TIỂU SỬ VÀ LỜI THUYẾT ÐẠO
CỦA ÐỨC THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG

 
 
CHỦ-TRƯƠNG ẤN HÀNH
ÐIỆN THỜ PHẬT MẪU SAN JOSE
(HOA KỲ)


THỰC HIỆN SƯU TẦM & CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ NỘI DUNG:
HT Hồ Xưa, HT Mai Văn Tìm

ÐÁNH MÁY VÀ TRÌNH BÀY:
Ban Thế Ðạo Tiểu Bang Washington -
 Hoa Kỳ

  ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH

 

TIỂU SỬ VÀ LỜI THUYẾT ÐẠO
CỦA
ÐỨC THƯỢNG SANH
CAO HOÀI SANG

 

ÐIỆN THỜ PHẬT MẪU SAN JOSE
Ấn hành lần thứ nhứt tại Hoa Kỳ Năm Tân Tỵ (2001)
 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

LỜI TRÌNH DẪN

Ðức Thượng Sanh Cao Hoài Sang là một trong ba vị Tướng soái hàng đầu vâng mạng lịnh Ðấng Chí Tôn đến khai mở nền Ðại Ðạo. Ðức Ngài đã lèo lái con thuyền Ðạo vượt qua những cơn phong ba bão táp và đưa đến bờ bến vinh quang. Ngoài việc phát triển cơ Ðạo về mọi mặt, Ðức Ngài còn để lại những lời vàng tiếng ngọc qua những bài Thuyết Ðạo hay diễn từ trong các dịp hội họp của chư Chức sắc và Tín đồ.

Trong khi những Lời Thuyết Ðạo của Ðức Hộ Pháp đã được HỘI-THÁNH sưu tập và ấn hành cho toàn Ðạo học hỏi, nhưng chưa có công trình nào sưu tập chính thức khá đầy đủ về Ðức Thượng Sanh. May duyên thay, chúng tôi có được một tập đánh máy về các bài thuyết giảng của Ðức Ngài từ ngày Rằm tháng tư năm Ðinh Dậu (14-5-1957) cho đến ngày 22 tháng 3 năm Ðinh Mùi (1-5-1967) do một vị Chức sắc hay Ðạo hữu ẩn danh nào đó thực hiện mà không có ghi lại tên họ. Từ đó chúng tôi nảy sinh ra ý tưởng sưu tập thêm các bài thuyết giảng cũng như các bài thi của Ðức Ngài để in lại thành một tuyển tập.

Chúng tôi lại được một may duyên kế tiếp nữa là mượn được một bộ Ðặc san Thông Tin của Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý (Tòa Thánh Tây Ninh) hơn 100 số do gia đình Hiền tỷ Luật Sự Nguyễn Thị Tư Bé mang sang từ bên nhà. Trong đó có nhiều bài thuyết giảng và thi văn của Ðức Thượng Sanh cũng như có diễn tả đầy đủ về Tiểu sử và Lễ Thánh Tang khi Ðức Ngài qui thiên.

Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được một số bài thuyết giảng khác của Ðức Ngài do chư Ðồng Ðạo gởi đến.

Chúng tôi thành kính tri ân những vị nêu trên đã giúp chúng tôi hoàn thành tập sách nầy.

Tuy nhiên, chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, chúng tôi mong rằng sau khi tập sách nầy được ra mắt, chư Ðồng Ðạo sẽ bổ khuyết thêm những phần thiếu sót ấy. Ðồng thời hy vọng nó sẽ làm tài liệu hữu ích cho các công trình nghiên cứu về Ðức Thượng Sanh sau nầy cũng như sẽ được HỘI-THÁNH kiểm duyệt và ấn hành để phổ biến và lưu lại cho mai hậu.

NHÓM THỰC HIỆN

 


 

 

PHẦN THỨ NHỨT:

Tiểu Sử Ðức Thượng Sanh Cao Hoài Sang

Tiểu sử Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang

Đức Thượng Sanh về cơ sau khi đăng tiên

Bản tuyên dương công nghiệp Đức Thượng Sanh

Các bài điếu văn

 

 


 

TIỂU SỬ ÐỨC THƯỢNG SANH
CAO HOÀI SANG

Ghi lại cuộc đời của một nhà lãnh đạo tinh thần như Ðức THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG, muốn cho đầy đủ thì phải lắm công phu và cần có đủ thì giờ sưu tầm mới mong hoàn tất.

