan. Như vậy, văn tự linh thiêng như chim phụng trên núi, vì nhờ văn tự mà con người có thể học hỏi và tiến hóa để trở thành Thánh nhân.

Nhờ các bậc Thánh Hiền của Ðạo Nho mà người Trung Hoa có được một thứ chữ viết tượng hình có ý nghĩa rất cao siêu. Khi cắt nghĩa bằng cách chiết tự thì mới thấy rõ ý nghĩa sâu xa của Thánh Hiền dụng tâm đặt vào trong chữ viết đó.

Do đó người xưa rất coi trọng chữ viết, vì cho đó là chữ của Thánh Hiền, nên khuyên người đời khi thấy giấy có viết chữ Nho rớt rơi, không nên chà đạp mà nên lượm lấy rồi đem đốt đi.

Kinh Sám Hối có câu:

Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,
Ðốt ra tro bỏ chảy dòng sông.
Thủy triều vận tải biển đông,
Lòng hằng dường ấy, phước đồng ăn chay.

 

5.

Chí như ý từ, tường ư ngao trụ.

 

至 如 意 慈 祥 於 鼇 柱

 

GIẢI NGHĨA

Chí: Ðến, tới. Như: Giống như. Ý: Ý nghĩ, tư tưởng, ý tưởng. Từ: Lòng thương yêu chúng sanh. Tường: Tốt đẹp, may mắn. Ư: Ở tại. Ngao: là con Cự Ngao. Trụ: là hòn núi. Ðây là từ ngữ mà khi xưa đọc là Trụ, nhưng ngày nay đọc là Tụ. Ngao trụ là hòn núi dùng làm chỗ ở cho các vị Tiên có những con Cự Ngao đỡ vững, theo điển tích sau đây:

Trong sách Thần Dị Kinh của Ông Ðông Phương Sóc, Tổ Sư Tán Tiên, Ông có chép như sau: Tại Bắc Câu Lư Châu có một ngọn núi cao, chư Tiên thường đến đó ở. Núi có từ thời tạo thế, song cái đặc biệt là núi ấy không chưn, trôi nổi trên mặt biển, nhô lên hay thụp xuống tùy theo thủy triều. Chư Tiên lo sợ để lâu núi ấy sẽ trôi qua chỗ khác nên tâu với Thượng Ðế xin giữ núi ấy cho chắc. Ðức Thượng Ðế sai 15 con Cự Ngao, to lớn hơn sấu voi thập bội, đến đỡ núi ấy cho vững, không cho trôi đi nữa. Số 15 con Cự Ngao được chia làm 2 phiên, mỗi phiên là 6 muôn năm, cứ luân phiên nhau mà giữ núi ấy.

Vậy Ngao trụ là ngọn núi Tiên nổi trên mặt biển có các con Cự Ngao đỡ vững.

C.5: Ðến như cái ý tưởng thương yêu chúng sanh, tốt lành như ở núi Ngao Trụ.

 

6.

Khai nhơn tâm tất bổn

 

ư đốc thân chi hiếu.

 

開 人 心 必 本
於 篤 親 之 孝

 

GIẢI NGHĨA

Khai: Mở ra. Nhơn tâm: Cái Tâm của con người. Bản chất của Tâm vốn lành, nên gọi là Lương Tâm. Người làm ác là vì cái Tâm bị vật dục che phủ nên không còn điều khiển được hành động của mình. Tất: Ắt hẳn. Bổn: Cái gốc. Ư: Ở tại. Ðốc: Rất, lắm. Thân: Gần gũi thương yêu, chỉ cha mẹ. Chi: Tiếng đệm. Hiếu: Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ.

Câu 6: Dịch nghĩa câu Kinh từng chữ: Sự khai mở cái Tâm của con người, ắt hẳn, gốc ở tại, rất, hiếu thảo với cha mẹ.

Ý nói: Ðạo của Ðức Khổng Tử chủ trương lấy việc khai mở cái Tâm của con người làm gốc, bởi vì cái Tâm do Trời ban cho vốn lành và sáng suốt, thường khiến con người làm điều hay sự phải, giục con người mến đạo đức, chuộng tinh thần, biết thuận tùng Thiên lý.

Muốn khai mở cái Tâm, Ðức Khổng Tử lấy sự Hiếu thảo với cha mẹ làm căn bản, bởi vì trong trăm hạnh thì hiếu đứng đầu. Người bất hiếu là vì để cái Tâm bị Lục dục Thất tình che lấp trở nên mờ ám.

Ðây là điểm đồng nhứt và cũng là căn bản của Tam giáo: Nho, Lão, Thích. Tam giáo đều dạy lấy Tâm làm gốc:

  • Nho giáo dạy: Tồn Tâm dưỡng Tánh,

  • Lão giáo dạy: Tu Tâm luyện Tánh,

  • Thích giáo dạy: Minh Tâm kiến Tánh.

Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Phật Mẫu giáng cơ dạy về chữ TÂM như sau:

Gắng sức trau giồi một chữ Tâm,
Ðạo đời muôn việc khỏi sai lầm.
Tâm thành ắt đạt đường tu vững,
Tâm chánh mới mong mối Ðạo cầm.
Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,
Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm.
Ðường Tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn,
Có buổi hoài công bước Ðạo tầm.

 

7.

Thọ quốc mạch tất tiên

 

ư trí chúa chi trung.

 

壽 國 脈 必 先
於 致 主 之 忠

 

GIẢI NGHĨA

Thọ: Sống lâu, lâu dài. Quốc: Nước, quốc gia. Mạch: Cái ống dẫn máu để cho máu lưu thông đem dưỡng khí và chất bổ đến nuôi sống các tế bào trong cơ thể.

Quốc mạch: Chỉ chung tất cả sinh hoạt của dân chúng trong một quốc gia. Mỗi người dân trong nước ví như một tế bào trong cơ thể. Tế bào nhờ mạch máu nuôi dưỡng mới hoạt động được, thì người dân cũng nhờ các hoạt động của các cơ quan, các ngành nghề trong nước mà có đời sống an ninh và đầy đủ.

Thọ quốc mạch: là lâu dài các sinh hoạt của dân chúng trong nước: Ý nói sự trường tồn của quốc gia.

Tất: Ắt hẳn. Tiên: Trước. Ư: Ở tại. Trí: Rất, hết lòng. Chúa: cũng đọc là Chủ, người làm Chúa, làm vua một nước. Chi: Tiếng đệm. Trung: Lòng trung thành.

Vua là người đứng đầu một nước, nên vua tượng trưng cho nước. Quan niệm trung với vua là trung với nước, chớ không phải trung thành với một cá nhân ông vua hay với dòng họ của ông vua.

Câu 7: Dịch nghĩa câu kinh từng chữ: Sự lâu dài của quốc gia, ắt hẳn, trước tiên, ở tại, hết lòng trung thành với nước.

Ý nói: Muốn cho quốc gia được vững bền thì trước tiên, người dân phải hết lòng trung thành với nước.

Hai câu Kinh 6 & 7 nói lên tôn chỉ của Ðạo Nho là khai mở cái Tâm của con người cho được sáng tỏ, bằng cách dạy con người 2 điều căn bản là: Hiếu và Trung.

Trời ban cho con người một cái Tâm thiện lương chơn chánh để điều khiển xác thân đi theo đường đạo đức, nhưng vì lục dục thất tình che lấp cái Tâm, làm cho con người trở nên u mê tăm tối, đi vào nẻo vạy tà. Nay cần phải vẹt ra để cho cái Tâm được sáng tỏ.

Trong mục đích đó, Nho giáo chủ trương:

  • Trong gia đình thì phải hết lòng Hiếu với cha mẹ.

  • Ðối với quốc gia dân tộc thì phải hết lòng Trung.

Ðây là một chủ trương rất tích cực và thực tế, để khai mở Tâm Tánh con người cho được sáng tỏ tốt đẹp. Hiếu và Trung là 2 đức tánh căn bản của con người, vì các đức tánh khác đều bắt nguồn từ Trung và Hiếu cả.

 

8.

Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ.

 

應 夢 保 生 垂 慈 憫 苦

 

GIẢI NGHĨA

Ứng: Ðáp lại. Mộng: Chiêm bao. Ứng mộng: Hiện ra một điềm chiêm bao để đáp lại sự cầu nguyện. Bảo: Gìn giữ, bảo vệ. Sanh: Sự sống. Bảo sanh: Bảo vệ sự sống.

Ứng mộng bảo sanh: Ứng cho một điềm chiêm bao do lòng đạo đức mong muốn, để chỉ vẽ cách thức bảo vệ sự sống cho nhơn sanh.

Ðối với những vị mà nguyên căn là những Chơn linh cao trọng lãnh lịnh giáng trần giáo hoá và làm lợi ích cho nhơn sanh, các Ðấng Thiêng liêng thường đến trong giấc chiêm bao để mách bảo những điều sắp xảy ra và những phương cách giải quyết để bảo tồn sự sống cho nhơn sanh. Những sự mách bảo nầy thường dưới dạng ngụ ý, tượng trưng, cần phải suy nghĩ kỹ mới thấu rõ được.

Chúng ta đọc tiểu sử của Ðức Phạm Hộ Pháp, chúng ta thấy lúc Ngài còn trẻ tuổi, Ngài bị mê đi nhiều lần, và lần đáng nhớ nhất là năm 17 tuổi. Ngài chiêm bao thấy Ngài về Bạch Ngọc Kinh gặp Ðức Chí Tôn, được Ðức Chí Tôn cho ăn bánh và uống nước, trong đó Ðức Chí Tôn ngụ ý cho biết về những việc sau nầy của Ngài.

Ðức Khổng Tử lãnh lịnh Ðức Chí Tôn giáng sanh xuống trần để phục hưng Nho giáo, nên Ngài thường được các Ðấng Thiêng liêng đến trong giấc chiêm bao mách bảo nhiều việc quan trọng. Tương truyền, Ðức Khổng Tử thường nằm chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy cho nhiều điều để làm lợi ích cho nhơn sanh.

Thùy: Rủ xuống, rủ lòng nghĩ tới. Từ: Lòng thương yêu chúng sanh. Mẫn: Lo lắng xót thương.

Thùy từ mẫn khổ: Rủ lòng nhơn từ thương người khổ nạn.

Biết bao cảnh khổ não của nhơn sanh nơi cõi trần, mỗi người gặp khổ não một cách. Nói như vậy không phải là cõi trần không có cái vui, cái hạnh phúc, nhưng cái vui và cái hạnh phúc ấy chỉ xảy ra rất ít và cũng không tồn tại lâu dài, còn cái buồn và cái khổ thì kéo đến liên tiếp. Làm một cuộc tổng kết thì cái vui sướng chỉ có một mà cái buồn khổ nhiều gấp 10 lần hay hơn nữa.

Ðức Khổng Tử đứng hàng Phật vị, có cái Tâm từ bi của Phật, thấy các cảnh khổ não của chúng sanh thì đem lòng thuơng xót, nhứt là trong thời đại của Ngài là thời Xuân Thu Chiến Quốc, loạn lạc khắp nơi, đâu đâu cũng đầy dẫy cảnh khói lửa chết chóc, giết hại lẫn nhau, mạnh được yếu thua, khôn còn dạy mất, đạo đức suy đồi. Ngài muốn cứu vớt nhơn sanh bằng cách đem học thuyết của Ngài dạy cho các từng lớp dân chúng và các hàng vua quan phải biết tôn trọng sự công bằng và mạng sống của con người, mỗi người phải làm đúng theo chức năng của mình, để cùng nhau tạo lập một cuộc sống thanh bình, an lạc, ấm no như thời của 2 vua Nghiêu Thuấn.

C.8: Ðức Khổng Tử có lòng nhơn từ thương người khổ nạn, nên Ngài thường nằm chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy cho nhiều điều để bảo tồn sự sống của nhơn sanh.

 

9.

Ðại nhơn, Ðại hiếu,

 

Ðại Thánh, Ðại từ.

 

大 仁 大 孝
大 聖 大 慈

 

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn. Nhơn: Lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh. Hiếu: Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ. Thánh: Bực Thánh. Từ: Lòng thương yêu chúng sanh.

C.9: Lòng nhân lớn, lòng hiếu thảo lớn, bực Thánh lớn, đức từ bi lớn.

 

10.

Thần văn, Thánh võ,

 

Hiếu Ðức Trung Nhơn.

 

神 文 聖 武
孝 德 忠 仁

 

GIẢI NGHĨA

Thần: Tài giỏi như Thần. Văn: Việc văn chương, nghĩa tổng quát là chỉ những việc thuộc về văn hóa, chánh trị, giáo dục. Võ: Việc võ bị quân sự, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ tổ quốc. Thánh: Tài giỏi như Thánh. Ðức: Những việc làm hợp lòng người, thuận lẽ Trời, tạo được phước đức. Trung: Lòng trung thành.

C.10: Văn võ song toàn, tài giỏi tột bực như Thần như Thánh, gồm đủ 4 đức tốt: Hiếu, Ðức, Trung, Nhơn.

 

11.

Vương tân sách phụ.

12.

Nho tông khai hóa.

 

王 賓 策 輔
儒 宗 開 化

 

GIẢI NGHĨA

Câu 11: Vương tân sách phụ:

Vương: Vua. Tân: Khách. Sách: Kế hoạch, kế sách, sách lược. Phụ: Giúp đỡ.

Vương tân: Khách của vua. Khi đi chu du qua các nước chư Hầu, Ðức Khổng Tử được các vua chư Hầu đối đãi vào bực thượng khách, kính trọng là bực tôn sư để nghe Ngài giảng giải về phép trị nước an dân, làm cho dân giàu nước mạnh.

Sách phụ: Giúp cho kế hoạch trị nước an dân.

Hễ vua chư Hầu nào có lòng yêu mến dân chúng, biết tôn trọng đạo đức thì Ðức Khổng Tử ở lại đó giúp vua kế hoạch cải cách việc chánh trị, văn hóa và kinh tế; còn vị vua nào vô đạo, ham mê tửu sắc thì Ngài bỏ đi qua nước khác. Sự đi hay ở của Ngài tùy thuộc vào cái Ðạo của Ngài có được thực hiện hay không mà thôi.

C.11: Ðức Khổng Tử là bực thượng khách của các vị vua chư Hầu, thường giúp bày kế hoạch trị nước an dân.

Câu 12: Nho tông khai hóa.

Nho: Ðạo Nho (Xem giải nghĩa chi tiết nơi phần đầu bài nầy). Tông: Cũng đọc là Tôn, nghĩa là tôn giáo. Nho tông là Nho giáo. Khai: Mở ra. Hóa: Thay đổi, dạy cho người ta thay đổi từ xấu ra tốt, từ dở thành hay.

C.12: Ðạo Nho mở ra để giáo hóa nhơn sanh.

 

13.

Văn Tuyên tư lộc,

 

Hoằng nhơn Ðế Quân.

 

文 宣 司 祿
弘 仁 帝 君

 

GIẢI NGHĨA

Văn Tuyên: Tên thụy của Ðức Khổng Tử do các vua đời sau truy tặng cho Ngài, với tấm lòng ngưỡng mộ, kể ra:

  • Khi Hớn Lưu Bang dẹp xong Hạng Võ, vua đi ngang nước Lỗ, đến làng Khuyết Lý, nơi sanh ra Ðức Khổng Tử, vào miếu bái lễ Ngài và truy phong là: Khổng Thánh Tiên Sư.

  • Vua Ðường Huyền Tông truy tặng:Văn Tuyên Vương.

  • Vua Tống Chơn Tông truy phong là: Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

  • Vua Thái Tổ nhà Nguyên truy phong Ngài là: Ðại Thánh Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

  • Vua Gia Tịnh nhà Minh tặng là: Chí Thánh Tiên Sư.

  • Vua Thạnh Trị nhà Thanh truy tặng là: Chí Thánh Tiên Sư Văn Tuyên Vương Khổng Tử.

Nếu gom tất cả các danh hiệu mà các vị vua đã truy tặng Ðức Khổng Tử, ta được danh hiệu:

"Ðại Thánh Chí Thánh Tiên Sư Văn Tuyên Vương Khổng Tử".

Ngày nay thời TKPÐ, Ðức Khổng Tử có tước hiệu là: Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

Tư lộc: Tư là lo việc, quản lý; lộc là phước lộc. Tư lộc là lo việc ban phước lộc cho thế gian về thi cử văn chương và ban cho phẩm tước nơi chốn quan trường.

Văn Tuyên tư lộc: Ðức Khổng Tử có nhiệm vụ coi việc ban phước lộc cho thế gian về văn chương thi cử và phẩm tước nơi quan trường.

Hoằng: Rộng lớn. Nhơn: Lòng thương người mến vật, thương khắp chúng sanh. Ðế Quân: Phẩm tước rất cao trọng nơi cõi thiêng liêng do Ðức Chí Tôn phong thưởng.

Hoằng nhơn Ðế Quân: Ðức Khổng Tử là một vị Ðế Quân nhơn đức rộng lớn.

C.13: Ðức Khổng Tử coi về việc ban phước lộc cho thế gian, Ngài là vị Ðế Quân nhơn đức rộng lớn.

 

14.

Trừng Chơn Chánh Quang,

 

Bửu Quang Từ Tế.

 

Thiên Tôn.

 

澄 眞 正 光
寶 光 慈 濟
天 尊

Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm:

Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn

南 無 孔 聖 先 師 興 儒 盛 世 天 尊

 

GIẢI NGHĨA

Trừng: Trong sạch. Chơn: Thật, chơn thật. Chánh: Ngay thẳng, không tà vạy. Quang: Sáng. Bửu: Quí báu. Từ: Lòng thương yêu chúng sanh. Tế: Cứu giúp. Thiên Tôn: Phẩm tước nơi cõi thiêng liêng do Ðức Chí Tôn phong thưởng.

C.14: Ðức Khổng Tử có những đức tánh: Trong sạch, chơn thật, ngay thẳng, sáng tỏ, báu sáng, từ bi hay cứu giúp, là một Ðấng Thiên Tôn.

Câu niệm: Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

Khổng Thánh: Ðức Thánh họ Khổng, tức là Ðức Thánh Khổng Tử. Tiên Sư: Danh từ để học trò gọi Thầy dạy học khi Thầy đã chết. Các nhà Nho thường gọi Ðức Khổng Tử là Khổng Thánh Tiên Sư. Hưng Nho: Phục hưng Ðạo Nho, làm cho Ðạo Nho hưng thịnh. Thạnh Thế: Ðời thịnh vượng.

Nhờ Ðức Khổng Tử phục hưng Ðạo Nho, làm cho học thuyết Nho giáo có hệ thống, đưa lên ngang hàng với Tiên giáo và Phật giáo. Nước Tàu nhờ Nho giáo mà được thịnh vượng và hùng cường trong một thời gian dài.

Ðức Khổng Tử là Giáo chủ Nho giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Ngài là một vị Ðế Quân, cũng là một vị Thiên Tôn. Ðịa vị của Ngài nơi cõi thiêng liêng rất cao trọng, vào hàng Phật vị, đứng ngang hàng với Ðức Phật Thích Ca và Ðức Lão Tử.

Thời Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Quan Thánh Ðế Quân, đại diện Ðức Khổng Tử cầm quyền Nho giáo, làm Ðệ Tam Trấn Oai Nghiêm ÐÐTKPÐ.

Tinh hoa của Giáo lý Nho giáo được Ðạo Cao Ðài áp dụng để chấn hưng nền phong hóa và luân lý của dân tộc VN, tạo nên một khuôn mẫu cho toàn thế giới noi theo, đúng vói câu Thánh ngôn của Ðức Chí Tôn: "Nam phong thử nhựt biến Nhơn phong." (Phong hóa của người VN ngày ấy biến thành phong hóa của nhơn loại).

Ðó chính là chủ trương NHO TÔNG CHUYỂN THẾ của Ðạo Cao Ðài.

 

TÓM TẮT GIẢI NGHĨA KINH NHO GIÁO

  KINH: GIẢI NGHĨA:

1.

Quế Hương nội điện,
Văn Thỉ thượng cung.
Ở trong Ðiện Quế Hương,
Phía trên hết là Cung Văn Thỉ, nơi thường ngự của Ðức Khổng Tử.

2.

Cửu thập ngũ hồi,
Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố.
95 lần giáng sanh xuống cõi trần rồi trở về, Gieo trái lành nơi vườn thơ văn kinh sách.

3.

Bá thiên vạn hóa, Bồi quế thọ ư Âm chất chi điền. Trăm ngàn muôn lần biến hóa, Vun bồi cây quế nơi ruộng phước đức.

4.

Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh. Văn tự chế thành thì có sấm nổ, văn tự như có chứa ngọn lửa để soi sáng và ghi chép kiến thức, kinh nghiệm của người xưa, nên linh như chim phụng trên núi.

5.

Chí như ý từ, tường ư ngao trụ. Ðến như cái ý tưởng thương yêu chúng sanh, tốt lành như ở núi Ngao trụ.

6.

Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu. Sự khai mở cái Tâm của con người ắt hẳn gốc ở tại sự hết lòng hiếu thảo với cha mẹ.

7.

Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung. Sự vững bền của quốc gia ắt hẳn trước tiên ở tại sự hết lòng trung thành với nước.

8.

Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ. Ðức Khổng Tử có lòng nhơn từ thương người khổ nạn nên thường chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy nhiều điều bảo tồn sự sống cho nhơn sanh.

9.

Ðại nhơn, Ðại hiếu,
Ðại Thánh, Ðại từ.
Lòng nhơn lớn, lòng hiếu lớn,
Bực Thánh lớn, đức từ bi lớn.

10.

Thần văn, Thánh võ, Hiếu Ðức Trung Nhơn. Văn võ song toàn tài giỏi tột bực, Có đủ 4 đức: Hiếu, Ðức, Trung, Nhơn.

11.

Vương tân sách phụ. Thượng khách của vua, thường bày kế hoạch giúp vua.

12.

Nho tông khai hóa. Ðạo Nho mở ra giáo hóa nhơn sanh.

13.

Văn Tuyên tư lộc, Hoằng nhơn Ðế Quân. Ðức Khổng Tử lo việc ban phước lộc cho thế gian, là vị Ðế Quân nhơn đức rộng lớn.

14.

Trừng chơn chánh quang , Bửu quang từ tế. Thiên Tôn. Trong sạch, ngay thật,sáng tỏ, báu sáng, nhơn từ, cứu giúp. Thiên Tôn. Là một Ðấng

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm:
Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn)

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

 


 

DÂNG TAM BỬU: Hoa, Rượu, Trà


 

DÂNG TAM BỬU: Hoa, Rượu, Trà

 

Tam Bửu là 3 món quí báu.

Tam Bửu của con người là: Tinh, Khí, Thần, tức là Thể xác, Chơn thần và Linh hồn.

TINH là Thể xác, tức là hình hài xác thịt của con người, được tượng trưng bằng Hoa (Bông), vì Ðức Chí Tôn muốn cho hình thể con cái của Ngài tốt đẹp như cái hoa.

KHÍ là Chơn thần, tức là xác thân thiêng liêng, được tượng trưng bằng Rượu vì Ðức Chí Tôn muốn cho Chơn thần các con cái của Ngài cường liệt như rượu mạnh vậy.

THẦN là Chơn linh hay Linh hồn, là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho mỗi người, được tượng trưng bằng Trà, vì Ðức Chí Tôn muốn cho Chơn linh con cái của Ngài điều hòa thơm tho như hương vị của Trà vậy.

Mỗi khi cúng Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng Thiêng liêng, chúng ta phải dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu, dâng Bửu nào thì thài bài Kinh của Bửu ấy theo giọng Ðảo Ngũ Cung và cầu nguyện cũng theo Bửu đó.

* Ðầu tiên, dâng Hoa thì thài bài Dâng Hoa, rồi cầu nguyện dâng Thể xác.

* Kế đó, dâng Rượu thì thài bài Dâng Rượu, rồi cầu nguyện dâng Chơn thần.

* Sau cùng là dâng Trà thì thài bài Dâng Trà, rồi cầu nguyện dâng Linh hồn.

 

I. Nguồn gốc 3 bài Dâng Tam Bửu:

Ðầu năm Bính Dần (1926), Ðức Chí Tôn dạy 3 vị: Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư đến nhà của Quan Phủ Ngô Văn Chiêu ở gần chợ Sài gòn để Quan Phủ chỉ cho vẽ Thiên Nhãn thờ Ðức Chí Tôn và cách thờ phượng. (Quan Phủ Ngô Văn Chiêu là môn đệ đầu tiên của Ðức Chí Tôn, thấy hình Thiên Nhãn 3 lần do Ðức Chí Tôn dùng huyền diệu cho hiện ra ở tại đảo Phú Quốc, để Quan Phủ vẽ Thiên Nhãn theo hình đã thấy mà thờ Ðức Chí Tôn).

Quan Phủ chỉ cho 3 vị thấy cách thờ Thiên Nhãn, rồi trao cho 3 vị 3 bài Kinh: Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà, để cúng Ðức Chí Tôn, và bài Kinh Cầu Cơ "Trời còn".

Ba bài Kinh Dâng Tam Bửu nầy có in trong quyển "Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh" xuất bản năm 1928 của nhị vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, trang 38, 39, 40, xin chép ra sau đây:

* BÀI DÂNG TIÊN HOA:

Hoa tươi năm sắc thiên nhiên,
Ðầu cúi xin dâng lễ kỉnh thiềng.
Cảm đức Cao Ðài lòng đoái tưởng,
Từ bi cứu thế giáng đàn tiền.

* BÀI DÂNG TIÊN TỬU:

Tửu vị hương hề tửu vị hương,
Khấu đầu cung hiến chước hồ tương.
Cao Ðài hứng cảnh nhàn hoan nhã,
Ðệ tử cung trần mỹ vị hương.

* BÀI DÂNG TIÊN TRÀ:

Ðông độ thanh trà mỹ vị hương,
Khấu đầu cung hiến chước hồ trường.
Cao Ðài hứng cảnh nhàn hoan nhã,
Ðệ tử cung trần mỹ vị hương.

Sau đó được vài tháng, đến ngày 14-3-Bính Dần (dl 24-4-1926), Quan Phủ Ngô văn Chiêu tách riêng ra để tu đơn, không cộng tác với nhóm của Ngài Lê Văn Trung nữa, nhưng 3 bài Dâng Tam Bửu của Quan Phủ đưa qua vẫn được dùng để dâng cúng Ðức Chí Tôn.

Ðến đầu năm Kỷ Tỵ (1929), Ðức Phạm Hộ Pháp có xin với Bát Nương ban cho 3 bài Kinh Dâng Tam Bửu mới để thế cho 3 bài cũ của Ngài Ngô Văn Chiêu, nhưng Ðức Phạm Hộ Pháp được trả lời là nên để cho Hội Thánh đặt ra để Dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn thì mới hợp lẽ.

Do dó, Ðức Phạm Hộ Pháp chỉ định Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu (tức Cao Mỹ Ngọc) đặt ra 3 bài nầy, rồi cầu Bát Nương chỉnh văn lại, xong dâng lên Ðức Chí Tôn duyệt, rồi chuyển qua cho Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung bên Cửu Trùng Ðài ban hành ra cho toàn đạo.

Ngày 17-6-Canh Ngọ (dl 12-7-1930), Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung (lúc đó còn là Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt) ban hành quyển "NGHI TIẾT ÐẠI ÐÀN TIỂU ÐÀN TẠI TOÀ THÁNH VÀ THÁNH THẤT CÁC NƠI", trong đó có ban hành 3 bài Dâng Tam Bửu mới mà chúng ta đang sử dụng.

 

II. Cách cầu nguyện khi Dâng Tam Bửu:

Về cách thức và lời cầu nguyện khi Dâng Tam Bửu, Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo dạy như sau:

- Hễ đưa Bông lên là dâng cái Hình thể của chúng ta đó, ta cúi đầu cầu nguyện Chí Tôn:

"Con xin dâng mảnh hình hài của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

- Khi dâng Rượu thì cầu nguyện:

"Con xin dâng cả trí thức tinh thần của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

( Trí thức Tinh thần của con người là thuộc về Chơn thần).

- Khi dâng Trà cầu nguyện:

"Con xin dâng cả Linh hồn của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

+ Câu chót, chúng ta nên nguyện gồm chung lại như vầy:

"Cả Linh hồn, cả Trí não, cả Hình hài con, Thầy đào tạo, đó là của Thầy thì do nơi quyền hành độc đoán của Thầy định."

Khi dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn, hễ dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, dâng xong một Bửu thì lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy: Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Dâng Tam Bửu cúng Ðức Phật Mẫu thì cầu nguyện với Ðức Phật Mẫu, dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, lời cầu nguyện thì giống y như lời cầu nguyện đối với Ðức Chí Tôn, nhưng thay chữ Chí Tôn bằng chữ Phật Mẫu, xong mỗi Bửu thì lạy Phật Mẫu 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

 

III. BÍ PHÁP DÂNG TAM BỬU:

Tại sao Ðức Chí Tôn buộc tín đồ dâng Tam Bửu?

Tại sao trong mỗi thời cúng, Ðức Chí Tôn buộc các Tín đồ Nam Nữ đều phải dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu? Ðiều nầy có phải vì lợi ích cho Chí Tôn hay cho Phật Mẫu không?

Trả lời: Không, mà trái lại là hoàn toàn vì lợi ích cho Tín đồ, bởi vì đây là Bí Pháp giải thoát cho mỗi Tín đồ.

Bí Pháp thì phải bí mật, nhưng ÐÐTKPÐ nầy, Ðức Chí Tôn ban cho ơn huệ là Ðại Ân Xá, nên Ðức Chí Tôn không giấu giếm Bí Pháp nữa, Ðức Chí Tôn bày ra trước mắt nhơn sanh, để nhơn sanh thấy rõ mà thực hành. Và Ðức Chí Tôn nhấn mạnh: "Gặp Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi được."

Bí Pháp đó là: Ðức Chí Tôn biểu chúng ta dâng Tam Bửu của chúng ta (Thể xác, Chơn thần, Linh hồn) lên cho Ðức Chí Tôn để Ðức Chí Tôn lấy đó làm phương tiện PHỤNG SỰ VẠN LINH.

Tại sao gọi đó là Bí Pháp?

Bởi vì chính nó là phương cách giải thoát chúng ta khỏi vòng Luân hồi để Linh hồn sau khi thoát xác, trở về hiệp nhứt cùng Ðức Chí Tôn nơi cõi thiêng liêng, tức là đắc đạo vậy.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải thích như sau:

"Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Ðền Thánh kêu Ðức Chí Tôn, kêu Tam Giáo và các Ðấng Thiêng liêng mà phân chứng trước: Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến cho Ðức Chí Tôn, làm tôi tớ cho vạn linh, thay thế cho Ðức Chí Tôn.

Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội mà chúng ta không làm điều gì thêm nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thế gì định tội được. Ðức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát."

Như vậy, mỗi ngày chúng ta cúng Ðức Chí Tôn, chúng ta đều cầu nguyện dâng Tam Bửu (Thể xác, Chơn thần, Linh hồn, tượng trưng bằng Bông, Rượu, Trà) là dâng toàn thể con người chúng ta cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng, tức là chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào Chí Tôn sai khiến định liệu trong công cuộc Phụng Sự Vạn Linh. Chúng ta không còn điều gì để lo lắng ngoài sự lo lắng làm thế nào thực hiện cho hoàn tất mệnh lệnh của Ðức Chí Tôn ban bố.

Bí Pháp Giải thoát ấy, Ðức Chí Tôn để hiển hiện ngay trước mắt nhơn sanh mà ít ai để ý suy nghĩ.

Nhưng việc thực hiện Bí Pháp nầy một các trọn vẹn thì cũng khó khăn vô cùng. Nhưng càng khó khăn thì càng có giá trị xứng đáng. Ðâu có dễ gì đâu? Nhưng không phải là quá khó khăn để không thể thực hiện được.

Nếu chúng ta có một Ðức Tin mạnh mẽ nơi Ðức Chí Tôn và có một tấm lòng hy sinh, quên mình, thì mọi việc đều trở nên dễ dàng.

Như thế, cái tấm thân của ta đây, cả Chơn thần và Linh hồn nữa, chúng ta đã giao hết cho Chí Tôn, giao thật sự với đầy đủ ý nghĩa của nó, thì ta không còn gì là của ta nữa, đừng nói chi là của cha mẹ ta hay vợ con ta. Như vậy, cái TA tức là cái NGÃ không còn nữa, thì đâu còn gì để CHẤP NGÃ. Ðây là một phương pháp PHÁ CHẤP triệt để.

Sự Dâng hiến nầy là để Phụng Sự Vạn linh, nếu chúng ta thi hành một cách chí thành thì đủ đem chúng ta trở về cùng Ðức Chí Tôn, mà không cần làm thêm một điều gì khác nữa.

Trong TNHT, Ðức Chí Tôn có dạy rằng:

"Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Ðạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong.

Vậy muốn đắc quả, thì chỉ có một điều Phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao." (TNHT. II. 101)

Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn cấm hẳn lối tu "Ðộc thiện kỳ thân", một lối tu ích kỷ, chỉ biết lo cho riêng mình.

Thể pháp và Bí pháp của Ðạo Cao Ðài đều đặt việc PHỤNG SỰ VẠN LINH là trên hết. Do đó, Bí pháp Luyện đạo trong Tịnh Thất chỉ là phần đặc biệt dành cho những Tín đồ đã đầy đủ công quả Phụng Sự Vạn Linh mà còn sức khỏe.

Tóm lại, Ðức Chí Tôn buộc chúng ta dâng Tam Bửu cho Ngài là vì Ngài muốn chúng ta thay thế Ngài mà lo "Hoằng khai Ðại Ðạo, Phổ Ðộ chúng sanh", tức là lo Phụng Sự Vạn Linh, bởi vì đó là Bí pháp đắc đạo để chúng ta trở về hội hiệp cùng Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu.

 

BÀI DÂNG HOA

(Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung)

1.

Từ bi giá ngự rạng môn thiền,

2.

Ðệ tử mừng nay hữu huệ duyên.

3.

Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ,

4.

Cúi mong Thượng Ðế rưới ân Thiên.

(Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).

 

GIẢI NGHĨA

Thài: là ngâm từng chữ của bài Kinh với giọng ngân thật dài theo giọng của điệu Cổ nhạc Ðảo Ngũ Cung.

Khi cúng Ðại đàn Ðức Chí Tôn tại Thánh Thất hay khi cúng Ðại đàn Ðức Phật Mẫu tại Ðiện Thờ, đồng nhi thài 3 bài Dâng Tam Bửu, thì Lễ sĩ lần lượt điện dâng lễ phẩm, bước đi theo hình chữ Tâm [] từ Ngoại nghi vào Nội nghi: Lần thứ nhứt: dâng Hoa và Quả; lần thứ nhì: dâng Rượu và Bình rượu; lần thứ ba: dâng Trà và Bình trà.

Ðảo Ngũ Cung: là điệu nhạc cổ, nhịp đi rất chậm, để đồng nhi cất giọng thài theo.

Câu 1: Từ Bi giá ngự rạng môn thiền.

Từ Bi: Từ là lòng thương tưởng lo lắng giúp ích cho chúng sanh, làm cho họ được an ổn vui vẻ. Bi là lòng trắc ẩn thương cảm các cảnh khổ não của chúng sanh, lúc nào cũng muốn cứu vớt họ ra khỏi phiền não và tai họa.

Từ bi là lòng thương yêu bao la, thương khắp chúng sanh, muốn giúp chúng sanh thoát khổ.

Từ bi là hạnh của Phật.

Trong Câu Kinh 1, Từ Bi là chỉ Ðức Chí Tôn.

Giá ngự: Giá là xe của vua đi, ngự là tiếng chỉ về vật dụng hay hành động của vua. Giá ngự là xe của vua đi. Ở đây, ý nói là Ðức Chí Tôn dùng xe đi xuống cõi phàm trần. Môn thiền: Môn là cửa, Thiền là là yên lặng suy tưởng. Môn thiền hay Thiền môn, dịch là cửa Thiền, chỉ cái chùa thờ Phật làm nơi tu hành. Ở đây, môn thiền là chỉ Thánh Thất để thờ cúng Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng. Rạng: Làm cho sáng.

C.1: Ðức Chí Tôn đi xe xuống, tỏa hào quang chiếu sáng Thánh Thất.

Câu 2: Ðệ tử mừng nay hữu huệ duyên.

Ðệ tử: Học trò. Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn xưng mình là Thầy, gọi các tín đồ là môn đệ, và các tín đồ xưng là Ðệ tử. Hữu: Có. Huệ duyên: Huệ là ơn, duyên là mối dây ràng buộc đã được định sẵn. Huệ duyên là cái duyên được hưởng ơn huệ.

C.2: Chúng con là học trò của Thầy, ngày nay vui mừng có được cái duyên hưởng ơn huệ của Thầy ban cho.

Câu 3: Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ.

Kỉnh lễ: Dâng phẩm vật lên để tỏ lòng kính trọng. Năm sắc hoa tươi: tượng trưng cho Ngũ Tạng và Ngũ Quan của thân thể con người, tương ứng với Ngũ Hành kể ra như sau đây:

NGŨ TẠNG: NGŨ QUAN: NGŨ HÀNH:
Tâm (tim) Lưỡi Hỏa: màu đỏ.
Can (gan) Mắt Mộc: màu xanh.
Tỳ (lá lách) Miệng Thổ: màu vàng.
Phế (phổi) Mũi Kim: màu trắng.
Thận (thận) Tai Thủy: màu đen.