Ở phạm vi của THÔNG TIN, một khi đã đậy nắp Liên đài của Ngài, soạn giả xin ghi lại một cách trung thực những gì tai nghe mắt thấy của một vị trong ba vị mà buổi ban sơ Ðức CHÍ TÔN đến lập Ðạo. Chúng tôi không dám gọi là hoàn toàn, nhưng nhờ đó quý vị đọc qua thấy điều sơ sót, lần lượt bổ chính thêm cho hoàn mỹ để trang Ðạo sử được dồi dào phong phú hơn.

Nơi đây, chúng tôi xin chia tiểu sử của Ðức Ngài ra làm hai giai đoạn:

  • PHẦN ÐỜI CỦA ÐỨC NGÀI

  • PHẦN ÐẠO CỦA ÐỨC NGÀI

a)-PHẦN ÐỜI CỦA ÐỨC NGÀI

Ðức Ngài sanh trong gia đình họ Cao. Cụ thân sinh là CAO HOÀI ÂN giúp việc Tòa Án, Cụ bà HỒ THỊ LỰ (tức nữ Ðầu sư HỒ HƯƠNG LỰ).

Sanh ngày 11 tháng 9 năm 1901 (Al, 29 tháng 7 năm Tân Sửu), Tại Thái Bình - Tây Ninh.

Cụ ông và cụ bà sanh được ba người con, gồm 2 trai và 1 gái;

Người anh cả (thứ hai) CAO ÐỨC TRỌNG - Thiên phong TIẾP ÐẠO, là một trong 12 vị Thời Quân Hiệp Thiên Ðài.

Thứ ba: CAO THỊ CƯỜNG (hiện tại- (năm 1971) - là Giáo Hữu CAO HƯƠNG CƯỜNG, Giám Ðốc Cô Nhi Viện Tây Ninh). Ðức Ngài ngôi thứ trong gia đình vào hàng thứ tư. Cụ Ông và cụ Bà là người hiền hậu gia đình nề nếp Nho phong, giàu lòng từ thiện, hay giúp khó trợ nghèo, người tâm đức như thế mới trổ sanh con Thánh.

Ông Cao Hoài Sang học trường Sư Phạm (Ecole Normale) đổ bằng Thành chung, ra làm việc nơi sở Thương chánh Sài Gòn, lần lên đến cấp bậc Tham tá.

Bạn đời của Ông là Bà Võ Thị Giáo, sanh được 9 người con gồm 5 trai và 4 gái:

Cao Hoài Hà,
Cao Thị Ngọc Thanh,
Cao Xuân Phong,
Cao Hoài Thoại,
Cao Thị Ngọc Lan,
Cao Thị Cúc,
Cao Văn Tùng,
Cao Thị Thu,
Cao Minh Tâm.

Hiện còn đủ mặt tại thế, đã lập thành gia thất và cũng đang là Quân nhân, Công chức, ngoại trừ Ông Cao Xuân Phong sống độc thân.

TÁNH ÐỨC CỦA ÐỨC NGÀI:

Nói đến tánh đức của Ðức Ngài ở trong giới công chức cũng như đồng bào tại Thủ đô đều hiểu rõ thanh danh của Ngài là một bực Công chức thanh liêm cương trực, Ngài đã được bề trên giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, nhưng không vì đó mà hối mại quyền thế, khoát nạt kẻ dưới hoặc bắt ép người khi có việc cần đến phận sự của Ngài. Gặp việc bất bình thì Ngài thẳng thắn hùng biện một cách chuẩn thằng đanh thép mà hàng ngày Ðức Ngài đã mục kiến.

Ngài nhờ ở chốn quan trường, hằng ngày phải chứng kiến những điều tai nghe mắt thấy nhân tâm thế sự mà buồn tủi cho con người, Ngài tìm lãng quên trong các thú phong lưu, khi mượn cung đàn để xuất phát tâm tư ai oán, hoặc lúc kinh phú hòa thơ, mượn hồn thơ tỏ niềm u uất, lại mượn nước trí non nhân gởi hồn cùng phong nguyệt mơ ước thần uy xoay chuyển thế cuộc.