Khi dâng Năm sắc Hoa tươi lên cúng Ðức Chí Tôn, cũng nên chọn 5 màu hoa tương ứng với Ngũ Hành. Các hoa màu Vàng, Xanh, Ðỏ, Trắng thì dễ tìm, còn hoa màu đen thì không có, nên có thể chọn hoa màu tím sậm hay đỏ sậm.

Năm sắc Hoa tươi nầy tượng trưng cho Ngũ quan Ngũ tạng của con người tức là tượng trưng Xác thân con người.

C.3: Kính dâng lên Năm sắc Hoa tươi để tỏ lòng kính trọng.

Câu 4: Cúi mong Thượng Ðế rưới ân Thiên.

Thượng Ðế: Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế, ngày nay gọi là Ðấng Cao Ðài. Ân Thiên: Ơn Trời.

C.4: Cúi lạy Ðức Chí Tôn, mong Ðức Chí Tôn chan rưới ơn lành.

CHÚ Ý: Khi cúng Ðức Phật Mẫu, thài tới câu kinh nầy thì đổi chữ "Thượng Ðế" thành chữ "Phật Mẫu": Cúi mong Phật Mẫu rưới ân Thiên.

Dùng Hoa tượng trưng cho TINH là Thể xác, trùng hợp với sự tích Na Tra nhập xác bông sen tức là Thân thể của Na Tra được tạo bằng bông sen trong Truyện Phong Thần.

Ðể cứu cha mẹ khỏi bị Ngao Quảng bắt trói hành tội, Na Tra phải tự chặt tay, lóc thịt, mổ bụng chết trước mặt Ngao Quảng Long Vương, đền cho cái tội giết chết Ngao Bính và Lý Lương lúc nọ.

Hồn Na Tra đêm ấy báo mộng cho mẹ, xin mẹ lập cho một cái miểu tại núi Túy Bình để nhờ hương khói của bá tánh cúng cho linh hồn được mau cứng cát. Bà mẹ liền lén chồng (cha của Na Tra là Lý Tịnh) lên cốt lập miểu cho Na Tra tại núi Túy Bình, đúng theo lời cầu xin. Ðược nửa năm, một hôm tình cờ Lý Tịnh kéo quân qua đó, thấy thiên hạ đến miểu dâng hương rất đông, vì Ông Thần thờ nơi miểu rất linh, ai cầu chi được nấy. Lý Tịnh liền vào xem thử, thấy cốt tượng trên bàn thờ là Na Tra, thì nổi giận, cho rằng Na Tra đã chết rồi mà còn muốn khuấy phá dân chúng, nên Ông đập tượng cho gãy nát và nổi lửa đốt miểu cháy tiêu.

Hồn Na Tra không còn nơi nương tựa, nên bay về Ðộng Thái Ất để kêu oan với Thầy. Ông Thái Ất bèn gọi Kim Hà đồng tử đi hái 2 cái bông sen và 3 lá sen còn nguyên cọng. Thái Ất liền bẻ 360 khúc cọng sen làm xương, lấy các cánh bông sen đắp lên làm thịt, đắp phủ bên ngoài 3 lá sen làm da, để một hột linh đơn vào giữa, rồi họa phù niệm chú, bắt vía thâu hồn Na Tra, xô nhập vào hình sen rồi hét lớn: Na Tra chưa sống lại còn đợi chừng nào?

Xảy nghe một tiếng ư, một người hiện ra từ hình sen trổi dậy, mặt như dồi phấn, môi tợ thoa son, con mắt có ngời, cao lớn đẹp đẽ, ấy là Na Tra nhập xác bông sen đó.

Nhắc lại câu cầu nguyện khi Dâng Hoa: "Con xin dâng mảnh hình hài của con cho Ðức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

 

BÀI DÂNG RƯỢU

(Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung)

1.

Thiên ân huệ chiếu giáng thiền minh,

2.

Thành kỉnh Trường Xuân chước tửu quỳnh.

3.

Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,

4.

Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh.

(Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).
 

 

天 恩 惠 照 降 禪 明
誠 敬 長 春 酌 酒 瓊
樂 興 叩 恭 皆 勉 禮
脫 災 百 姓 仰 恩 生

 

GIẢI NGHĨA

Câu 1: Thiên ân huệ chiếu giáng thiền minh.

Thiên ân: Ơn Trời, chỉ Ðức Chí Tôn. Huệ: Ơn, làm ơn. Chiếu: Soi sáng, ban bố . Huệ chiếu: Ðức Chí Tôn ban bố ơn huệ. Giáng: Ði xuống. Thiền: Yên lặng suy nghĩ, thường nói Thiền môn, chỉ ngôi chùa. Minh: Sáng. Thiền minh là yên lặng suy nghĩ cho trí não mở mang sáng suốt. Ở đây, Thiền minh là chỉ Thánh Thất thờ Ðức Chí Tôn.

C.1: Xin Ðức Chí Tôn ban bố ơn huệ, giáng xuống Thánh Thất.

Câu 2: Thành kỉnh Trường Xuân chước tửu quỳnh.

Thành kỉnh: Thành thật kính trọng. Trường Xuân: Mùa Xuân lâu dài, mùa Xuân trường cửu. Ðới với dân chúng thì chúc nhau: Sống lâu trăm tuổi. Ðối với hàng Ðại quan thì chúc nhau Thiên tuế (Ngàn năm), Ðối với vua thì chúc là Vạn tuế (Muôn măm). Cho nên đối với Ðức Chí Tôn thì dùng chữ Trường Xuân. Vậy Trường Xuân là chỉ Ðức Chí Tôn. Chước tửu: Rót rượu. Quỳnh: Một thứ ngọc màu đỏ, thường được các vua chúa cho thợ đẽo gọt làm thành cái chung nhỏ để uống rượu, làm tăng thêm mùi vị thơm ngon của rượu.

C.2: Thành thật kính trọng Ðức Chí Tôn, xin rót chung rượu quí dâng lên.

Cúng Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng, chúng ta thường dùng Rượu trắng (Bạch tửu), nên chọn loại rượu tốt, có màu trong suốt, thơm ngon.

Câu 3: Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ.

Lạc: Vui vẻ. Hứng: Cảm thấy phấn chấn trong lòng. Khấu: Lạy, cúi đầu sát xuống đất. Cung: Thân mình. Khấu cung: Cúi mình lạy xuống. Giai: Ðều, cùng. Miễn: Gắng sức, cố gắng. Lễ: Làm lễ, lạy xuống để tỏ lòng kính trọng.

C.3: Vui vẻ hân hoan cung kính cúi đầu lạy xuống, đều gắng sức làm lễ.

Câu 4: Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh:

Thoát: Tránh khỏi. Tai: Ðiều hại lớn, tai họa. Bá tánh: còn đọc là Bách tính, bá là trăm (100), tánh là họ. Bá tánh là trăm họ, chỉ số đông dân chúng, cũng chỉ toàn thể nhơn sanh. Ngưỡng: Ngửa mặt trông lên với lòng kính trọng và yêu mến. Ân sinh: Ơn để được sống, hưởng ơn huệ để được sống còn.

C.4: Cầu xin cho nhơn sanh thoát khỏi tai họa và hưởng được ơn huệ sống còn.

Dùng Rượu tượng trưng cho KHÍ là Chơn thần, rất có ý nghĩa về phương diện khoa học.

Chơn thần ở thể Khí, tức thể Hơi, do Thể xác bốc ra và lấy hình ảnh của Thể xác y như khuôn in rập.

Còn Rượu là do sự chưng cất, hơi rượu bay lên gặp lạnh đông lại mà thành. Muốn có rượu trắng, người ta dùng gạo hay nếp, ủ cho lên men rượu, nấu cho rượu bốc hơi, rồi dùng nước lạnh ngưng tụ hơi rượu lại thì được rượu. Do dó, Rượu rất dễ bay hơi, dễ biến thành chất khí.

Như thế, Rượu và Chơn thần có một sự tương đồng về thể, nên việc dùng Rượu trắng tượng trưng Chơn thần là một điều rất hợp khoa học.

Khi thài xong Bài Dâng Rượu, chúng ta nhớ chấp 2 tay đưa lên trán cầu nguyện: "Con xin dâng Chơn thần của con lên cho Ðức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng".

 

BÀI DÂNG TRÀ

(Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung)

1.

Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,

2.

Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

3.

Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước,

4.

Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường.

(Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).
 

 

梅 春 月 菊 味 茶 香
敬 禮 成 心 獻 寶 漿
仰 望 慈 悲 加 濟 福
開 明 大 道 護 清 平

 

GIẢI NGHĨA

Câu 1: Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương.

Mai xuân: Hoa mai vào mùa Xuân. Nguyệt cúc: Hoa cúc vào mùa Thu. Do chữ: Cúc nguyệt, là tháng 8 âm lịch, thuộc mùa Thu, vì vào tháng 8 nầy, hoa cúc tới mùa nở rộ.

Nói về Hoa thì mỗi mùa trong năm có một thứ hoa đặc trưng. Mùa Xuân thì có hoa mai, mùa Hạ thì có hoa sen, mùa Thu thì có hoa cúc, mùa Ðông thì có hoa đào.

Vị: Cái cảm giác do lưỡi khi nếm cho biết. Hương: Mùi thơm. Vị trà hương: Mùi vị thơm ngon của trà.

C.4: Mùi vị thơm ngon của trà như hoa mai mùa Xuân, hoa cúc mùa Thu.

Câu 2: Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

Kỉnh lễ: Dâng phẩm vật lên để tỏ lòng kính trọng. Thành tâm: Lòng thành thật. Hiến: Dâng lên. Bửu: Quí báu. Tương: Chất nước để uống. Bửu tương: Nước trà quí.

C.2: Lòng thành thật kính dâng lễ vật là chung trà quí.

Câu 3: Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước.

Ngưỡng: Ngửa mặt trông lên với lòng kính trọng và yêu mến. Vọng: Trông mong. Ngưỡng vọng: Trông chờ, mong mỏi một cách thành kính. Từ Bi: chỉ Ðức Chí Tôn. (Xem lại Câu 1 BDH). Gia: Thêm. Tế: Cứu giúp. Phước: Ðiều may mắn tốt lành.

C.3: Thành kính trông mong Ðức Chí Tôn cứu giúp và ban thêm phước lành.

Câu 4: Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường.

Khai: Mở ra. Minh: Sáng. Khai minh: Mở ra cho sáng. Ðại Ðạo: Nền Ðạo lớn, đó là Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, gọi tắt là Ðạo Cao Ðài. Hộ: Giữ gìn, che chở. Thanh bường: do chữ Thanh bình nói trại ra cho đúng vận thơ. Thanh bình là cảnh dân chúng sống bình yên an lạc.

C.4: Khai minh nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ của Ðức Chí Tôn để gìn giữ thái bình và an lạc cho nhơn sanh.

Ðạo Cao Ðài là Ðại Ðạo và xứng đáng là một nền Ðại Ðạo, vì 3 yếu tố chánh sau đây:

- Thứ nhứt, Giáo chủ Ðạo Cao Ðài là Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế, là Ðấng lớn nhứt, được tôn kính nhứt, quyền pháp nhứt trong CKVT nầy. Ðấng ấy là vua của Nhựt Nguyệt Tinh, là chủ của chư Thần Thánh Tiên Phật, là Ðại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh.

- Thứ nhì, Giáo lý của Ðạo Cao Ðài là nguyên căn Giáo lý của các tôn giáo, nên nó dung hợp được các Giáo lý của Tam giáo và Ngũ Chi. Cho nên Ðạo Cao Ðài sẽ thành công trong việc qui nguyên Tam giáo và hiệp nhứt Ngũ Chi.

- Thứ ba, Ðạo Cao Ðài có nhiệm vụ tận độ 92 ức Nguyên nhân và phổ độ chúng sanh trong thời gian Thất ức niên (700 000 năm), một thời gian rất dài nơi cõi trần, mà không có một tôn giáo nào trước đây có thời gian phổ độ lâu dài như thế.

Trà tượng trưng THẦN, tức Chơn linh hay Linh hồn.

Khi thài xong Bài Dâng Trà, chúng ta nhớ cầu nguyện: "Con xin dâng Linh hồn của con cho Ðức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

Dâng Trà là dâng Bửu thứ 3 rồi chấm hết, chúng ta nên cầu nguyện dâng luôn cả Thể xác, Chơn thần và Linh hồn: "Con xin dâng cả Thể xác, Chơn thần và Linh hồn của con cho Ðức Chí Tôn tùy phương sử dụng."

 

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

 


 

Kinh Cúng Tứ Thời: Ngũ Nguyện

 

NGŨ NGUYỆN

(Giọng Nam xuân)

Nam mô:  
Nhứt nguyện:

Ðại Ðạo hoằng khai,

Nhì nguyện:

Phổ Ðộ chúng sanh,

Tam nguyện:

Xá tội đệ tử,

Tứ nguyện:

Thiên hạ thái bình,

Ngũ nguyện:

Thánh Thất an ninh.

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy).

 

五 願

南 無

 

一 願
二 願
三 願
四 願
五 願

大 道 弘 開
普 度 眾 生
赦 罪 弟 子
天 下 太 平
聖 室 安 寧

 

GIẢI NGHĨA

Ngũ Nguyện: Ngũ là 5, cũng có nghĩa là thứ 5. Cho nên từ ngữ Ngũ Nguyện có 2 nghĩa:

  • Ngũ Nguyện là 5 câu cầu nguyện, 5 điều nguyện.

  • Ngũ Nguyện là câu nguyện thứ 5, điều nguyện thứ 5.

Chúng ta nên lưu ý rằng:

  • 2 câu Nguyện đầu, chữ Nguyện có nghĩa là: Mong muốn và quyết tâm thực hiện.

  • 3 câu Nguyện sau, chữ Nguyện có nghĩa là: Cầu nguyện, cầu xin Ðức Chí Tôn ban cho.

Nam mô: do tiếng Phạn là Namah phiên âm ra, có nghĩa là: Qui y, qui mạng, chí tâm hướng, tức là quyết chí vâng theo lời Phật dạy, nguyện hiến trọn đời mình cho Ðạo pháp. Về sau, từ ngữ Nam mô thường dùng làm tiếng khởi đầu cho câu cầu nguyện.

Câu 1-2:

Nhứt nguyện Ðại Ðạo hoằng khai.
Nhì nguyện Phổ Ðộ chúng sanh.

Nhứt nguyện: Ðiều nguyện thứ nhứt, tức là Ðiều thứ nhứt mà con mong muốn và quyết tâm thực hiện là: ....

Ðại Ðạo: Nền Ðạo lớn, đó là ÐÐTKPÐ tức là Ðạo Cao Ðài. Hoằng: Rộng lớn. Hoằng khai: Mở rộng ra.

Nhì nguyện: Nhị nguyện, Ðiều nguyện thứ hai, tức là Ðiều thứ nhì mà con mong muốn và quyết tâm thực hiện là...

Phổ Ðộ: Phổ là bày ra khắp nơi, độ là cứu giúp. Phổ Ðộ là cứu giúp chúng sanh khắp nơi. Chúng sanh: Tất cả các loài sanh vật gồm: Thảo mộc, Thú cầm và Nhơn loại.

Trong nghĩa hẹp, chúng sanh là nhơn loại.

Câu nguyện thứ nhứt, chúng ta phải hiểu theo lối đảo ngữ thì mới phù hợp với câu nguyện thứ 2:

- Nhứt Nguyện: Hoằng khai Ðại Ðạo,
- Nhì Nguyện: Phổ độ chúng sanh.

Ðiều Nguyện thứ nhứt: Con mong muốn và quyết tâm hoằng khai nền Ðại Ðạo.

Ðiều Nguyện thứ hai: Con mong muốn và quyết tâm phổ độ chúng sanh.

"Ðức Khổng Tử có nói rằng: "Nhân năng hoằng Ðạo, phi Ðạo hoằng nhân." Nghĩa là: Người có thể mở rộng Ðạo, Ðạo không mở rộng người.

Người thì có cái biết mà Ðạo thì vô vi. Nhờ cái biết mà người mới làm cho Ðạo rộng lớn ra, chớ Ðạo tự nó không làm cho người rộng lớn ra được. Bởi vì Ðạo lập thành cái cùng cực của người, mà người là cái khí cụ của Ðạo, cho nên Ðạo và người không lìa bỏ nhau được. Người phải dụng lực làm cho cái Ðạo sáng rõ ra. Nếu người không dụng lực, cứ muốn để cho cái Ðạo tự nhiên làm cho người ta lên đến chỗ cao minh quảng đại thì không có bao giờ." (Theo Nho giáo của Trần trọng Kim)

Muốn hoằng khai nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn, chúng ta phải làm sao?

Thiển nghĩ, chúng ta phải thuyết đạo, viết sách báo truyền bá và xiển dương Giáo lý, Triết lý của Ðại Ðạo, rồi dùng các phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến rộng ra như: Báo chí, Truyền thanh, Truyền hình, Băng từ, để cho mọi người đều biết nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn, rồi truyền bá từ trong nước ra khắp các nước ngoại quốc, đủ các sắc dân.

Muốn Phổ Ðộ chúng sanh, phải làm sao?

Sự cứu độ phải có 2 mặt: Cứu độ phần xác và cứu độ phần hồn.

- Cứu độ phần xác là khi thấy người ta đói thì phải giúp ngay lương thực để cứu đói; khi thấy người ta bịnh hoạn thì phải giúp thuốc men để cứu bịnh; khi thấy người ta rách rưới nghèo nàn thì phải giúp áo quần, mền chiếu; khi thấy người ta thất vọng đau khổ thì phải đến an ủi khuyên lơn, vv.

- Cứu độ phần hồn là phải gieo vào lòng họ một tín ngưỡng chơn chánh, tin tưởng có Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu là 2 Ðấng Cha Mẹ chung thiêng liêng của toàn chúng sanh, tin tưởng mỗi người đều có một Linh hồn bất diệt do Ðức Chí Tôn ban cho, tin tưởng có Luân hồi quả báo để lo làm lành lánh dữ, tu thân, lập đức bồi công, giải quả tiền khiên, tiêu trừ nghiệp chướng, để sau khi chết, Linh hồn nhẹ nhàng siêu thăng lên cõi Thiêng liêng Hằng sống. Ngoài ra còn phải lo làm Ðám tang cho người chết, giúp đỡ tang gia trong công việc tẫn liệm, tế lễ và an táng, lo cầu siêu, tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu thăng.

Câu 3: Tam nguyện xá tội đệ tử.

Tam nguyện: Ðiều cầu nguyện thứ 3, tức là điều thứ 3 mà con mong muốn cầu xin là: .... Xá tội: Tha tội, không trách phạt nữa. Ðệ tử: Học trò. Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy Ðạo, xưng mình là Thầy, gọi các tín đồ là môn đệ, và các tín đồ xưng mình là Ðệ tử.

C.3: Ðiều nguyện thứ 3, con cầu xin Ðức Chí Tôn tha tội cho con.

Làm người nơi cõi trần, mang nặng xác thịt với Thất tình Lục dục, nên không thể tránh được những lầm lỗi trong kiếp sống. Ðiều quan trọng là phải biết suy nghĩ, và luôn luôn tự xét mình, nhận thấy có lỗi thì ăn năn hối cải, quyết không tái phạm nữa. Lúc đó, Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng sẵn sàng tha thứ các tội đã qua của mình.

Câu 4: Tứ nguyện thiên hạ thái bình.

Tứ nguyện: Ðiều cầu nguyện thứ 4, tức là điều thứ 4 mà con mong muốn cầu xin là... ..... Thiên hạ: Dưới Trời, chỉ nhơn loại. Thiên thượng là Ông Trời ở bên trên, Thiên hạ là nhơn loại ở bên duới. Con người đứng giữa Trời và Ðất, thuộc hàng Tam Tài, được gọi là Tiểu Thiên Ðịa, cho nên nếu con người biết lo tu hành thì sẽ tấn hóa lên hàng Tiên Phật.

Thái bình: Thái là rất, bình là yên ổn. Thái bình là rất yên ổn, không có loạn lạc hay giặc giã xảy ra.

C.4: Ðiều nguyện thứ 4, con cầu xin cho tất cả mọi người trên cõi trần được sống yên ổn hòa bình.

Câu 5: Ngũ nguyện Thánh Thất an ninh.

Ngũ nguyện: Ðiều cầu nguyện thứ 5. An ninh: Yên ổn và trật tự, các sinh hoạt đều hòa hợp tốt đẹp.

Thánh Thất: Nghĩa thông thường, Thánh Thất là cái nhà thờ Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thần Thánh Tiên Phật.

Nếu chúng ta hiểu nghĩa chữ "Thánh Thất" vỏn vẹn như trên thì điều cầu nguyện thứ 5 của chúng ta có phần hẹp hòi ích kỷ. Vả lại khi cúng Ðức Phật Mẫu nơi Ðiện Thờ Phật Mẫu, chúng ta vẫn đọc câu Ngũ nguyện nầy là: "Ngũ nguyện Thánh Thất an ninh.", chớ Hội Thánh đâu có sửa lại là: "Ngũ nguyện Ðiện Thờ an ninh."!

Ðiều đó chứng tỏ rằng, chúng ta cần phải hiểu nghĩa chữ "Thánh Thất" một cách rộng rãi bao quát hơn nữa.

Bởi vì Thánh Thất gồm 3 Ðài: Bát Quái Ðài, Cửu Trùng Ðài, Hiệp Thiên Ðài, trong đó bao gồm toàn cả Càn Khôn Vũ Trụ và Vạn linh. Do đó, chúng ta phải hiểu Thánh Thất là toàn cả, từ cái thật nhỏ cho đến cái thật lớn, cái nhỏ là bản thân con người, cái lớn là toàn thể vũ trụ, bao gồm Thượng Ðế và Vạn linh.

Bản thân của mỗi người chúng ta cần phải an ninh. Chúng ta đang tiến bước trên đường tu, chúng ta hằng hoài vọng an ninh hơn ai hết. Nếu chúng ta sa vào tửu nhục thì lục phủ ngũ tạng đều mất an ninh, nếu mê đắm vào sắc dục thì thân thể mất an ninh.

Càn Khôn Vũ Trụ cần phải được an ninh để vận chuyển điều hòa trật tự.

Ðức Chí Tôn nắm quyền pháp để vận chuyển các quả Ðịa cầu, Nhựt, Nguyệt, Tinh, quay vòng tròn, lên xuống qua lại nhịp nhàng ăn khớp nhau, không bao giờ va chạm. Nếu Vũ Trụ mất an ninh thì sẽ có một cuộc sụp đổ vĩ đại, một cuộc đại tận thế sẽ xảy đến cho CKVT.

Vạn linh cũng cần được an ninh để tiến hóa điều hòa tốt đẹp trên con đường đi đến tận thiện tận mỹ, trở về hiệp nhập vào Khối Ðại Linh quang của Chí Tôn Thượng Ðế.

Hội Thánh cũng cần được an ninh, điều hòa trật tự thì mới có thể phát triển nền Ðạo, thực hiện nhiệm vụ cao quí tận độ chúng sanh, chuyển đời Hạ Nguơn điêu tàn sang đời Thượng Nguơn Thánh đức.

Như vậy, an ninh là nhu cầu thiết yếu cho mọi người, mọi giới, mọi lãnh vực.

C.5: Ðiều nguyện thứ 5, con cầu xin cho tất cả, từ CKVT đến con người, cầu xin cho Hội Thánh, đều được an ninh, điều hòa trật tự, tiến hóa tốt đẹp.

Chúng ta cũng cần tìm hiểu, Tại sao Ðức Chí Tôn ban cho chúng ta 5 Câu Nguyện, mà không phải là 4 Câu hay 6 Câu Nguyện?

Bởi vì với 5 Câu Nguyện nầy, Ðức Chí Tôn có ý dạy chúng ta thực hành trọn vẹn Tam Lập: Lập Ðức, Lập Công, Lập Ngôn.

Trong Lập Công có: Công phu, Công quả, Công trình.

Nhứt nguyện Ðại Ðạo hoằng khai: Muốn hoằng khai nền Ðại Ðạo thì phải thuyết giảng giáo lý, viết kinh sách, báo chí, truyền bá cho mọi người biết nền Ðại Ðạo của Ðức Chí Tôn để nhơn sanh giác ngộ tu hành. Ðó là Lập Ngôn.

Nhì nguyện Phổ Ðộ chúng sanh: Ðó là Công quả.

Tam nguyện Xá tội đệ tử: Muốn được Ðức Chí Tôn xá tội thì chúng ta phải lập hạnh giữ gìn giới luật tu hành một cách nghiêm chỉnh để chúng ta không gây thêm ra tội lỗi mới. Ðó là Công trình.

Tứ nguyện Thiên hạ thái bình: Chúng ta phải cầu nguyện Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng Thiêng liêng ban ơn huệ cho thế giới được hòa bình, nhơn sanh an lạc. Ðó là Công phu.

Ngũ nguyện Thánh Thất an ninh: Muốn được an ninh, chúng ta phải hành động thế nào cho hợp lòng người, thuận Ðạo Trời, để nương theo đó mà đồng tiến hóa cùng Vạn linh trong CKVT. Ðó là Lập Ðức.

Mỗi ngày, chúng ta cúng Ðức Chí Tôn, chúng ta đều đọc 5 lời nguyện, là để chúng ta luôn luôn ghi nhớ mà thực hành hằng ngày, để linh hồn chúng ta càng lúc càng tiến hóa, chớ không phải đọc suông, xong thời cúng thì quên hết, như thế chẳng hữu ích gì cho một thời cúng của chúng ta.

 

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,... xin xem "Những chữ viết tắt"

 


 

PHẬT MẪU CHƠN KINH


 

PHẬT MẪU CHƠN KINH
佛 母 眞 經

 

I. Nguồn gốc bài Phật Mẫu Chơn Kinh.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo, thích nghĩa và nói rõ nguồn gốc bài Phật Mẫu Chơn Kinh tại Cửu Long Ðài trước Báo Ân Từ lúc 4 giờ chiều ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947), có in trong quyển Thuyết Ðạo của Ðức Hộ Pháp, Quyển 1 trang 64, xin trích ra sau đây:

"Ngày nay là ngày Ðại lễ Ðức Diêu Trì Kim Mẫu, Bần đạo tưởng cả thảy toàn Ðạo nên biết quyền hành của Phật Mẫu như thế nào? Và tại sao chúng ta thờ Người?

Muốn biết quyền hành ấy, Bần đạo phải thuyết minh và giải nghĩa bài Kinh Ðức Phật Mẫu mà chúng ta thường tụng niệm hằng ngày đó.

Trước khi giải nghĩa, Bần đạo cũng nên nói rõ ai đến cho bài Kinh ấy? Cho hồi nào? Và tại nơi đâu?

Kinh Ðức Phật Mẫu cho tại Kim Biên Tông Ðạo (Cao Miên quốc), nơi Báo Ân Ðường của hai vợ chồng Thừa Sử Huỳnh hữu Lợi.

Lúc trước chưa có Kinh Phật Mẫu, chúng ta chỉ biết Phật Mẫu đến Hiệp Thiên Ðài khai Ðạo Cao Ðài, nhờ thi phú văn tự của Cửu Vị Tiên Nương cho biết nguyên do đến Khai Ðạo, chớ chúng ta chưa biết quyền hành của Người.

Nơi Kim Biên, cả Chức sắc Hội Thánh Ngoại Giáo đều cầu kinh, khiến khi đó Bần đạo đến nhằm lúc cúng Vía Phật Mẫu. (tức là ngày 15 tháng 8 năm......?)

Bát Nương đến cầm cơ viết, chính mình Bần đạo phò loan nơi Ðại Ðiện. Có nhiều người làm chứng, có chư Ðạo hữu và một người không biết Ðạo là gì là Ông Hiếu (kêu Bần đạo bằng Chú) ngồi trước sân chơi, thấy tứ phía đều có hào quang giáng hạ, xẹt xuống rất ngay Báo Ân Ðường. Tới chừng cho trọn bài Kinh rồi, cả thảy đều nói lại, không biết cái gì xẹt khi nãy như sao xẹt qua xẹt lại vậy, không dè trong nhà đương phò loan. Có cháu của Bần đạo và nhiều Ðạo hữu ở ngoài đều làm chứng quả quyết như vậy."

 

II. Ðiện Thờ Phật Mẫu thờ Ngôi Âm.

Từ trước đến nay, các nền tôn giáo mở ra trên thế giới đều chỉ biết thờ Ngôi Dương: Như Phật giáo thờ Ðức Phật Thích Ca, Tiên giáo thờ Ðức Thái Thượng Lão Quân, Nho giáo thờ Ðức Khổng Tử, Thiên Chúa giáo và Ðạo Tin Lành thờ Ðức Chúa Jésus Christ.

Không có một tôn giáo nào biết thờ Ngôi Âm. Chỉ có Thiên Chúa giáo có thờ Ðức Mẹ Maria, Mẹ của Ðức Chúa Jésus, nhưng chưa phải là thờ Ngôi Âm.

Chúng ta đã biết, trong CKVT nầy, không phải chỉ có Ngôi Dương, mà luôn luôn phải có Ngôi Âm đi kèm theo, thì mới có đủ 2 yếu tố Âm Dương để tạo thành cơ sanh hóa. Một Dương không thể sanh, một Âm cũng không sanh, phải có đủ cả Âm Dương mới sanh hóa được.

Theo Thánh giáo của Ðức Chí Tôn, khởi thủy của CKVT là Hư Vô chi Khí (tức là ÐẠO). Khí Hư Vô mới sanh ra một Ðấng duy nhứt là Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, và ngôi của Ngài là Thái Cực (tức là khối Ðại Linh Quang). Ðức Chí Tôn mới phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Dương quang và Âm quang. Ðức Chí Tôn chưởng quản Dương quang. Ðức Chí Tôn hóa thân ra làm một Ðấng khác gọi là Phật Mẫu để chưởng quản khí Âm quang.

Như vậy, nguồn gốc của Phật Mẫu là Ðức Chí Tôn, và Ðức Phật Mẫu chỉ là một hóa thân của Ðức Chí Tôn.

Sau đó, Ðức Phật Mẫu thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang phối hợp với Âm quang để tạo thành CKVT và vạn vật. Do đó, Ðức Phật Mẫu mới thực sự là Ðấng Tạo Hóa. Nhiệm vụ nầy có được là do Ðức Chí Tôn ban cho.

"Theo Bí pháp chơn truyền của Cơ Sanh hóa, phải có đủ Âm Dương. Trong Sanh quang, chúng ta có điện quang Positif (dương) và Négatif (âm), cũng như vạn vật có trống mái. Nền tôn giáo nào có đủ Âm Dương thì mới vĩnh cửu.

Như Ðức Chúa Jésus ngày trước bị đóng đinh trên cây Thánh giá, đầu thuận lên trên gọi là đạt Dương. Ông Thánh Pierre là đệ nhứt tông đồ bị đóng đinh trở ngược xuống, gọi là phản Âm. Âm Dương tương hiệp đúng theo Bí pháp, nên Ðạo Thánh lưu truyền 2000 năm, không ai dùng quyền gì tiêu diệt đặng.

Thời kỳ nầy, Ðức Phật Mẫu đã xuất nguyên linh của Người đến đây dạy dỗ chúng ta thì tưởng điều ấy trọng yếu hơn hết.

Khi mở Ðạo Cao Ðài, Chí Tôn định cho Phật Mẫu đến giáo đạo cho chúng ta, bảo trọng nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta, thì không có ân đức nào bằng, vì không ai biết thương con hơn MẸ.

Phật Mẫu đến cầm quyền lập Ðạo xong, rồi giao lại cho Ðức Chí Tôn.

Phật Mẫu là Chủ Âm quang, Chí Tôn là Chủ Dương quang. Âm Dương tương hiệp, Ðạo Cao Ðài nuơng theo năng lực của hai khối Âm Dương đó. Ðối với năng lực tạo đoan Càn Khôn Thế Giới thế nào thì Ðạo Cao Ðài ngày kia sẽ có năng lực như thế đó." (Trích Thuyết đạo của Ðức Phạm Hộ Pháp, Quyển 1 trang 70).

Việc Ðạo Cao Ðài thờ Hai Ngôi: Ngôi Dương là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế và Ngôi Âm là Ðức Diêu Trì Kim Mẫu, với đầy đủ kinh kệ và nghi tiết, là một hình thức vô cùng mới mẻ về phương diện Giáo lý và Triết lý mà các nền tôn giáo trước đây chưa từng có.

Do đó, Ðạo Cao Ðài xứng đáng là một nền Tân Tôn giáo và là một nền Ðại Ðạo.

  • Tòa Thánh và các Thánh Thất dùng để thờ Ngôi Dương là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

  • Ðiện Thờ Phật Mẫu dùng để thờ Ngôi Âm là Ðức Phật Mẫu hay Ðức Diêu Trì Kim Mẫu.

Hai ngày lễ vía Hai Ðấng ấy hằng năm là 2 ngày Ðại Lễ chánh thức lớn nhứt của Ðạo Cao Ðài. Ðó là:

  • Ngày 9 tháng Giêng âl: Vía Ðức Chí Tôn.

  • Ngày 15 tháng 8 âl: Vía Ðức Phật Mẫu.

Quyền hành và nhiệm vụ của Ðức Phật Mẫu được Bát Nương cho biết rõ trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh.

 

III. Giải nghĩa Phật Mẫu Chơn Kinh:

Ðức Phạm Hộ Pháp có giải nghĩa bài PMCK một cách tổng quát khi Ngài thuyết đạo tại Cửu Long Ðài trước Báo Ân Từ nhân ngày Ðại Lễ Vía Ðức Phật Mẫu vào lúc 4 giờ chiều ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947). Bài thích nghĩa nầy có in trong quyển Thuyết Ðạo Ðức Hộ Pháp, quyển 1 trang 64.

(Soạn giả căn cứ vào bài giải nghĩa nầy của Ðức Phạm Hộ Pháp để giải rộng thêm chi tiết từng chữ và từng câu kinh cho dễ hiểu. Ngoài ra, soạn giả có viết thêm phần chữ Hán để xác định từ ngữ. Ðây là bản phiên dịch Hán văn đầu tiên, chắc không tránh khỏi sai sót, kính mong quí vị góp ý sửa chữa).

Sau đây là phần Giải Nghĩa chi tiết.

 

PHẬT MẪU CHƠN KINH

(Giọng Nam xuân)

 

1.

Tạo Hóa Thiên huyền vi Thiên Hậu,

2.

Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.

3.

Sanh quang dưỡng dục quần nhi,

4.

Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình.

 

造 化 天 玄 微 天 后
掌 金 盤 佛 母 瑤 池
生 光 養 育 群 兒
眞 靈 配 一 身 為 聖 形

 

GIẢI NGHĨA

* PHẬT MẪU: Ðức Phật Mẫu là Bà Mẹ thiêng liêng chung cho cả Vạn linh trong CKVT, tức là Bà Mẹ thiêng liêng chung cho cả chúng sanh nơi cõi trần.

Theo Luật Tam Thể Xác Thân, chúng ta biết rằng, mỗi con người nơi cõi phàm trần đều có 3 thể:

  • Ðệ nhứt xác thân là xác thân phàm, do tinh huyết của cha mẹ phàm trần tạo nên và được nuôi dưỡng bằng vật chất phàm trần.

  • Ðệ nhị xác thân là Chơn thần, tức là xác thân thiêng liêng do Ðức Phật Mẫu dùng 2 nguyên khí Âm quang và Dương quang chứa trong Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung tạo thành, cho nên mới gọi Ðức Phật Mẫu là Ðại Từ Mẫu.

  • Thể thứ ba là Chơn linh, hay Linh hồn, là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho, nên mới gọi Ðức Chí Tôn là Ðại Từ Phụ.

Ðức Phật Mẫu được nhơn loại gọi bằng nhiều danh từ khác nhau, tùy theo tôn giáo và địa phương.

Ở Trung Hoa và Việt Nam, Ðức Phật Mẫu được gọi bằng các danh từ, kể ra sau đây:

  • Diêu Trì Kim Mẫu - Thiên Hậu

  • Kim Bàn Phật Mẫu - Mẫu Hậu

  • Phật Mẫu Diêu Trì - Ðịa Mẫu

  • Cửu Thiên Huyền Nữ - Ðức Mẹ Thiêng liêng

  • Cửu Thiên Nương Nương - Mẫu Nghi

  • Tây Vương Mẫu - Mẹ Sanh.

Hiện nay, tại Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh chưa xây dựng Ðiện Thờ Phật Mẫu chánh thức ở Trung Ương, còn thờ tạm Ðức Phật Mẫu nơi Báo Ân Từ.

Trong Báo Ân Từ, Ðức Phạm Hộ Pháp dạy đắp tượng Ðức Phật Mẫu lấy theo sự tích Hớn Võ Ðế cung nghinh Ðức Phật Mẫu như sau:

1. Trên hết là chơn dung của Phật Mẫu cỡi Thanh loan. (Thanh loan là con chim loan màu xanh đặc biệt của Ðức Phật Mẫu)

2. Kế đó đắp 9 pho tượng của Cửu vị Tiên Nương.

3. Ðắp thêm 4 pho tượng của 4 Tiên đồng Nữ nhạc cầm quạt và phướn theo hầu Ðức Phật Mẫu. Tên của 4 vị nầy là: Ðổng Song Thành, Hứa Phi Yến, An Phát Trinh, Vương Tử Phá.

4. Pho tượng Ông Tiên Ðông Phương Sóc, đứng bên hữu và phía dưới Ðức Phật Mẫu, 2 tay bưng một cái dĩa nâng lên khỏi đầu để rước 4 quả Ðào Tiên do Ðức Phật Mẫu ban tặng cho Hớn Võ Ðế.