Nỗi niềm ưu hương, ái chủng của Ngài đã thúc đẩy Ngài cần giao du với bạn bè hầu tìm người tri kỷ, tri âm, trong số ấy có Ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc, Võ Văn Sang..v.v...

Vào tháng 6 năm 1925, Ông Cao Quỳnh Cư vô nhà Ông Cao Hoài Sang chơi ở dãy phố hàng Dừa, lối chợ Thái Bình Sài Gòn, thì thấy Ông Phạm Công Tắc cũng có mặt (vì nhà Ông Tắc ở gần đó), Ông Cư rủ hai ông xây bàn chơi, hai ông đồng ý.

Ba Ông đem cái bàn ra, cả ba cùng để tay lên, một lúc sau cái bàn chuyển động, một chơn linh nhập vô, rồi kế một người khác, thôi thì đủ hạng người, viết đủ thứ không đâu ra đâu.

Qua đêm sau, nhằm ngày mùng 6 tháng 6 năm Ất Sửu (dl. 26/7/1925) sắp đặt tổ chức đàng hoàng hơn thì có ông thân của Ông Cao Quỳnh Cư là Cụ Cao Quỳnh Tuân về cho một bài thi bát cú.

Ngày mùng 10 tháng 6 năm Ất Sửu (dl. 30/7/1925) ba ông lại rủ nhau xây bàn nữa, thì một vong linh nhập vô, cái bàn tự nhiên rung chuyển một cách khoan thai uyển chuyển, cho một bài thi:

  Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài.
Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn dập tương tư oằn một gánh,
Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai.
Ký tên ÐOÀN NGỌC QUẾ.

Ba ông hỏi Cô Ðoàn Ngọc Quế đau bịnh gì mà thác, cô cho hai bài thi tiếp theo:

  Trời già đành đoạn nợ ba sinh,
Bèo nước xẻ hai một gánh tình.
Mấy bửa nhăn mày lâm chước quỉ,
Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình.
 

***

  Người thì ngọc mã với kim đàng,
Quên kẻ dạ đài mối thảm mang.
Mình dặn lấy mình, mình lại biết,
Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

Ba ông mỗi người họa một bài, chúng tôi xin trích lục bài họa của ông Cao Hoài Sang:

  Nửa chừng xuân gãy tủi thân ai,
Nông nỗi nghĩ thôi tiếc bấy tài.
Ngọc thốt dám bì trang tuấn kiệt,
Vàng rơi riêng chạnh khách chương đài.
Những ngờ duyên thắm trao phòng bích,
Hay nỗi xương tàn xủ giậu mai.
Một giải đồng tâm bao thuở nối,
Nửa chừng xuân gãy tủi thân ai.

Từ ấy, ban ngày làm việc tối lại xây bàn, thi qua họa lại. Nhưng trong ba ông chỉ có Ông Cao Hoài Sang và Ông Phạm Công Tắc hoài nghi vấn đề xây bàn. Có một bửa Ông làm sẳn một bài thi Tự Thuật để trong túi, khi vong linh cô Ðoàn Ngọc Quế vô thì Ông nhờ họa.

Bài thi của Ông Cao Hoài Sang:
  Sầu dài ngày vắn dễ chi vui,
Toan tính thâu đêm ruột rối nùi.
Ngược gió thuyền đầy cơn gió dập,
Xuôi giòng nước lớn giạt bèo trôi.
Bước đường danh lợi thêm gay trở,
Ngảnh lối tang thương luống ngậm ngùi.
Lần lựa xuân hè năm tháng lụn,
Thôi thôi đến thế, thế thì thôi.

Cô Ðoàn Ngọc Quế
họa nguyên vận:
  Chung tình đoạn gánh khó làm vui,
Lần gỡ chưa xong chỉ rối nùi.
Lời hẹn xưa còn vầng nguyệt chứng,
Hương thề nay thả giữa dòng trôi.
Kim rời cải rụng lòng ngao ngán,
Ðá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.
Một khối tuyền đài tình khó dứt,
Ráp gương kiếp khác quyết chờ thôi.
Ngày 4/8/Ất Sửu (21/8/1925)

Cũng chưa tin, bửa sau bất thần Cơ đang vô, Ông xin ra đề thi: "Tiễn biệt tình lang", Cơ liền cho:

  Chia gương căn dặn buổi trường đình,
Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.
Bước rõ ngùi trông cơn ác xế,
Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.
Ngày chờ mây án ngàn dâu khuất,
Ðêm bặt đèn khuya một bóng nhìn.
Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn,
Xa xuôi ai thấu nỗi đinh ninh.
HỚN LIÊN BẠCH
Ngày 5/8/Ất Sửu (22/8/1925)

Và rồi từ đó, ban ngày tận tụy với công việc, đêm về lại xây bàn để cùng vui thú thi qua họa lại với các vong linh nơi siêu giới mông lung.