5. Pho tượng Ðức Cao Thượng Phẩm quì trước sân Hoa Ðiện để cung nghinh Ðức Phật Mẫu.

Trong khuôn tượng, đắp lên một cảnh chùa cổ, kiểu xưa, đẹp, gọi là Hoa Ðiện.

Ðáng lẽ phải tạo hình Hớn Võ Ðế, nhưng vì đời Hớn (Hán) đến nay quá xa thẳm, lại nữa nguyên căn của Hớn Võ Ðế là Chơn linh Hớn Chung Ly trong Bát Tiên giáng sanh. Nay là thời TKPÐ, Bát Tiên lãnh lịnh giáng trần làm Tướng soái cho Ðức Chí Tôn khai Ðạo, Ðức Cao Thượng Phẩm chính là Chơn linh Hớn Chung Ly giáng phàm kỳ nầy, nên tạo hình Ðức Cao Thượng Phẩm thay vào chỗ Hớn Võ Ðế thì thuận hơn. (Xem sự tích: Hớn rước Diêu Trì, nơi Câu 6, Kinh Khi Về).

* CHƠN KINH: Chơn là thật, Kinh là bài Kinh do các Ðấng Tiên Phật giáng cơ viết ra ban cho để tụng đọc. Chơn Kinh là bài Kinh chơn thật, đúng chơn lý.

* PHẬT MẪU CHƠN KINH là bài Kinh chơn thật, đúng chơn lý, nói về quyền pháp của Ðức Phật Mẫu nơi cõi Thiêng liêng.

Câu 1: Tạo Hoá Thiên huyền vi Thiên Hậu.

Tạo Hoá Thiên: Tạo hóa là làm ra và làm thay đổi được; Thiên là từng Trời. Tạo Hoá Thiên là từng Trời có nhiệm vụ tạo hóa CKVT và vạn vật. Ðó là từng Trời thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên, do Ðức Phật Mẫu chưởng quản, có Cửu vị Tiên Nương và các vị Tiên Phật khác phụ giúp. Huyền vi: Mầu nhiệm huyền diệu. Huyền là sâu kín, Vi là rất nhỏ. Thiên Hậu: Một danh hiệu của Phật Mẫu.

C.1: Nơi từng Trời Tạo Hóa Thiên có Ðức Phật Mẫu huyền vi mầu nhiệm.

Câu 2: Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.

Chưởng: Nắm giữ, cai quản. Kim Bàn: Kim là vàng; Bàn, còn đọc là Bồn, là cái chậu.

Kim Bàn hay Kim Bồn là cái chậu bằng vàng nơi Diêu Trì Cung mà Ðức Phật Mẫu dùng để chứa các nguyên chất (nguơn chất) tạo nên Chơn thần cho Vạn linh. Kinh Ðệ Cửu cửu có câu:

Nơi Kim Bồn vàn vàn nguơn chất,
Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

Diêu Trì: Diêu, còn đọc là Dao, là loại ngọc quí do chất hơi kết tụ mà thành; Trì là cái ao. Diêu trì hay Dao trì là cái ao làm bằng ngọc Diêu. Trong Cung của Ðức Phật Mẫu nơi từng Trời Tạo Hóa Thiên, có một cái ao làm bằng ngọc Diêu, nên Cung đó được gọi là Diêu Trì Cung. Ðức Phật Mẫu chưởng quản Cung đó, nên gọi là Phật Mẫu Diêu Trì.

C.2: Ðức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi DTC.

Ðức Hộ Pháp giải nghĩa 2 câu kinh 1 & 2 như sau:

"Từng Trời thứ 9 gọi là Cung Tạo Hóa Thiên, có vị cầm quyền năng tạo đoan gọi là Thiên Hậu, nắm cả Kim Bàn, tức là nắm đẳng cấp Thiêng liêng điều khiển Chơn linh, gọi là Phật Mẫu Diêu Trì"

Câu 3: Sanh quang dưỡng dục quần nhi.

Sanh quang: Sanh là sống; Quang là ánh sáng, ở đây có nghĩa là chất có chứa nhiều năng lượng giống như ánh sáng, và năng lượng đó gọi là Quang năng. Sanh quang là năng lượng giống như ánh sáng để nuôi dưỡng sự sống.

Ðối với con người và các loài sanh vật nơi cõi trần, Sanh quang là khí Oxy (Oxygène hay Dưỡng khí) và ánh sáng mặt trời. Nếu không có 2 chất nầy, vạn vật sẽ chết hết.

Nơi cõi Thiêng liêng, Sanh quang là khí Thái Cực, phát ra từ ngôi Thái Cực, để nuôi sống Chơn thần của Vạn linh. Ðức Phật Mẫu trụ khí Sanh quang nầy lại, biến thành những quả Ðào Tiên, có đủ sự sống vĩnh cửu, để ban thưởng cho những Chơn thần đắc đạo trở về.

Dưỡng dục: Dưỡng là nuôi nấng, dục là nuôi lớn. Dưỡng dục là nuôi nấng cho khôn lớn. Quần: Nhiều người tụ họp đông đảo. Nhi: Con trẻ. Quần nhi là chỉ toàn thể con cái của Ðức Phật Mẫu.

C.3: Ðức Phật Mẫu lấy khí Sanh quang từ ngôi Thái Cực để nuôi dưỡng toàn thể con cái của Ngài.

Ðức Phạm Hộ Pháp giải nghĩa Câu kinh số 3: "Lấy khí Sanh quang (Fluide de Vitalité) nuôi nấng con cái của Người."

Câu 4: Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình.

Chơn linh: Linh hồn, là điểm Linh quang do Ðức Chí Tôn chiết ra từ khối Ðại Linh quang của Ngài ban cho mỗi người để tạo ra mạng sống, giữ gìn mạng sống đó và làm chủ điều khiển xác thân. Phối nhứt: Phối là sắp xếp cho thỏa đáng, nhứt là một. Phối nhứt là phối hợp làm một.

Thân: Xác thân. Vi: Làm. Thánh: Thiêng liêng. Hình: Hình thể. Thánh hình: Hình thể Thiêng liêng, đó là Chơn thần.

C.4: Chơn linh phối hiệp làm một với Chơn thần để tạo thành một người nơi cõi Thiêng liêng.

Ðức Phật Mẫu thâu điểm Linh quang từ ngôi Thái Cực để làm Chơn linh, rồi dùng 2 Khí Dương quang và Âm quang trong Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung để tạo thành xác thân thiêng liêng (Chơn thần), bao bọc Chơn linh, phối hiệp Chơn linh và Chơn thần làm một, để tạo thành một con người nơi cõi Thiêng liêng. Ðó là một Nguyên nhân nơi cõi thiêng liêng.

Khi Nguyên nhân đầu kiếp xuống cõi phàm trần thì Chơn linh và Chơn thần sẽ nhập vào một hài nhi vừa mới lọt lòng bà mẹ phàm trần. Chơn linh tạo nên sự sống và gìn giữ sự sống cho hài nhi, Chơn thần làm khuôn viên hình ảnh cho thể xác phàm của hài nhi. Lúc đó, Chơn linh, Chơn thần và thể xác phàm của hài nhi phối hiệp làm một để tạo thành một con người mới nơi cõi phàm trần.

 

5.

Thiên cung xuất vạn linh tùng pháp,

6.

Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh.

7.

Càn Khôn sản xuất hữu hình,

8.

Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh.

 

天 宮 出 萬 靈 從 法
協 陰 陽 有 合 變 生
乾 坤 產 出 有 形
八 魂 運 轉 化 成 眾 生

 

GIẢI NGHĨA

Câu 5: Thiên cung xuất vạn linh tùng pháp.

Thiên cung: Cung điện của Ông Trời, cung điện của Ðức Chí Tôn. Xuất: Ði ra. Vạn linh: Vạn là muôn, chỉ một số thật lớn; Linh là Chơn linh, linh hồn. Vạn linh là tất cả các Chơn linh trong CKVT, gồm đủ 8 đẳng cấp Linh hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn. Tùng: Theo. Pháp: Quyền pháp của Ðức Chí Tôn.

Ðức Chí Tôn giảng giải chữ Pháp nầy như sau:

TNHT. I. 52: "Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế giới nên mới gọi là PHÁP, PHÁP có mới sanh ra Càn Khôn Vạn vật, rồi mới có người nên gọi là TĂNG. Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy,"

Ðức Chí Tôn dùng Pháp tạo ra CKVT và Vạn linh, cho nên Vạn linh phải tùng theo Pháp của Ðức Chí Tôn.

C.5: Ðức Chí Tôn ở Thiên cung sản xuất ra Vạn linh, nên Vạn linh phải tùng theo Pháp của Ðức Chí Tôn.

Câu 6: Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh.

Hiệp: Hòa hợp. Âm Dương: Hai khí Âm quang và Dương quang do Thái Cực biến hóa phân ra. Hiệp âm dương: Ðức Phật Mẫu đem hai chất khí Âm Dương nầy hòa họp để tạo ra CKVT và vạn vật. Hữu: Có. Hạp: Hợp: hợp lại, kết hợp lại với nhau. Hữu hạp: Có sự kết hợp lại với nhau. Biến sanh: Biến hóa sanh ra.

C.6: Hòa hợp hai khí Âm quang và Dương quang lại với nhau để biến hóa sanh ra (CKVT và vạn vật).

Câu 7: Càn Khôn sản xuất hữu hình.

Càn Khôn: Hai quẻ trong Bát Quái, Càn chỉ Trời, Khôn chỉ Ðất. Càn Khôn là Trời Ðất, thường nói Càn Khôn Vũ Trụ (CKVT). Sản xuất: Chế tạo làm ra. Hữu hình: Có hình thể hiện ra mà mắt phàm thấy được. Trái với Hữu hình là Vô hình, mắt phàm không thấy được.

C. 7: (Nối tiếp ý nghĩa của Câu 6) Sản xuất ra Càn Khôn Vũ trụ và vạn vật có hình thể.

Hai chất khí Dương quang và Âm quang không có hình thể sắc tướng. Ðức Phật Mẫu cho hai chất khí nầy phối hợp với nhau để biến hóa sanh ra CKVT và vạn vật có hình thể mà mắt phàm trông thấy được. Như thế, Ðức Phật Mẫu đã dùng cái KHÔNG vô hình vô ảnh biến hoá thành cái SẮC có hình tướng, thấy được bằng mắt phàm.

Câu 8: Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh.

Bát hồn: Tám phẩm chơn hồn, tám đẳng cấp tiến hóa của Linh hồn. Bát hồn gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn. Vận chuyển: Ðem đi từ chỗ nầy đến chỗ khác. Chúng sanh: Tất cả các loài có sự sống nơi cõi trần. Chúng sanh gồm: Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại.

C.8: Ðức Phật Mẫu vận chuyển 8 phẩm Chơn hồn đem đầu kiếp xuống cõi trần để tạo thành chúng sanh.

Do nơi đây, điều quan trọng mà chúng ta cần nhớ là: Trong chúng sanh, có Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn đầu kiếp trong đó. Ðức Chí Tôn buộc người tu phải ăn chay trường là vì lẽ đó.

Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ giảng về Bát Hồn:

"Ðêm nay, Bần đạo khởi giảng về Bát Hồn là gì?

Trong CKVT có 8 đẳng Chơn hồn là: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Từ lúc Hỗn Ðộn sơ khai, Âm Dương biến hóa, trong Khí Hư Vô đã có sẵn các tế bào. Sau tiếng nổ, Âm Dương phân tách: Khí Dương quang nhẹ nhàng bay lên trên, khí Âm quang là khí chất chứa các tế bào nên lóng xuống dưới.

Sau một Chuyển, các chất khí trên liên đới tế bào mà tụ lại biến thành vạn vật.

Khi chưa thành hình thể hữu vi, thì chất khí vẫn là một cục lửa do khí Dương quang đốt cháy, sau đó Diêu Trì Cung thâu Thập nhị Ðịa Chi mà biến khí Dương quang và chất khí làm Ngũ Hành. Vậy cho nên, Ðất, Nước, Sắt, Ðá và Lửa được nẩy sanh trước hết. Ðó là Kim thạch hồn.

Sau một Chuyển nữa, Nước, Ðất, Ðá, Lửa, và Sắt mới tiêu ra một chất khí và liên đới với các tế bào mà tạo nên Cây cỏ. Ðó là Thảo mộc hồn.

Sau một Chuyển nữa, Cây cỏ chia tế bào mà liên đới với Ngũ Hành tạo nên Bách thú, trong đó có phần ở khô gọi là Ðiểu thú, còn phần ở nước gọi là Ngư thú. Ðó là Thú cầm hồn. Cầm thú đều là Bách thú.

Sau một Chuyển nữa, Ngũ Hành hiệp với Thảo mộc mà nuôi thú cầm. Trong Thú cầm, chơn hồn đã bước vào cơ tấn hóa, do đó tạo nên Thỉ Tổ loài người là La Hầu, tức là người Khỉ đó.

La Hầu lần lần sanh hóa, và nhờ điểm Linh quang của Chí Tôn mà lần đến loài người như hiện giờ, đó là Nhơn hồn.

Trong Nhơn hồn, từ buổi Tam Chuyển được tấn hóa thêm 4 phẩm nữa là: Thần, Thánh, Tiên, Phật hồn.

Nhơn hồn nào đã được trọn trung, ấy đã vào Thần vị.

Biết được nghĩa chánh, bồi bổ đạo Nhơn luân, tức là vào Thánh vị. Ðến Thánh hồn thì lẽ tự nhiên phải thông suốt phần Thế đạo đó vậy.

Trong phần Thế đạo, mà tạo được Bí pháp đặng bước qua mặt Thể pháp Thiên Ðạo, tức là Tiên vị.

Ðã lập được Thể pháp Thiên đạo mà tầm nên Bí pháp Thiên đạo, tức là đắc Pháp, ấy là Phật vị." (Trích Luật Tam Thể của Ðức Cao Thượng Phẩm).

 

9.

Cộng vật loại huyền linh đồ nghiệp,

10.

Lập Tam Tài định kiếp hòa căn.

11.

Chuyển luân định phẩm cao thăng,

12.

Hư Vô Bát Quái trị Thần qui nguyên.

 

共 物 類 玄 靈 圖 業
立 三 才 定 劫 和 根
轉 輪 定 品 高 升
虛 無 八 卦 治 神 歸 元

 

GIẢI NGHĨA

Câu 9: Cộng vật loại huyền linh đồ nghiệp.

Cộng: Hợp chung lại. Vật loại: Các loài vật, ý nói chúng sanh. Huyền: Sâu kín. Linh: Linh hồn, Chơn linh. Huyền linh: Linh hồn huyền diệu. Ðồ: Mưu tính lo liệu. Nghiệp: Sự nghiệp. Ðồ nghiệp: Mưu tính tạo lập sự nghiệp.

C.9: Hiệp tất cả các chơn linh của chúng sanh để mưu tính làm sự nghiệp cho mình.

Câu 10: Lập Tam Tài định kiếp hòa căn.

Tam Tài: Ba Tài là: Thiên, Ðịa, Nhơn, tức là Trời, Ðất, Người. Lập Tam Tài: Lập ra Trời, Ðất và Người, tức là lập thành CKVT và nhơn loại.

Ðịnh: Sắp đặt, định ra. Kiếp: Một đời sống, từ lúc sanh ra cho đến lúc chết. Hòa: Cùng, với, pha trộn vào nhau. Căn: Gốc rễ. Những việc làm thiện ác trong kiếp sống trước là cái gốc rễ tạo thành cái Nghiệp, ảnh hưởng lên kiếp sống hiện tại, làm cho kiếp sống hiện tại giàu sang hay nghèo hèn, hạnh phúc hay đau khổ. Do đó, thường nói là Căn quả, tức là cái kết quả do cái gốc rễ lúc trước tạo nên.

Kiếp hòa căn: Cái kiếp sống hiện tại và cái căn quả của nó.

C.10: Lập ra Tam Tài (Thiên, Ðịa, Nhơn), và sắp đặt cái kiếp sống và cái căn quả của mỗi người.

Câu 11: Chuyển luân định phẩm cao thăng.

Chuyển luân: Chuyển là xoay vần, Luân là cái bánh xe. Chuyển luân hay Luân chuyển là sự xoay vần như cái bánh xe, tức là chỉ sự Luân hồi Chuyển kiếp. Các Chơn linh từ cõi thiêng liêng đầu kiếp xuống cõi trần, sống và tạo Nghiệp, rồi chết, linh hồn trở về cõi thiêng liêng để được định phân ngôi vị. Nếu cái Nghiệp còn, chưa giải quyết xong, thì theo Luật Công Bình thiêng liêng, linh hồn đó phải tái kiếp xuống cõi trần để trả cho xong cái Nghiệp cũ ấy, nhưng linh hồn cũng đồng thời tạo ra Nghiệp mới. Linh hồn thoát xác trở về, rồi phải trở xuống để trả cái Nghiệp vừa qua, cứ thế, lên lên xuống xuống, hết kiếp nọ đến kiếp kia, như một cái bánh xe xoay vòng, nên gọi là sự Luân hồi chuyển kiếp.

Chừng nào Nghiệp cũ đã trả hết mà không gây ra Nghiệp mới, lại lập được nhiều công quả, thì Linh hồn mới được trở về ở hẳn nơi cõi Thiêng liêng Hằng sống, đạt được phẩm vị cao trọng mà an hưởng hạnh phúc.

Nhờ sự chuyển luân trả vay nghiệp quả, Linh hồn học hỏi và chứng nghiệm được nhiều điều quí báu làm cho Linh hồn mỗi kiếp mỗi tiến hóa, và cuối cùng thì đạt được phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.

Ðịnh: Sắp đặt. Phẩm: Ngôi thứ cao thấp. Thăng: Bay lên, tiến lên. Cao thăng: Lên ngôi vị cao hơn.

C.11: Nhờ luân hồi chuyển kiếp, các Chơn linh tiến hóa được định cho thăng lên phẩm vị cao trọng hơn.

Câu 12: Hư Vô Bát quái trị Thần qui nguyên.

Hư Vô: Hư là trống không, Vô là không. Hư vô là trống không, thấy không có gì cả, nhưng rất mầu nhiệm, vì từ cái KHÔNG ấy mà sinh ra trướcc cái CÓ, tức là sanh ra tất cả các pháp. Bát quái: 8 quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài. Theo Vũ Trụ Quan của Ðạo Cao Ðài, khởi thủy của CKVT là Khí Hư Vô. Khí Hư Vô hóa sanh Thái Cực, là ngôi của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế. Ðức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi Âm Dương. Lưỡng Nghi biến ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái mà tác thành CKVT và vạn vật. Hư vô Bát Quái là Bát quái trong cõi Hư vô, là gốc của vạn vật. Trị: Sắp đặt. Thần: Chơn linh. Qui: Trở về. Nguyên: Cái gốc. Qui nguyên: Trở về cái gốc đã sanh ra nó.

C. 12: Ðức Phật Mẫu sắp đặt đem các Chơn linh trở về cái gốc là Hư Vô Bát Quái, tức là trở về cùng Ðức Chí Tôn.

Chúng ta lưu ý rằng, Ðức Phật Mẫu không định phẩm vị cho các con cái của Ngài, mà chỉ đem con cái trở về, rồi giao lại cho Ðức Chí Tôn định phẩm vị. Cho nên, khi cúng Ðức Phật Mẫu, chúng ta chỉ mặc đạo phục toàn trắng thường, chớ không mặc đạo phục Chức sắc hay Chức việc.

 

13.

Diệt tục kiếp trần duyên oan trái,

14.

Chưởng Ðào Tiên thủ giải trường tồn.

15.

Nghiệp hồng vận tử hồi môn,

16.

Chí Công định vị vĩnh tồn Thiên cung.

 

滅 俗 劫 塵 緣 冤 債
掌 桃 仙 守 解 長 存
業 洪 運 子 回 門
至 公 定 位 永 存 天 宮

 

GIẢI NGHĨA

Câu 13: Diệt tục kiếp trần duyên oan trái.

Diệt: Làm cho mất đi. Tục: Tầm thường thấp kém, chỉ cõi trần. Tục kiếp: Kiếp sống của con người nơi cõi trần.

Trần: Bụi bặm. Cõi trần là cõi có nhiều bụi bặm. Duyên: Mối dây ràng buộc. Trần duyên: Những mối dây ràng buộc con người vào cõi trần, tức là những mối dây ràng buộc con người vào vòng luân hồi.

Oan: Thù giận. Trái: Món nợ. Oan trái: Món nợ oan nghiệt. Mình làm cho người khác thù giận mình, tức là mình đã tạo ra một món nợ oan nghiệt mà sau nầy mình phải đền trả.

C.13: Tiêu diệt hết những mối dây ràng buộc con người vào cõi trần và tiêu diệt hết các món nợ oan nghiệt mà mình đã tạo ra trong các kiếp sống nơi cõi trần.

Câu 14: Chưởng Ðào Tiên thủ giải trường tồn.

Chưởng: Nắm giữ, cai quản. Ðào Tiên: Trái đào nơi cõi Tiên, còn gọi là trái Bàn đào.

Theo sự tích Hớn Võ Ðế cầu Phật Mẫu, Ðức Phật Mẫu giáng xuống Hoa Ðiện, ban tặng cho Hớn Võ Ðế 4 trái Ðào Tiên. Hớn Võ Ðế ăn hết 2 trái, lấy hột bảo Thái Giám đem ương để trồng. Ðức Phật Mẫu cười rằng: Trái Bàn đào nầy, không phải như trái cây của trần gian, 3000 năm mới ra hoa, 3000 năm mới kết trái, 3000 năm mới chín, đất thế gian mỏng lắm, không trồng được.

Theo lời thuyết đạo của Ðức Phạm Hộ Pháp, nơi Diêu Trì Cung, Ðức Phật Mẫu trụ Sanh quang lại làm thành một khối gọi là quả Ðào Tiên, có đủ sự sống vĩnh cửu nơi cõi Hư Linh. Người được ban thưởng ăn trái Ðào Tiên nầy thì sẽ được sống lâu, sức khỏe cường tráng và hình dáng tốt đẹp.

Thủ: Gìn giữ. Giải: Vật treo lên để làm phần thưởng, gọi là giải thưởng. Trường: Lâu dài. Tồn: Còn. Trường tồn: Tồn tại lâu dài, tức là hằng sống.

C.14: Ðức Phật Mẫu chưởng quản vườn Ðào Tiên nơi cõi thiêng liêng, dùng các trái Ðào Tiên làm phần thưởng cho các Chơn linh đắc đạo trở về ăn vào để được hằng sống.

Câu 15: Nghiệp hồng vận tử hồi môn.

Nghiệp: Sự nghiệp, công nghiệp. Hồng: To lớn. Vận: Vận chuyển. Tử: Con. Hồi môn: Trở về nhà.

C.15: Công nghiệp to lớn của Ðức Phật Mẫu là đem con cái của Người trở về ngôi nhà cũ nơi cõi thiêng liêng.

KHẢO DỊ:

* Kinh Lễ in bên Pháp năm 1952:

  • Nghiệp hồng dẫn tử ...

* Kinh TÐ-TÐ năm 1968, 1974, 1975:

  • Nghiệp hồng vận tử ...

Dẫn: Dìu dắt, dẫn dắt. Vận: Vận chuyển, chở đi.

Câu 16: Chí Công định vị vĩnh tồn Thiên cung.

Chí Công: Rất ngay thẳng công bình, chỉ Ðức Chí Tôn. Ðịnh vị: Sắp đặt phẩm trật ngôi vị. Vĩnh tồn: Tồn tại vĩnh viễn. tức là trường tồn. Thiên cung: Chỉ cõi Trời, cõi TLHS.

C.16: Ðức Chí Tôn sắp đặt ngôi thứ phẩm vị cho các Chơn linh tùy theo công quả lập được nơi cõi trần. Chơn linh nào được định vị rồi thì mãi mãi ở nơi cõi TLHS.

Ðức Phật Mẫu có nhiệm vụ độ rỗi để đem các Chơn linh là con cái của Người trở về, rồi giao cho Ðức Chí Tôn định phẩm vị theo đẳng cấp thiêng liêng.

 

17.

Chủ Âm quang thường tùng Thiên mạng,

18.

Ðộ Chơn thần nhứt vãng nhứt lai.

19.

Siêu thăng phụng liễn qui khai,

20.

Tiên cung Phật xứ, Cao Ðài xướng danh.

 

主 陰 光 常 從 天 命
度 眞 神 一 往 一 來
超 升 鳳 輦 歸 開
仙 宮 佛 處 高 臺 唱 名

 

GIẢI NGHĨA

Câu 17: Chủ Âm quang thường tùng Thiên mạng.

Chủ Âm quang: Ðức Phật Mẫu làm chủ Khí Âm quang. Ðức Chí Tôn làm chủ Khí Dương quang. Ðức Phật Mẫu đem Khí Âm quang phối hiệp với Khí Dương quang để tạo hóa. Thường: Luôn luôn. Tùng: Theo, tùng theo. Thiên mạng: Mệnh lệnh của Trời, tức là mệnh lệnh của Ðức Chí Tôn.

C.17: Ðức Phật Mẫu làm chủ Khí Âm quang, luôn luôn tùng theo mạng lịnh của Ðức Chí Tôn.

Câu 18: Ðộ Chơn thần nhứt vãng nhứt lai.

Ðộ: Cứu giúp. Vãng: Ði qua. Lai: Ði tới.

Nhứt vãng nhứt lai: Mỗi khi đi mỗi khi về.

CHƠN THẦN: Ðệ nhị xác thân, Xác thân thiêng liêng của con người. Con người sống nơi cõi phàm trần thì có xác thân phàm, gọi là Ðệ nhứt xác thân. Khi trở về ở nơi cõi thiêng liêng thì phải có xác thân thiêng liêng.

Xác thân phàm trần bằng xương bằng thịt do cha mẹ phàm trần sanh ra và được nuôi dưỡng bằng các vật thực nơi cõi trần. Còn xác thân thiêng liêng do Ðức Phật Mẫu dùng nguyên khí trong Kim Bàn DTC tạo nên. Do đó, xác thân thiêng liêng rất huyền diệu, bất tiêu bất diệt, không bao giờ chết được. Xác thân phàm trần cấu tạo bằng vật chất phàm trần, nên phải già rồi chết, nó sẽ thúi rã biến trở lại thành đất.

Ðức Chí Tôn giảng dạy về Chơn thần như sau:

"Chơn thần là gì? Là Nhị xác thân, là xác thân thiêng liêng. Khi còn nơi xác phàm thì nó khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu.

Cái Chơn thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật thì huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy." (TNHT. I. 6)

"Mỗi kẻ dưới thế nầy đều có 2 xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là Bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng.

Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh Khí Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh, Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần, không có Tinh, Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân. Vậy 3 món báu ấy phải hiệp mới đặng.

Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong Khí Tiên Thiên hằng có điển quang. Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch, mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng.

Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, Chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết." (TNHT. I. 30)

C.18: Ðộ Chơn thần nhứt vãng nhứt lai, nghĩa là: Cứu giúp Chơn thần của chúng ta mỗi khi đến mỗi khi về, tức là mỗi khi Chơn thần đi đầu kiếp xuống trần hay mỗi khi Chơn thần mãn kiếp trở về cõi thiêng liêng, đều do Ðức Phật Mẫu điều độ.

Câu 19: Siêu thăng phụng liễn qui khai.

Siêu thăng: Siêu là vượt lên trên, thăng là bay lên. Siêu thăng là bay bổng lên Trời. Trong tôn giáo, siêu thăng là linh hồn được giải thoát khỏi các cõi đọa để bay trở về cõi thiêng liêng. (Cõi đọa là cõi Âm quang hoặc cõi trần).

Phụng: Con chim phụng. Liễn: Chiếc xe. Phụng liễn: Chiếc xe trên đó có gắn hình chim phụng. Ở thế gian, Phụng liễn là chiếc xe dành riêng cho Nữ Vương, Nữ Hoàng hay Hoàng Hậu. Ở cõi thiêng liêng, Phụng liễn là chiếc xe Tiên để rước các chơn hồn trở về cõi thiêng liêng.

Qui: Trở về. Khai: Mở ra.

C.19: Khi linh hồn được siêu thăng thì có chiếc xe Tiên mở cửa rước trở về.

Câu 20: Tiên cung, Phật xứ, Cao Ðài xướng danh.

Tiên cung: Cung điện của các vị Tiên, chỉ cõi Tiên. Phật xứ: Cõi của chư Phật, tức là cõi Cực Lạc Thế Giới, cõi Niết Bàn. Cõi của chư Tiên và cõi của chư Phật được gọi chung là cõi Thiêng liêng Hằng sống.

CAO ÐÀI: Cái Ðài Cao tại Linh Tiêu Ðiện Ngọc Hư Cung, là chỗ ngự của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế mỗi khi có Ðại Hội Triều đình của Ðức Chí Tôn.

Bài thi sau đây giải thích 2 chữ Cao Ðài.

Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Ðài,
Ðại hội quần Tiên thử ngọc giai.
Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,
Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.
(Trích bài giáng cơ của Ðức Chí Tôn tại Cần Thơ năm 1927)

Nghĩa là:

Nơi Linh Tiêu Ðiện có một cái tháp gọi là Cao Ðài,
Các vị Tiên họp Ðại Hội tại bệ ngọc ấy.
Ánh hào quang từ đó chiếu ra xa đến muôn trượng,
Tên xưa cảnh quí báu đó là Lạc Thiên Thai.

Trong thời ÐÐTKPÐ, Ðức Chí Tôn lấy tên đài ngự của Ngài làm danh hiệu. Cho nên, khi nói Ðấng Cao Ðài là Ðức Chí Tôn vậy.

Xướng: Hô to lên. Danh: Tên. Xướng danh: Hô to lên tên họ của những người thi đậu để cho mọi người đều nghe biết. Ðó là cái vinh dự cho người thi đậu. Thời TKPÐ, Ðức Chí Tôn lập tại cõi trần nầy một Trường thi Công quả. Ai thi đậu, thì rất vinh hạnh được Ðức Chí Tôn xướng danh.

C.20: Ðức Chí Tôn gọi tên lên để ban thưởng cho về Cung Tiên, Xứ Phật.

 

21.

Hội Nguơn hữu Chí Linh huấn chúng,

22.

Ðại Long Hoa nhơn chủng hòa ki. (cơ)

23.

Tam kỳ khai hiệp Thiên thi,

24.

Khoa môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên.

 

會 元 有 至 靈 訓 眾
大 龍 花 人 種 和 機
三 期 開 合 天 書
科 門 仙 位 遇 期 佛 緣

 

GIẢI NGHĨA

Câu 21: Hội Nguơn hữu Chí Linh huấn chúng.

Hội Nguơn: Hội là tụ lại, Nguơn là một khoảng thời gian dài. Một Chuyển được phân ra làm 3 Nguơn: Thượng Nguơn, Trung Nguơn và Hạ Nguơn. Quả Ðịa cầu 68 của chúng ta hiện nay đang ở vào thời kỳ cuối Hạ nguơn của Ðệ Tam Chuyển, sắp bước qua Thượng nguơn của Ðệ Tứ Chuyển. Do đó thời kỳ nầy gọi là Hội Nguơn, vì là giao thừa giữa Hạ nguơn Tam Chuyển và Thượng nguơn Tứ Chuyển.

Chí: Rất. Linh: Thiêng liêng. Chí Linh: Rất thiêng liêng, chỉ Ðức Chí Tôn. Huấn: Dạy dỗ. Chúng: Nhiều người.

C.21: Trong thời kỳ cuối Hạ nguơn Tam Chuyển bước qua Thượng nguơn Tứ Chuyển, có Ðức Chí Tôn đến dạy dỗ nhơn sanh.

Câu 22: Ðại Long Hoa nhơn chủng hoà ki (cơ).

Ðại Long Hoa: Ðại Hội Long Hoa. Long là rồng, hoa là cái bông. Long Hoa là cái cây hình con rồng có trổ bông. Ðức Phật Di-Lạc sẽ đắc đạo tại cội cây Long Hoa nầy, cũng như Ðức Phật Thích Ca đắc đạo dưới cội cây Bồ Ðề.

Ðại Hội Long Hoa là một Hội lớn do Ðức Phật Di-Lạc làm chủ tọa, nhóm dưới cội cây Long Hoa để tuyển lựa người hiền đức. (KÐT: Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị).

Ðại Hội Long Hoa là hội thi chung kết, sau một giai đoạn tiến hóa dài của nhơn loại, để tuyển lựa những bậc hiền lương đạo đức, loại ra những kẻ gian tà hung bạo, thực hiện sự công bình thiêng liêng trong suốt một chặng đường tiến hóa của Vạn linh. Những người hiền lương đạo đức có nhiều công quả giúp đời được thưởng bằng những phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Trái lại, những người hung bạo gian tà sẽ bị chết thảm, linh hồn phải chờ đợi một thời gian dài để loài cầm thú tiến hoá lên làm người, rồi nhập vào mà bắt đầu học hỏi tiến hóa trong một vận hội mới và chuẩn bị cuộc thi mới.

Nhơn chủng: Các chủng tộc của nhơn loại. Hòa: Hòa hợp với nhau. Ki: Thường đọc là Cơ: cái máy, cơ quan.

C.22: Ðại Hội Long Hoa là một cơ quan làm cho các chủng tộc loài người hòa hợp với nhau. (tức là thực hiện Ðại Ðồng trên toàn thế giới).

Câu 23: Tam kỳ khai hiệp Thiên thi.

Tam kỳ: Lần thứ ba, chỉ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, tức là Ðạo Cao Ðài. Khai: Mở ra. Hiệp: Hợp với. Thiên thi: tức là Thiên thơ hay Thiên thư, là quyển sách của Trời, ghi chép Thiên điều, tức là ghi chép các luật pháp điều hành sự vận chuyển của CKVT, và sự tiến hóa của vạn vật.

C.23: Ðạo Cao Ðài mở ra phù hợp với Thiên thơ tiền định.

"Ðạo Cao Ðài chiếu theo luật Thiên đình, hội Tam giáo, mở rộng mối Ðạo Trời, ấy cốt để dìu dắt nhơn sanh bước lên con đường Cực Lạc, tránh khỏi đọa luân hồi...." (TNHT.I. 18)

Câu 24: Khoa môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên.

Khoa môn: Trường khoa cử, trường thi để tuyển chọn người tài giỏi. Tiên vị: Phẩm vị Tiên. Ngộ: Gặp. Kỳ: Thời kỳ, thời hạn định trước. Phật duyên: Có mối dây ràng buộc với Phật, có duyên với Phật, tức là có duyên với việc tu hành.

C.24: Trường thi lên phẩm vị Tiên dành cho những người có duyên với Phật gặp được thời kỳ mở Ðạo của Ðức Chí Tôn.

Trong kiếp sanh của chúng ta hiện nay, chúng ta may mắn gặp gỡ thời kỳ Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài, lập một Trường thi Công quả trong sự Ðại Ân Xá, chúng ta cố gắng học tập và lập công quả thế nào để đạt được điểm thật tốt trong Trường thi nầy. Ðây là một dịp may mắn hiếm có, ngàn năm một thuở!

"Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp TKPÐ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi." (TNHT. I. 20)

 

25.

Trung khổ hải độ thuyền Bát Nhã,

26.

Phước từ bi giải quả trừ căn.

27.

Huờn hồn chuyển đọa vi thăng,

28.

Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn chưởng Âm.

 

中 苦 海 度 船 般 若
福 慈 悲 解 果 除 根
還 魂 轉 墮 為 升
九 仙 回 復 金 盤 掌 陰

 

GIẢI NGHĨA

Câu 25: Trung khổ hải độ thuyền Bát Nhã.

Trung: Ở giữa, ở trong. Khổ hải: Biển khổ. Ðức Phật ví cõi trần là biển khổ. Chúng sanh sống trong cõi trần như là đang ngụp lặn trong biển khổ đó. Ðạo được ví như một chiếc thuyền để cứu vớt chúng sanh thoát qua biển khổ. Chiếc thuyền Ðạo đó là chiếc thuyền Bát Nhã. Ðộ: Cứu giúp.

Thuyền Bát Nhã: Bát Nhã, do chữ Phạn là Prajnâ, phiên âm ra, nghĩa là Trí Huệ. Trí huệ là sự giác ngộ hiểu biết hoàn toàn sáng suốt về Ðạo lý. Nhờ Trí huệ, con người thoát khỏi Vô minh, mê muội và phiền não. Người tu mà đạt được Trí huệ thì đã đến gần ngôi vị Tiên Phật.

Do đó, cái Trí huệ được ví như một con thuyền, gọi là Thuyền Bát Nhã, để đưa người giác ngộ đi qua biển khổ, thoát khỏi Luân hồi, đến cõi Phật. Muốn có Trí huệ thì phải Tu.

TNHT. I. 122: Tả Thuyền Bát Nhã.

Khuôn thuyền Bát Nhã chẳng hề chìm,
Nổi quá như bông, nặng quá kim.
Có Ðạo, trong muôn ngồi cũng đủ,
Không duyên, một đứa cũng là chìm.

Thuyền Bát Nhã do Ðức Phật Tổ lấy một cánh sen nơi cõi Cực Lạc Thế Giới, rồi dùng lửa Tam Muội làm cho biến hóa mà thành.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Di-Lạc Vương Phật , vâng lịnh Ðức Chí Tôn làm chủ Thuyền Bát Nhã, khai Ðại Hội Long Hoa, rước các Chơn hồn đầy đủ công đức vượt qua biển khổ, trở về cõi TLHS.

C.25: Ðức Phật Mẫu đem Thuyền Bát Nhã vào trong biển khổ để cứu giúp nhơn sanh.