THỜI KỲ NGỘ ÐẠO
b)-PHẦN ÐẠO:

Mượn việc thi qua họa lại giữa kẻ dương gian cùng người âm cảnh làm thú tiêu khiển, dè đâu nó lại là đầu mối khơi nguồn để lập thành nền Ðạo ngày nay. Lần lần có các vị Tiên Nương Diêu Trì Cung giáng, cùng Phật Mẫu dẫn dắt. Khoảng tháng 7 có một chơn linh về Cơ xưng là A, Ă, Â cho thi văn dạy Ðạo và các Ðấng Thiêng Liêng cao trọng lần hồi đều có giáng cơ luận Ðạo.

VỌNG THIÊN CẦU ÐẠO:

Ngày 27 tháng 10 Ất Sửu (dl.12/12/1925) Bà Cửu Thiên Huyền Nữ giáng Cơ mách bảo ba ông ngày mùng 1 nầy tam vị Ðạo hữu VỌNG THIÊN CẦU ÐẠO. Ba ông mới bàn với nhau, không hiểu cầu Ðạo là gì mà Bà dạy vậy. Bữa sau ba ông hỏi Thất Nương dạy giùm cầu Ðạo là Ðạo gì?

Thất Nương trả lời : -Không phải phận sự của Em, xin hỏi Ông A Ă Â.

Ngày 29 tháng 10 Ất Sửu, Ông A Ă Â giáng cơ dạy ba ông: Giờ Tý ngày 30 tháng 10 rạng 1 tháng 11 Ất Sửu phải VỌNG THIÊN CẦU ÐẠO, phải tắm gội tinh khiết ra quì giữa trời cầm 9 cây nhang mà vái rằng:

Ba tôi là CAO QUỲNH CƯ, PHẠM CÔNG TẮC, CAO HOÀI SANG vọng bái CAO ÐÀI THƯỢNG ÐẾ ban ơn cho đủ phúc lành, cho ba tôi cải tà qui chánh.

Ba ông nhứt nhứt vâng lịnh Ông A Ă Â làm y như vậy, thì Ðức CAO ÐÀI THƯỢNG ÐẾ giáng cơ:

  Vọng niệm phân thùy sự sự phi,
Cá lý thiên tâm thường thế nhẫn.
Thiên tâm tu hướng cá trung cầu,
Quân vấn thiên tâm mạc tri tường.

Ba ông vì không biết chữ Nho, nên không hiểu nghĩa bài thi tứ cú của Ðức Cao Ðài, ba ông mới cầu Ông A Ă Â Ðại Tiên về hỏi cho rõ nghĩa. Ông về cho bài thi tứ cú:

  Cứ níu theo phan Ðức Thượng Hoàng,
Tự nhiên tu tánh đặng bình an.
Nguyệt hoa căn tội tua xa lánh,
Vịn lấy nhành dương hưởng đạo nhàn.

Ông A Ă Â giáng dịch nghĩa xuôi bốn câu thi của Ðấng Cao Ðài cho:

  Cần ước phần thửa việc việc,
Chẳng phải nơi lẽ Trời lòng thường thế nhịn.
Trời lòng tua ngó theo nơi giữa khẩn,
Bây hỏi Trời lòng chẳng biết rõ.
Nghĩa xuôi:
  Việc cầu ước điều chẳng phải,
Mỗi lẽ do lòng Trời phải đợi lịnh,
Lòng Trời tua ngó theo mỗi việc vừa khẩn cầu,
Bây hỏi lương tâm chưa biết rõ sao?
 

• Trời lòng (Concience)

Rằm tháng 8 năm Ất Sửu (21/10/1925), ba ông thiết lễ HỘI YẾN DIÊU TRÌ tại nhà Ông Cao Quỳnh Cư lần đầu tiên. Ngày thì bận rộn với công việc, tối lại phò cơ phổ độ mãi mãi.