Câu kinh nầy có ý nói rằng: Ðức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương, vâng lịnh Ðức Chí Tôn giáng điễn xuống trần, dẫn dắt các vị nguyên căn, mở ra Ðạo Cao Ðài, để cứu giúp chúng sanh tu hành đắc đạo, vượt qua biển khổ, thoát khỏi luân hồi, giống như Ðức Phật Mẫu đem chiếc Thuyền Bát Nhã đến chở chúng sanh vượt qua biển khổ.

Câu 26: Phước từ bi giải quả trừ căn.

Phước: Ðiều may mắn tốt lành. Từ bi: Lòng thương yêu bao la, thương khắp chúng sanh và luôn luôn muốn cứu giúp chúng sanh thoát khổ. Giải: Cởi bỏ đi. Quả: Cái kết quả. Trừ: Làm cho mất đi. Căn: Cái gốc rễ, chỉ tất cả những việc làm không lương thiện trong kiếp trước tạo thành cái Nghiệp ác gây ảnh hưởng xấu lên kiếp sống hiện tại.

Giải quả trừ căn: Giải trừ căn quả, giải trừ là cởi bỏ làm cho mất đi, căn quả là cái kết quả hiện tại do cái gốc ở kiếp trước, tức là cái hạnh phúc hay phiền não hiện nay là kết quả của việc làm thiện hay ác ở kiếp trước báo ứng lại.

C.26: Ðức Phật Mẫu ban phước, và do lòng từ bi, Ðức Phật Mẫu giải trừ căn quả xấu của chúng sanh đã gây ra từ kiếp trước.

Câu 27: Huờn hồn chuyển đọa vi thăng.

Huờn: do chữ Hoàn nói trại ra. Huờn là trả lại. Hồn: Linh hồn. Chuyển: Dời đổi. Ðọa: Bị trừng phạt xuống cõi thấp kém khổ sở. Vi: Làm. Thăng: Siêu thăng.

Huờn hồn: Trong thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn, những người mà trước đây phạm tội nặng với Thiên điều, bị Ngũ Lôi tru diệt, nay được Ðức Phật Mẫu cho huờn trở lại Linh hồn và Chơn thần để sống trở lại.

Chuyển đọa vi thăng: Ðức Phật Mẫu có quyền ân xá tội tình cho những linh hồn bị đọa, nay được siêu thăng.

C.27: Những người trước đây bị Ngũ Lôi tru diệt, nay được Ðức Phật Mẫu cho hườn trở lại Linh hồn và Chơn thần để sống trở lại vì Ðức Chí Tôn đại khai Ân Xá, và Phật Mẫu cũng ân xá những Linh hồn bị đọa lạc nay được siêu thăng.

Câu 28: Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn chưởng Âm.

Cửu Tiên: 9 vị Nữ Tiên nơi Diêu Trì Cung, thường gọi là Cửu vị Tiên Nương. Hồi: Trở về. Phục: Quay lại. Hồi phục: Quay trở về. Chưởng Âm: Chưởng quản khí Âm quang.

C.28: Cửu vị Tiên Nương quay trở về Kim Bàn nơi DTC để giúp Ðức Phật Mẫu chưởng quản khí Âm quang.

 

29.

Thập Thiên can bao hàm vạn tượng,

30.

Tùng Ðịa chi hóa trưởng Càn Khôn.

31.

Trùng huờn phục vị Thiên môn,

32.

Nguơn linh hóa chủng quỉ hồn nhứt thăng.

 

十 天 干 包 含 萬 象
從 地 支 化 長 乾 坤
重 還 復 位 天 門
元 靈 化 種 鬼 魂 一 升

 

GIẢI NGHĨA

Câu 29-30:

Thập Thiên can bao hàm vạn tượng.
Tùng Ðịa chi hóa trưởng Càn Khôn.

Thập Thiên can: Mười Can Trời gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí.

Thập nhị Ðịa chi: Mười hai Chi Ðất gồm: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

CAN và CHI, theo chữ gốc là Cán và Chi. Cán là thân cây, Chi là cành cây. Thân cây và cành cây liên kết nhau mới thành một cái cây. Tương truyền, vào thời vua Hiên Viên Huỳnh Ðế, có ông Ðại Nhiêu sáng tạo ra Thập Thiên Can và Thập nhị Ðịa Chi dùng để tính thời gian và làm lịch.

Bao hàm: Gồm chứa, chứa đựng bên trong. Tượng: Hình dáng bên ngoài. Vạn tượng: Muôn hình trạng. Tùng: Theo. Hóa: Biến đổi. Trưởng: Lớn lên. Càn Khôn: Trời Ðất, chỉ CKVT.

Hai Câu 29 & 30: Thập Thiên Can bao gồm ngàn hình muôn trạng. Thập Thiên Can tùng theo Thập nhị Ðịa Chi làm biến đổi và lớn rộng thêm Càn Khôn Vũ Trụ.

Khi sáng tạo ra CKVT, người và vạn vật, Ðức Chí Tôn dùng Thập nhị Ðịa Chi đặt tên cho các khoảng thời gian sáng tạo: "Thiên khai ư Tý, Ðịa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần." Nghĩa là: Trời khai ở Hội Tý, Ðất mở ra ở Hội Sửu, Người sanh ra ở Hội Dần. (Hội là một khoảng thời gian rất dài, lớn hơn một Chuyển. Một Hội có nhiều Chuyển, một Chuyển có 3 Nguơn: Thượng Nguơn, Trung Nguơn, Hạ Nguơn).

Câu 31: Trùng huờn phục vị Thiên môn.

Trùng: Lập lại nhiều lần giống nhau. Huờn: Hoàn trả lại. Phục vị: Phục là trở lại, vị là ngôi vị. Phục vị là trở lại ngôi vị cũ. Thiên môn: Cửa Trời, cõi Trời, tức là cõi TLHS.

C.31: Nhiều lần cho trở lại ngôi vị cũ nơi cõi TLHS.

Câu 32: Nguơn linh hoá chủng quỉ hồn nhứt thăng.

Nguơn linh: Nguyên linh. Nguyên là khởi đầu, cái chỗ bắt đầu. Linh là linh hồn. Nguơn linh là những linh hồn được sanh ra từ lúc Khai Thiên, đầu thai xuống trần, được gọi là Nguyên nhân. Hóa: Biến đổi. Chủng: Loài, loại.

Quỉ hồn: Linh hồn của Quỉ, tức là những Linh hồn thuộc về Quỉ vị. Khi Quỉ hồn đầu kiếp nơi cõi trần để làm người thì được gọi là Quỉ nhân.

Nơi cõi trần có 3 hạng người phân chia theo phẩm chất của Linh hồn: Nguyên nhân, Hóa nhân, Quỉ nhân.

Nguyên nhân là những chơn linh được sanh ra từ lúc Khai Thiên, nay đầu kiếp xuống trần.

Hóa nhân là những người do sự tiến hóa của loài Thú cầm mà sanh ra.

Quỉ nhân là những quỉ hồn đầu thai lên. Nguyên nhân và Hóa nhân, nếu gây ra nhiều tội lỗi nặng nề, phạm Thiên điều thì linh hồn bị đọa vào Quỉ vị, biến thành Quỉ hồn.

Nhứt: Bao gồm tất cả. Thăng: Siêu thăng.

C.32: Các Nguyên hồn đã được sanh ra từ lúc Khai Thiên, nay biến thành các loại Quỉ hồn, đều được độ rỗi để tất cả đều được siêu thăng.

Dù là Nguyên nhân, Hóa nhân hay Quỉ nhân, tất cả cũng đều là con cái của Chí Tôn và Phật Mẫu. ÐÐTKPÐ là Ðại Ân Xá Kỳ Ba, tận độ chúng sanh, nên Phật Mẫu từ bi cứu giúp toàn cả con cái của Ngài để tất cả đều được siêu thăng.

TNHT. II. 85: "Bần đạo chẳng kể là Nguyên nhân, Hóa nhân hay Quỉ nhân, ví biết lập công thì thành đạo."

 

33.

Vô siêu đọa quả căn hữu pháp,

34.

Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.

35.

Vô Ðịa ngục, vô quỉ quan,

36.

Chí Tôn Ðại Xá nhứt trường qui nguyên.

 

無 超 墮 果 根 有 法
無 苦 刑 人 劫 留 冤
無 地 獄 無 鬼 關
至 尊 大 赦 一 場 歸 元

 

GIẢI NGHĨA

Câu 33: Vô siêu đọa quả căn hữu pháp.

Vô: Không. Siêu đọa: Siêu thăng và đày đọa.Vô siêu đọa: Vô siêu vô đọa, không siêu thăng mà cũng không đày đọa. Quả căn: Căn là gốc rễ, Quả là cái kết quả. Quả căn hay Căn quả là cái kết quả tốt hay xấu của kiếp sống hiện tại là do gốc rễ là những việc làm thiện hay ác trong kiếp trước. Nếu trong kiếp sống hiện tại gặp nhiều hoạn nạn là bởi căn xưa không lành. Hữu: Có. Pháp: Pháp luật.

C.33: Không siêu thăng, không đọa đày, căn quả của mỗi người đều có luật pháp định rõ.

[Vô siêu đọa cũng có thể được giải thích là: Không đày đọa quá mức. Siêu là quá mức. C.33: Không đày đọa quá mức, căn quả của mỗi người đều có luật pháp định rõ. Bởi vì trong Câu kinh 32, tất cả đều được siêu thăng, dầu Quỉ hồn cũng vậy.]

Câu 34: Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.

Khổ hình: Hình phạt khổ sở. Vô khổ hình: Không có các hình phạt khổ sở. Nhơn kiếp: Kiếp sống của con người. Lưu: Ðể lại. Oan: Thù giận. Lưu oan: Lưu lại các oan nghiệt. Nhơn kiếp lưu oan: Những mối oan nghiệt của các kiếp sống trước còn lưu lại.

C.34: Không có những hình phạt khổ sở do các oan nghiệt của các kiếp sống trước còn lưu lại. (vì các oan nghiệt ấy đã được Ðức Phật Mẫu tiêu diệt hết do lịnh Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn).

Câu 35: Vô Ðịa ngục, Vô quỉ quan.

Ðịa ngục: Cõi tối tăm để giam giữ và trừng phạt các linh hồn tội lỗi. Có tất cả 10 cửa Ðịa ngục do Thập Ðiện Diêm Vương cai quản, dưới quyền của Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. Quỉ quan: Cửa quỉ, nơi giam giữ loài quỉ. Quan là cái cửa.

C.35: Không còn Ðịa ngục, không còn cửa quỉ.

Ý nói: Ðịa ngục và cửa quỉ đã bị đóng cửa hoàn toàn, không còn được dùng làm nơi giam giữ, đày đọa và trừng phạt các tội hồn.

Câu 36: Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.

Ðại xá: Xá là tha tội. Ðại xá là tha tội cho tất cả những người phạm tội, không giới hạn. Thường nói là Ðại Ân Xá. Khi Ðức Chí Tôn khai ÐÐTKPÐ thì Ðức Chí Tôn cũng mở ra một cuộc Ðại Ân Xá cho các đẳng chơn hồn trong khắp CKVT. (Xem chi tiết ngay ở phần sau). Trường: Nơi tụ họp nhiều người.

Nhứt trường: Một trường. Qui nguyên: Trở về gốc. Cái gốc ấy là nơi xuất phát ra mình, đó là Thái Cực, tức là Ðấng Chí Tôn Thượng Ðế.

C.36: Ðức Chí Tôn Ðại khai Ân Xá, tha thứ tội tình cho chúng sanh để đem con cái của Ngài trở về hiệp vào một chỗ cùng Ngài.

Ðại Ân Xá Kỳ Ba

Kể từ ngày khai Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn mở ra một thời kỳ Ðại Ân Xá cho toàn thể chúng sanh và cho các đẳng linh hồn.

Muốn hưởng được sự ân xá nầy, mỗi người phải biết thành tâm hối lỗi, ăn năn sám hối tội tình, cải tà qui chánh, nguyện thề từ bỏ các lỗi lầm để chuyên tâm lo việc tu hành, lập công bồi đức.

"Mỗi lần Khai Ðạo là Ðức Chí Tôn Ðại Ân Xá, tức là ban cho những người biết hồi đầu hướng thiện và lo việc tu hành, một ân huệ lớn lao, nghĩa là những tội lỗi của họ đã chồng chất từ mấy kiếp trước được Ơn trên bôi xóa và cho họ làm một Tân dân (người dân mới) trong cửa Ðạo với một Tư Pháp Lý Lịch còn trinh bạch. Nhờ vậy, người nhập môn hành đạo mới rảnh nợ tiền khiên, chỉ lo trau giồi Ðạo hạnh và lập công bồi đức, là đắc đạo trong một kiếp tu.

Hạ nguơn nầy, Ðức Chí Tôn lập Ðạo Kỳ Ba, nên mới có Ðại Ân Xá Kỳ Ba. Phép Giải Oan, Phép Cắt Dây Oan Nghiệt, Phép Ðộ Thăng và các phép Bí tích khác của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ được đem áp dụng trong sự thi hành luật Ðại Ân Xá đó vậy." (Trích Giáo lý Bài 18, Khóa Huấn Luyện Giáo Hữu, tại TTTN Toa Thanh Tay Ninh ).

Ngày chánh thức Khai Ðạo là 15-10 Âm lịch, tức là Rằm Hạ nguơn năm Bính Dần (1926) là ngày khởi đầu thời kỳ Ðại Ân Xá Kỳ Ba, Ðức Chí Tôn ban cho nhơn loại những ơn huệ đặc biệt sau đây:

1) Tha thứ tội lỗi ở các kiếp trước của những người biết hồi đầu hướng thiện, nhập môn cầu Ðạo, lập Minh Thệ cùng các Ðấng Thiêng liêng, nhứt tâm lo việc tu hành.

May đặng gặp hồng ân chan rưới,
Giải trái oan sạch tội tiền khiên. (KGO Kinh Giai Oan )

Chí Tôn xá tội giải oan,
Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ căn.
Ơn Tạo Hóa tha tiền khiên trước,
Ðưa linh phan tiếp rước nguyên nhân. (KCBCTBCHÐQL Kinh Cau Ba Con Than Bang Co Huu Ða Qui Lieu )

2) Ðức Chí Tôn đặc ân cho các tín đồ Cao Ðài, khi chết, linh hồn được Cửu vị Tiên Nương hướng dẫn đi qua các từng Trời của Cửu Trùng Thiên, mỗi nơi đều được quan sát các cảnh Trời đẹp đẽ mà dưới thế gian nầy không bao giờ có, đến bái kiến các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, đến Minh Cảnh Ðài để xem xét trở lại các hành vi thiện ác của mình trong suốt kiếp sống nơi cõi trần, đến Diêu Trì Cung bái kiến Ðức Phật Mẫu, đến Ngọc Hư Cung bái kiến Ðức Chí Tôn để cây Cân Công Bình thiêng liêng cân tội phước. Phước nhiều thì được phong thưởng bằng những phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật tương xứng. Nếu tội nhiều thì bị đưa về cõi Âm Quang, vô Tịnh Tâm Xá mà định tâm tịnh trí, ăn năn sám hối tội tình, cầu nguyện Ðức Chí Tôn độ rỗi. Tại cõi Âm Quang có Thất Nương DTC giáo hóa các Nữ tội hồn, và Ðịa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các Nam tội hồn.

3) Ðức Chí Tôn cho đóng cửa Ðịa Ngục. Các tội hồn không còn bị giam giữ và bị hành hình trong Ðịa ngục nữa, mà được đưa đến cõi Âm Quang để học Ðạo, cầu khẩn Ðức Chí Tôn độ rỗi, chờ ngày trở lại cõi trần đặng tái kiếp mà trả cho xong căn quả.

4) Ðức Chí Tôn cho mở cửa Cực Lạc Thế Giới để đón rước người đắc đạo. Nếu người nào quyết chí tu hành, chỉ trong một kiếp tu cũng đủ đắc đạo. "Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế Giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng." (TNHT. I. 76).

Ðóng Ðịa ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương. (KGO)

5) Những người bị tội Tận đọa Tam đồ bất năng thoát tục, hay bị Ngũ Lôi tru diệt, cũng nhờ Ðại Ân Xá nầy mà được Ðức Phật Mẫu cho huờn lại Chơn linh và Chơn thần đặng tái kiếp lập công chuộc tội.

Thời kỳ Ðại Ân Xá không phải kéo dài mãi mãi đến thất ức niên (700 000 năm) mà chỉ được giới hạn trong giai đoạn đầu của thời kỳ Khai Ðạo. Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng không tiết lộ cho biết Ðại Ân Xá kéo dài trong bao nhiêu năm, nhưng theo sự khảo cứu tổng hợp các tài liệu, thì thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn bắt đầu kể từ ngày Khai Ðạo 15 tháng 10 năm Bính Dần (1926), cho đến khi Ðức Phật Di-Lạc khai Ðại Hội Long Hoa, là chấm dứt, vì đã bước qua một chu trình tiến hóa mới của nhơn loại.

Chúng ta hôm nay gặp Ðạo Cao Ðài là một duyên may ngàn năm một thuở, nếu không mau tiến bước trên đường tu hành, cứ để ngày tháng lần lừa trôi qua, thì có mong chi đắc quả, trở về ngôi vị cũ.

 

37.

Chiếu nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc,

38.

Ðộ anh nhi Nam, Bắc, Ðông, Tây.

39.

Kỳ khai tạo nhứt linh đài,

40.

Diệt hình tà pháp cường khai đại đồng.

 

照 乳 令 慈 萱 受 敕
度 嬰 兒 南 北 東 西
期 開 造 一 靈 臺
滅 形 法 強 開 大 同

 

GIẢI NGHĨA

Câu 37: Chiếu nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc.

Chiếu: Căn cứ vào, noi theo. Nhũ: Sữa, cái vú mẹ, chỉ bà mẹ. Nhũ lịnh: Lịnh của Mẹ. Ở đây ý nói: Lịnh của Ðức Phật Mẫu. Từ: Lòng thương yêu của người trên đối vói kẻ dưới.

Huyên: Cỏ huyên, chỉ người mẹ.

Huyên là loại cỏ sống lâu năm, người xưa cho rằng ăn cỏ huyên thì khỏi buồn phiền, nên cỏ huyên còn có tên là Vong Ưu thảo. Trong Kinh Thi có câu: "An đắc huyên thảo, ngôn thụ chi bối." (Làm sao có được cỏ huyên trồng ở chái nhà phía Bắc). Ðời xưa, chái nhà phía Bắc là chỗ ở của mẹ. Trồng cỏ huyên nơi chỗ ở của mẹ là có ý muốn cho mẹ khỏi buồn phiền. Do đó, trong văn học cổ, người ta dùng chữ Huyên đường (Nhà huyên) là để chỉ người mẹ.

Từ Huyên: Người mẹ hiền thương yêu con cái, chỉ Ðức Phật Mẫu. Thọ: còn đọc Thụ, nghĩa là nhận lãnh. Sắc: Tờ giấy viết lịnh của vua, ý nói tờ giấy viết lịnh của Ðức Chí Tôn.

C.37: Chiếu theo lịnh của Ðức Phật Mẫu, mà Ðức Phật Mẫu đã nhận lãnh Sắc lịnh của Ðức Chí Tôn.

Câu 38: Ðộ anh nhi Nam, Bắc, Ðông, Tây.

Ðộ: Cứu giúp. Anh nhi: Anh là đứa trẻ mới lọt lòng mẹ, nhi là con trẻ. Anh nhi là chỉ chung con cái của Ðức Phật Mẫu, tức là toàn thể nhơn loại, vì Ðức Phật Mẫu xem nhơn loại là con cái nhỏ dại của Người. Nam, Bắc, Ðông, Tây: 4 hướng, ý nói khắp nơi trên cõi trần.

C.38: Ðức Phật Mẫu cứu giúp toàn thể con cái khắp nơi trên cõi trần.

Câu 39: Kỳ khai tạo nhứt linh đài.

Kỳ: Thời kỳ. Khai: Mở ra. Kỳ khai: Mở ra một thời kỳ, tức là mở ra ÐÐTKPÐ. Tạo: Làm ra. Nhứt: Một. Linh: Thiêng liêng. Linh đài: Cái đài thiêng liêng, chỉ cái Tâm của con người. Trang Tử có nói: "Bất khả nội ư linh đài", nghĩa là: Không thể ở trong cái Tâm của người ta được. Ý nói không thể biết rõ lòng dạ của người ta được.

Thơ của Bùi Ðộ nhà Ðường có câu: "Nhứt điểm linh đài đan thanh mạc trạng.", nghĩa là: Một điểm linh đài, đỏ xanh không vẽ nên hình trạng được.

Như vậy thì cái Tâm của con người không có hình sắc, mầu nhiệm thiêng liêng. Chúng ta không thể nhìn thấy cái Tâm được, nhưng có thể nhận biết nó, vì cái Tâm có bản chất lành, nên gọi là Lương Tâm, thường khiến con người làm điều hay sự phải, giục con người mến đạo đức chuộng tinh thần, biết thuận tùng Thiên lý. Người làm điều không phải thì bị Lương Tâm cắn rứt. Kẻ làm ác là vì cái Tâm bị vật dục che lấp nên không còn điều khiển hành vi theo đường chơn thiện. Tâm sáng thì gần Tiên Phật, Tâm u tối thì gần Quỉ ma.

Linh đài cũng là cái Tâm của Vũ trụ. Ðó chính là Thiên nhãn (Nhãn thị chủ Tâm), tượng trưng cho khối đức tin của nhơn loại. Ðức tin đó là nhận 2 Ðấng Chí Tôn và Phật Mẫu là Ðại Từ Phụ và Ðại Từ Mẫu của nhơn loại. Có Ðức tin vững chắc như thế thì nhơn loại mới nhìn nhau là anh em một nhà, mới thương yêu giúp đỡ nhau. Ðó là yếu tố then chốt tiến đến Ðại Ðồng nhơn loại.

C.39: Mở ra ÐÐTKPÐ là để tạo một khối đức tin lớn cho toàn nhơn loại.

Câu 40: Diệt hình tà pháp, cường khai Ðại Ðồng.

Diệt: Làm cho mất đi. Hình: Cái hiện ra trước mắt, hình thức. Tà pháp: Tất cả những việc không ngay thẳng, không chơn thật, có mục đích không tốt đẹp. Cường khai: Mở ra một cách mạnh mẽ. Ðại Ðồng: Cùng chung một qui mô lớn lao. Xã hội Ðại Ðồng là một xã hội trong đó, khắp mọi nơi đều hòa bình vui vẻ, mọi người đều bình đẳng, không còn phân biệt giai cấp, chủng tộc, xem nhau như anh em một nhà. Ðó là một xã hội thái bình an lạc lý tưởng, là đời Thượng nguơn Thánh đức.

C.40: Tiêu diệt tất cả các hình thức của tà quái để mở ra một cách mạnh mẽ xã hội Ðại Ðồng cho toàn nhơn loại.

 

41.

Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch,

42.

Qui Thiên lương quyết sách vận trù.

43.

Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu,

44.

Hiệp qui Tam giáo hữu cầu chí chơn.

 

協 萬 種 一 門 同 脈
歸 天 良 決 策 運 籌
春 秋 拂 麈 缽 盂
協 歸 三 敎 有 求 至 眞

 

GIẢI NGHĨA

Câu 41: Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch.

Hiệp: Hợp lại, gom lại. Vạn chủng: Muôn loài, chỉ toàn thể nhơn loại gồm nhiều chủng tộc. Nhứt môn: Một cửa, ý nói một nhà. Ðồng mạch: Ðồng là cùng, mạch là đường nước chảy. Ðồng mạch là cùng một đường nước chảy, ý nói cùng chung một tín ngưỡng.

C.41: Hợp các chủng tộc của nhơn loại thành một nhà, trong một tín ngưỡng chung, cùng tôn thờ hai Ðấng Cha Mẹ chung thiêng liêng là Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu.

Câu 42: Qui Thiên lương quyết sách vận trù.

Qui: Trở về, đem trở về. Thiên: Trời. Lương: Tốt đẹp. Thiên lương là cái tốt đẹp do Trời ban cho mỗi người. Ðó chính là cái Tâm chơn chánh và lành, nên gọi là Lương Tâm. Lương Tâm chỉ là sự thể hiện của Chơn linh, mà Chơn linh là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho mỗi người. Quyết: Liệu định. Sách: Kế hoạch. Vận trù: Vận động và trù liệu toan tính công việc.

C.42: Ðức Phật Mẫu liệu định kế hoạch, vận động và toan tính đem cái Thiên lương (Tâm) trở lại làm chủ con người.

Bấy lâu nay, cái Tâm của con người bị lục dục thất tình che lấp, không làm chủ con người, nên lần lần con người đi vào đường vật chất, gây ra lắm tội tình. Nếu kềm chế được thất tình và lục dục thì Thiên lương sẽ được sáng tỏ trở lại, làm chủ con người, khiến con người đi vào đường đạo đức.

Câu 43: Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu.

Xuân Thu: là quyển Kinh Xuân Thu do Ðức Khổng Tử viết ra để bày tỏ cái Ðạo của Ngài. Mới nhìn thì Xuân Thu là một quyển sách lịch sử của nước Lỗ, nhưng Ðức Khổng Tử đã vận dụng văn tự, và bút pháp để khen chê, phân biệt tà chánh rất minh bạch và đanh thép, nên người đời sau phải công nhận đó là những búa rìu trong Kinh Xuân Thu. "Khổng Tử tác Xuân Thu nhi loạn thần tặc tử cụ." nghĩa là: Ðức Khổng Tử làm Kinh Xuân Thu mà bọn loạn thần gian tặc sợ.

Như thế, Kinh Xuân Thu là sách để Tâm truyền đại nghĩa Danh và Phận về đường luân lý và chánh trị. Ðức Khổng Tử nói: "Tri Ngã giả kỳ duy Xuân Thu hồ, tội Ngã giả kỳ duy Xuân Thu hồ." Nghĩa là: Người biết Ta cũng chỉ ở Kinh Xuân Thu, người trách tội Ta cũng chỉ ở Kinh Xuân Thu.

Kinh Xuân Thu là biểu tượng của Khổng Tử, Ðạo Cao Ðài chọn Kinh Xuân Thu làm Cổ pháp tượng trưng Nho giáo.

Phất Chủ: Phất là quét, Chủ là con chủ, một giống thú thuộc loài nai, hình dáng như con hươu mà lớn hơn. Thường thì con chủ đi trước, đàn hươu đi theo sau, đuôi con chủ phẩy sạch bụi, nên ngày xưa thường dùng đuôi con chủ làm cây phất trần, tức là cây chổi quét bụi; vì thế cây Phất trần còn được gọi là Chủ vĩ (đuôi con chủ). Trong truyện Tam quốc, sau khi Quan Công bị chém đầu, hồn bay phưởng phất trên đỉnh núi Ngọc Tuyền đòi trả đầu lại, Phổ Tịnh Thiền Sư lấy "Ðuôi chủ" gõ vào cửa để gọi hồn Quan Công. Quan Công liền đáp xuống ra mắt Thiền Sư. Thiền Sư giải rõ về Nhơn Quả, Quan Công liền tỉnh ngộ và hiển Thánh.

Vậy, Phất chủ là cây chổi làm bằng đuôi con chủ, để các vị Tiên quét bụi. Ðây là cây chổi Tiên để quét sạch bụi trần bám vào che lấp cái Tâm, để cái Tâm trở nên trong sạch và sáng tỏ.

Theo Bí pháp Tiên gia, Phất chủ kết tụ điển khí của Thất bửu Diêu Trì Cung, dùng sửa trau Chơn thần cho tinh khiết. Nguồn gốc của cây Phất chủ là của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân, một bảo vật của Tiên gia có phép thuật rất huyền diệu. Các vị Tiên thường cầm Phất chủ.

Do đó, Ðạo Cao Ðài chọn Phất chủ làm Cổ Pháp tượng trưng Tiên giáo.

Bát Vu: Bát là cái chén đựng đồ ăn, Vu là cái bầu đựng đồ ăn và nước. Bát Vu là cái bình đựng đồ ăn và nước của các vị Tăng Ni Phật giáo phái Khất sĩ, dùng đi khất thực.

Mỗi vị Sư, khi thọ giới cụ túc thì được vị Hòa Thượng nhơn danh Giáo Hội truyền cho một cái Bát, hoặc khi cái Bát bị hư bể thì cũng được Giáo Hội phát cho cái khác.

Bình Bát vu (Bát) và áo Cà sa (Y), gọi tắt là Y Bát, của Ðức Phật Thích Ca là 2 tín vật quí báu để truyền ngôi Tổ Sư Phật giáo. Khi Ðức Phật Thích Ca tịch, Ngài truyền Y Bát nầy lại cho Ma Ha Ca Diếp làm tín vật để kế thừa Ngài, giữ ngôi Nhứt Tổ Phật giáo Ấn Ðộ, điều hành toàn bộ Giáo hội Phật giáo. Y Bát nầy truyền dần xuống đến đời Tổ Sư 28 là Ðạt Ma Tổ Sư, thì Y bát theo Ðạt Ma Tổ Sư chuyển qua nước Trung Hoa để mở mang Phật giáo tại đây. Ðạt Ma Tổ Sư trở thành Sơ Tổ của Phật giáo Trung Hoa. Tại đây, Ðạt Ma Tổ Sư truyền Y Bát qua 4 đời Tổ nữa, thì đến Lục Tổ Huệ Năng. Sau đời Lục Tổ Huệ Năng thì không còn lệ truyền Y Bát nữa, vì theo lời dặn dò của Ðạt Ma Tổ Sư, sau 200 năm kể từ ngày Ngài nhận Y Bát làm Tổ thì không được truyền kế nữa. Lục Tổ Huệ Năng là vị Tổ Sư cuối cùng có Y Bát. Chắc chắn các Tổ Sư biết rằng, sau đời Lục Tổ Huệ Năng thì Phật giáo bắt đầu thất Chơn truyền, bước vào thời kỳ Mạt Pháp.

Ðạo Cao Ðài chọn Bình Bát vu làm Cổ Pháp tượng trưng Phật giáo.

Như vậy, Tam giáo: Nho, Thích, Lão, được tượng trưng bằng 3 Cổ Pháp:

  • Bình Bát vu, tượng trưng Phật giáo.

  • Cây Phất chủ, tượng trưng Tiên giáo.

  • Kinh Xuân Thu, tượng trưng Nho giáo.

Ghép chung 3 Cổ Pháp nầy lại để nói lên ý nghĩa là: Tam giáp qui nguyên, tức là đem 3 nền Tôn giáo nầy cùng trở về một gốc, gốc đó là nguồn cội của CKVT, là Thái Cực, là Thượng Ðế vậy.

Câu 44: Hiệp qui Tam giáo hữu cầu chí chơn.

Hiệp: Hòa hợp. Qui: Trở về. Hiệp qui: Trở về và hòa hợp với nhau. Tam giáo: Ba nền tôn giáo lớn ở Á Ðông, gồm: Phật giáo, Tiên giáo, Nho giáo. Hữu: Có. Cầu: Tìm kiếm, mong mỏi. Chí: Rất. Chí chơn: Rất chơn thật.

C.44: Ðem Tam giáo trở về hòa hợp với nhau thành một khối để mong tạo thành một nền Ðại Ðạo rất chơn thật.

 

45.

Phục nguyên nhơn huờn tồn Phật tánh,

46.

Giáo hóa hồn hữu hạnh hữu duyên.

47.

Trụ căn quỉ khí Cửu tuyền,

48.

Quảng khai Thiên thượng tạo quyền chí công.

 

復 元 人 還 存 佛 性
敎 化 魂 有 幸 有 緣
住 根 鬼 氣 九 泉
廣 開 天 上 造 權 至 公

 

GIẢI NGHĨA

Câu 45: Phục nguyên nhơn huờn tồn Phật tánh.

Phục: Ðem trở về. Nguyên nhơn: Người mà linh hồn được sanh ra từ lúc khai Thiên. (Xem trở lại Câu 7 PG) Huờn: Hoàn, trả lại. Tồn: Còn.

Phật tánh: Tánh Phật, tức là cái tánh giác ngộ. Ðó là cái tánh tốt đẹp và lành mà Trời ban cho mỗi người. Phật tánh cò được gọi là: Giác tánh, Như Lai tánh.

Con người ai ai cũng đều có Phật tánh, cho nên nếu biết lo tu hành thì đều thành Phật. Dầu cho kẻ thiện hay người ác đều có Phật tánh như nhau, nhưng kẻ ác thì Phật tánh bị vật dục che lấp hoàn toàn, còn người thiện thì Phật tánh tỏ rạng.

Câu nói nổi tiếng của Lục Tổ Huệ Năng khi trả lời câu hỏi của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: "Người đành có Nam Bắc, tánh Phật há vậy sao?"

Chỉ có Phật thì Phật tánh hoàn toàn sáng suốt.

Theo Niết Bàn Kinh, Phật tánh có 7 tính chất: Hằng có, Trong sạch, Thực, Lành, Ðương kiến, Chơn chánh, Khả chứng.

Vậy, Phật tánh là cái bổn tánh trong sạch thiện lương mà Trời ban cho mỗi người. Cho nên cũng gọi là Thiên tánh.

C.45: Ðem các nguyên nhân trở về bằng cách hoàn trả và bảo tồn cái bổn tánh thiện lương chơn chánh mà Trời đã ban cho mỗi người.

Các Nguyên nhân đầu kiếp xuống trần thì bị nhiễm trược trần, bị vật dục che lấp Phật tánh, làm cho Phật tánh dường như mất đi. Nay, Ðức Phật Mẫu đến giúp họ giác ngộ, cởi bỏ bức màn vô minh, thì Phật tánh tỏ rạng, giống như là đã đem Phật tánh hoàn trả cho họ.

Câu 46: Giáo hóa hồn hữu hạnh hữu duyên.

Giáo hóa: Dạy dỗ cho biến đổi từ xấu ra tốt, từ dốt thành ra biết chữ nghĩa. Hồn: Linh hồn, Chơn linh.

Hữu: Có. Hạnh: May mắn. Duyên: Mối dây ràng buộc được định sẵn từ trước.

Hữu hạnh: Có may mắn gặp được mối Ðạo. Hữu duyên: Có duyên với Phật, tức là có duyên với việc tu hành.

C.46: Giáo hóa các linh hồn có may mắn (gặp Ðạo) và các linh hồn có duyên (với việc tu hành).

Câu 47: Trụ căn quỉ khí Cửu tuyền.

Trụ: Giữ yên một chỗ, thường nói: An trụ. Căn: Cái gốc rễ. Khí: Cái phần vô hình. Quỉ khí: Quỉ hồn, tức là những linh hồn thuộc Quỉ vị. Cửu tuyền: Cửu là 9, Tuyền là suối. Cửu tuyền là Chín suối, chỉ cõi Âm phủ. Tương truyền, nơi Âm phủ có 9 dòng suối. Theo Thế Thuyết, sau khi Ân Trọng Kham chết, Hoàn Huyền hỏi Ân Trọng Văn: Cha ngươi là Trọng Kham là người thế nào? Trọng Văn đáp: Tuy không thể làm sáng tỏ một đời, cũng đủ soi rọi khắp Chín suối.

C.47: Cái gốc của các Quỉ hồn là ở cõi Âm phủ, nên Ðức Phật Mẫu giữ yên các Quỉ hồn tại nơi đó.

Câu 48: Quảng khai Thiên thượng tạo quyền chí công.

Quảng: Rộng rãi. Khai: Mở ra. Quảng khai: Mở rộng ra. Thiên thượng: Trên Trời, chỉ cõi Trời, tức cõi TLHS. Quảng khai Thiên thượng: Mở rộng cõi Trời để rước những người đắc đạo trở về. Tạo: Làm ra. Quyền: Quyền hành. Chí công: Rất công bình. Cái Công bình nơi cõi thiêng liêng được tượng trưng bằng Cây Cân Công Bình của Ðức Chí Tôn. Cái công bình đó mới là tuyệt đối, vì không có chi có thể khuất lấp được, còn cái công bình nơi phàm trần chỉ là cái công bình tương đối, vì sự phán xét của con người có giới hạn, và luật pháp do con người đặt ra có tánh cách tương đối. Vì thế, người ta gọi Thượng Ðế là Ðấng Chí Công.

C.48: Ðức Phật Mẫu mở rộng cõi Trời để thi hành cái quyền công bình thiêng liêng tuyệt đối của Trời. (Ai có công thì được thưởng, ai có tội thì bị đọa đày).

 

49.

Lịnh Mẫu Hậu khai tông định Ðạo,

50.

Ân dưỡng sanh đảm bảo hồn hài.

51.

Càn Khôn tạo hóa sánh tài,

52.

Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang.

 

令 母 后 開 宗 定 道
恩 養 生 擔 保 魂 骸
乾 坤 造 化 逞 才
一 朝 一 夕 敬 排 暮 康

 

GIẢI NGHĨA

Câu 49: Lịnh Mẫu Hậu khai tông định Ðạo.

Lịnh: Mệnh lệnh. Mẫu Hậu: Một danh hiệu của Ðức Phật Mẫu. Lịnh Mẫu Hậu: Mệnh lệnh của Ðức Phật Mẫu.

Khai: Mở ra. Tông: Cũng đọc là Tôn, tôn giáo. Khai tông: Mở ra một nền tôn giáo.

Ðịnh: Sắp đặt. Ðạo: Tôn giáo. Ðịnh Ðạo: Sắp đặt một nền tôn giáo.

C.49: Ðức Phật Mẫu ra lịnh m