Ngày 23 tháng 8 Bính Dần (dl. 29/9/1926) Ông Lê Văn Trung vâng Thánh ý của Ðức CHÍ TÔN hiệp với chư Ðạo hữu hết thảy là 247 vị tại nhà Ông Nguyễn Văn Tường, đứng tên vào Tịch Ðạo để khai Ðạo với Chánh phủ. Tờ khai Ðạo đến ngày 1 tháng 9 năm Bính Dần (dl. 17/10/1926), mới gởi lên Chánh phủ, Quan Nguyên soái Nam kỳ là Ông LE FOL. Trong tờ có 28 người đứng tên thay mặt cho cả Ðạo hữu có tên trong Tịch Ðạo, tờ ấy có tên Ông, Ông lại được phân công chung cặp cơ phổ độ với Ông Cao Quỳnh Diêu nơi các tỉnh thuộc Miền Ðông như: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Gia Ðịnh, Biên Hòa, Bà Rịa.

Ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần Lễ Khai Ðạo tại Chùa TỪ LÂM TỰ (Gò Kén) Tây Ninh, Ngày nầy Ðức CHÍ TÔN phong cho Ông chức THƯỢNG SANH một lượt với Ðức HỘ PHÁP Phạm Công Tắc và Ðức THƯỢNG PHẨM Cao Quỳnh Cư.

Ngày 16 tháng 12 Bính Dần (dl. 20/11/1926) Ðức CHÍ TÔN giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Ðài.

Ngày 9 tháng 1 năm Ðinh Mão (dl. 10/2/1927) Ðức LÝ THÁI BẠCH giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Nữ phái.

Ngày 12 tháng 1 năm Ðinh Mão (dl. 13/2/1927) Ðức CHÍ TÔN giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Ðài.

Từ khi dời về Từ Lâm Tự (Gò Kén) Ông thường lên xuống chung lo việc Ðạo, chưa trọn phế Ðời.

Vì lúc mới khai Ðạo mượn Chùa Từ Lâm của Hòa Thượng Giác Hải, sau vị Hòa Thượng nầy đòi chùa lại, nên chi đến ngày 20 tháng 2 năm Ðinh Mão (dl. 23/2/1927) thì được dời chùa về đất mới mua là Tòa Thánh hiện nay.

Khi Ðức CAO THƯỢNG PHẨM bị khảo phải về Thảo Xá Hiền Cung, nỗi niềm ưu Ðạo ái nhơn chỉ gởi vào thi văn, Ðức THƯỢNG SANH nhân dịp đến thăm Ðức THƯỢNG PHẨM có làm bài thi để họa lại bài thi của Ðức CAO THƯỢNG PHẨM.

  Dập dìu nào buổi Thất Tây Ninh,
Hiu quạnh hôm nay ngó rập rình.
Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,
Sau hiên meo mốc mấy pho kinh.
Rừng xơ vẻ thắm chim khôn đỗ,
Cảnh cũ màu xanh khách biếng nhìn.
Rường cột Ðạo mầu bao thuở dựng,
Sụt sùi để bước khó làm thinh.

Châu tri số 42 của Thượng Chánh Phối Sư đề ngày 1/2/1932 nói về phận sự hiện thời của Cơ Bút cũng như Chức sắc Hiệp Thiên Ðài theo lời giải của Ðức HỘ PHÁP.

Buổi mới lập Ðạo Thánh ý đã định giao trách nhậm Phò loan cho bốn cặp Cơ và mỗi cặp đều có phận sự đặc biệt là:

1)- CƠ LẬP ÐẠO (Enseignement Réligiaux)
2)- CƠ LẬP PHÁP (Législation Sacordoce)
3)- CƠ PHỔ ÐỘ (Prepagande de la Foi)
4)- CƠ BÍ PHÁP CỦA ÐẠO (Enseignements Esotériques)

1) HỘ PHÁP và THƯỢNG PHẨM là CƠ LẬP ÐẠO:

Tiên khởi Ðức CHÍ TÔN đã dùng đặng rửa lỗi cho chúng sanh xây nền Ðạo, dựng Hội Thánh, lập Tân Luật và Pháp Chánh Truyền mà thể cho Thiên Ðiều và Hiến Pháp Thiên Ðạo. Khi Ðức THƯỢNG PHẨM qui vị rồi, thì Cơ Phong Thánh đã xong phận sự và nền Ðạo cũng đã lập hoàn toàn thì Chức sắc phải chịu luật lệ công cử và duy có tuân y Tân Luật mà đạt lần phẩm vị.

Cho nên về Cơ bút của Cơ Lập Ðạo, tức là Hộ Pháp và Thượng Phẩm, đã trọn vẹn phận sự rồi.

2} HẬU và ÐỨC là CƠ LẬP PHÁP:

Chuyên về Hiến Pháp của Ðạo {Législation Réligieux}

Hiến Pháp của Ðạo là Tân Luật và Pháp Chánh Truyền thì không ai đặng phép canh cải, thêm bớt mà Cơ Lập Pháp không biết và nhứt là không có Hội Thánh Cửu Trùng Ðài và Hiệp Thiên Ðài công đồng nhìn nhận, cũng như buổi lập Tân Luật Thánh ý đã muốn cho cả Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài phải công đồng nhìn nhận.

3} MỸ NGỌC và SANG là CƠ PHỔ ÐỘ:

Dẫn dắt chúng sanh vào cửa Ðạo.

4} NGHĨA và TRÀNG là CƠ BÍ PHÁP của ÐẠO:

Nhưng hiện thời Tịnh Thất của Ðạo chưa thành lập thì phận sự chưa đến.

Những lời chú thích chép trên đây là do theo lời của Ðức HỘ PHÁP đã giải ngày 21 tháng 3 năm 1932 {Âl, Rằm tháng 2 năm Nhâm Thân} Thành lập Hiến Pháp và Nội Luật Hiệp Thìên Ðài, ban hành do Châu tri số 60 đề ngày 4/12/1932 của Ðức HỘ PHÁP và Quyền GIÁO TÔNG Thượng Trung Nhựt phê kiến.

Phần đông Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài là Công Chức ở Sài Gòn, thỉnh thoảng cũng thư từ góp ý về việc Ðạo mà thôi.

Mãi đến năm 1956 (Bính Thân) Ðức HỘ PHÁP bị một nhóm phản đồ về phản loạn Tòa Thánh, Ðức HỘ PHÁP ra đi Campuchea.

Ðức HỘ PHÁP vắng mặt, không người lèo lái con thuyền Ðạo, nên chi Hội Thánh yêu cầu Ðức THƯỢNG SANH về cầm giềng mối Ðạo do vi bằng ngày 10 tháng 3 Ðinh Dậu (dl. 9/4/1957). Ngài triệu tập phiên họp Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài ở Sài Gòn tại nhà Ông Hiến Thế và Ông Bảo Sanh Quân ngày 15 tháng 4 Ðinh Dậu (dl. 14/5/1957) Ðức Ngài và chư vị Thời Quân về Tòa Thánh cầm giềng mối Ðạo. Khi ấy trào Ngô Ðình Diệm nhã ý muốn cho một phái đoàn đưa Ðức Ngài về Tòa Thánh, nhưng Ðức Ngài từ khước, Hội Thánh định rước Ngài bằng một nghi lễ vô cùng long trọng, nhưng Ðức Ngài cũng từ khước luôn.

Kể từ đây Ðức Ngài đã phế đời hành Ðạo, từ ngày về làm Ðạo tính đến ngày Qui Thiên là 14 năm thiếu 20 ngày.

Con thuyền Ðạo đương hồi sóng gió của bạo quyền, nhơn tâm xao động, Ðức Ngài là con người trầm tĩnh, liêm khiết. Nhờ đức trầm tĩnh tùy thời của Ngài trấn an được nhân tâm và uyển chuyển tùy cơ bảo thủ nghiệp Ðạo, mỗi mỗi đều cân nhắc lợi hại nên hư. Với đức thanh liêm đã tiềm ẩn trong con người phi thường ấy, đã làm cho danh Ðạo khỏi hoen ố, mà trái lại còn được đời kính nể là khác.

Thời kỳ Ðức Ngài cầm quyền đã tiếp tục kiến thiết nhà Hội Thánh Ngoại giáo, tức là Hội Vạn Linh bây giờ, làm vòng rào và các cửa. Xây dựng được Văn Phòng Cơ quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý, Văn phòng Ban Thế Ðạo, Bắc Tông Ðạo, Ðường Nhơn, Ðầu Sư Ðường, Tần Nhơn, Văn Phòng Ban Chấp Hành Ðại Ðạo Thanh Niên Hội Trung Ương, Học Ðường Bộ Nhạc, Xây cửa Chánh Môn cùng mở Ðại lộ Chánh Môn, ngoài ra Ðức Ngài còn đôn đốc kiến thiết dãy lầu Ðạo Ðức Học Ðường, trường Trung học Lê Văn Trung và hiện đang xúc tiến việc xây cất Ðại Học Ðường của ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ. Lại nữa, Ðức Ngài là một Nhạc sư vào hàng Hậu Tổ, nên chi Ðức Ngài quyết tâm chấn chỉnh Bộ Nhạc theo Thánh ý của Ðức CHÍ TÔN và lời ủy thác của Ðức HỘ PHÁP.

Huấn luyện các Nhạc sĩ nơi Cơ Quan Phát Thanh về Cổ nhạc để bảo tồn quốc hồn quốc túy, viết bài Giáo lý, sáng tác văn nghệ khuyến tu, chấn chỉnh Văn đàn thi thơ.

Như chúng ta thường để ý thì Ðức Ngài ít tiếp xúc với Bổn Ðạo, là áp dụng đúng theo Ðạo nghị định thứ 9 của Ðức HỘ PHÁP và Ðức Quyền GIÁO TÔNG đề ngày 19 tháng 7 năm Quí Dậu (dl. 8/9/1933), nơi điều thứ nhất: Chức sắc Cửu Trùng Ðài từ phẩm ÐẦU SƯ, CHƯỞNG PHÁP, GIÁO TÔNG và Chức sắc Hiệp Thiên Ðài THƯỢNG SANH, THƯỢNG PHẨM, HỘ PHÁP chẳng đặng giao thiệp, hoặc tiếp rước những Chức việc và Tín đồ đến viếng, cùng là tư thông thơ từ chi mà không có Hội Thánh biết. Nên chi có một số không được hài lòng.

Tuổi già sức yếu, việc Ðạo lại quá đa đoan, nên chi Ðức Ngài khởi chứng mất ngủ, lần sang bịnh thận tiểu máu, rồi biến dần đến bịnh trạng huyết áp cao, nhưng nhờ sự chạy chữa tận tình nên Ðức Ngài đã dần dần bình phục. Nào ngờ chỉ một chứng cảm xoàng thôi, đã giúp Ðức Ngài thoát nơi trần lụy mà qui hồi Tiên cảnh.

Vào đầu năm 1964, trước cảnh cơ đời nghiêng ngửa, cửa Ðạo bị ảnh hưởng ít nhiều, khi Ðức Ngài về Sài Gòn thăm gia đình, Ðức Ngài đã sáng tác một bài thơ Tâm Sự gởi lên cho Ngài HIẾN PHÁP H.T.Ð. Chúng tôi xin trích lục nguyên văn bài thơ ấy như sau:

 

TÂM SỰ

  Chất mối sầu tư ruột nát bầm,
Thời thôi đành phải giả làm câm.
Thiệt thòi cam chịu mình đau xót,
Tranh cạnh để chi kẻ hiểu lầm.
Hắc bạch phú cho vầng nhựt nguyệt,
Thị phi chờ thoát bóng quang âm.
Sóng trần bể khổ mây mờ mịt,
Nghĩ nỗi gần xa lệ ứa dầm.
THƯỢNG SANH
tự HUỆ GIÁC

Con chim khi chết còn thốt tiếng kêu thảm thiết, con người trước khi thoát xác, để linh hồn hòa đồng cùng Tạo hóa thường cảm ứng; qua các bài sau cũng như bài giảng ngày 24 tháng 12 Canh Tuất và bài Huấn Từ nhân lễ khoản đãi Chức sắc và Ðạo hữu vào dịp đầu Xuân của Hội Thánh Cửu Trùng Ðài nhằm ngày 18 tháng Giêng Tân Hợi.

Mới hôm Rằm tháng 3 Ðức Ngài còn dự cúng Ngọ thời tại Ðền Thánh và cũng lo lắng công việc Ðạo như mọi khi, kế đến ngày 21 tháng 3, trước khi về Sài Gòn dưỡng bịnh, Ðức Ngài lại đi thăm các vị yếu nhân trong Ðạo lần cuối cùng, Ðức Ngài nói cùng Ngài KHAI ÐẠO: Anh không đi Pháp là Thiên ý để Anh ở nhà lo công việc cho tôi.

Những ngày cuối cùng của Ðức Ngài tại Tòa Thánh, Ðức Ngài đã họa nguyên vận bài thơ "Giỗ Tổ HÙNG VƯƠNG" của Ngài HIẾN PHÁP, nguyên văn bài họa ấy như vầy:

  Việt chủng vì chưng rõ gốc nguồn,
Ðua nhau lễ giỗ Ðức HÙNG VƯƠNG.
Tiền nhân bố đức khai cơ nghiệp,
Hậu đại nhớ ơn dựng thổ cương.
Văn hiến tạo nền còn chói rạng,
Lạc Hồng roi giống há khinh thường?
Hiềm đang tranh chấp chia bờ cõi,
Cầu nguyện Bắc Nam hiệp nhứt phương.
HUỆ GIÁC

Ðức CHÍ TÔN đến khai Ðạo thì chi Ðạo do Ðức CAO THƯỢNG PHẨM làm cho nổi bậc ánh Ðạo mầu, bứng chồi phá gốc vai tuồng vừa xong thì Ðức Ngài Qui Tiên.

Kế thời kỳ chấn hưng Ðạo pháp, Ðức HỘ PHÁP cầm quyền chi Pháp, Pháp luật đâu vào đấy được nghiêm minh, tạo qui củ chuẩn thằng cho cả Hội Thánh, gầy dựng khối đức tin cho nhơn loại, Ðạo có tiếng vang khắp năm châu bốn bể, tôn chỉ của Ðạo Ðức Ngài phát huy vừa xong thì Ðức Ngài Qui Thiên.

Tiếp tục vai tuồng chi Thế do Ðức THƯỢNG SANH cầm quyền, Ðời loạn chi Thế nắm quyền đã đúng Thiên cơ dĩ định, nguồn gốc của sự loạn là tham dục, thời kỳ Ðức Ngài cầm quyền nhận xét rõ ra thì chính Ðức Ngài đã đè nén tham dục con người không dấy động. Ðức CHÍ TÔN dạy: "Quỉ vương chỉ kiên oai HỘ PHÁP, THƯỢNG PHẨM và THƯỢNG SANH mà thôi".

Ðức Ngài thường chỉ dùng hai bút hiệu là HUỆ GIÁC và THANH THỦY để ký các sáng tác phẩm của Ðức Ngài.

Ðể kết luận, chúng tôi xin lấy đôi liễn Ðức THÁI THƯỢNG đã cho Ðức THƯỢNG SANH (Thanh Thủy) như sau:

- THANH BẠCH VẸN LÒNG VÌ TRỜI MỞ ÐẠO VỮNG PHONG CƯƠNG
- CHÁNH TRỰC GÌN TÂM CẢI THẾ DÌU NHÂN LÒA BÍCH THỦY.

(Hai câu đối nầy do Ngài BẢO SANH QUÂN Lê Văn Hoạch nói ra ghi lại).

Nghiệp Ðạo đến thất ức niên, nhơn tài còn lắm, trước qua sau tới, bảo thủ cây cờ Ðạo được rạng rỡ năm châu, khắp cùng thế giới là sứ mạng của người Tín hữu Cao Ðài.

Tận tụy với Ðạo nghiệp của CHÍ TÔN, gian nguy chẳng quản, bần khó không đổi chí, đức MINH CANG LIÊM KHIẾT luôn vằng vặc như trăng Thu, lo Ðạo hơn lo cho thân mình, thân thể của mình gắn liền với Ðạo.

Ðược vậy là chúng ta đã đền đáp công ơn của chư vị tiền bối nói chung và Ðức Thượng Sanh nói riêng đã dầy công khai sáng nền ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ và cũng là để báo hiếu cho CHÍ TÔN, PHẬT MẪU./.

(Trích Ðặc San Thông Tin số 28, ngày 19/5/1971)

 


 

ÐỨC THƯỢNG SANH
VỀ CƠ SAU KHI ÐĂNG TIÊN

Phò loan:  
  HIẾN PHÁP - KHAI ÐẠO  
Hầu đàn:  

 

Ngài BẢO ÐẠO, HIẾN ÐẠO,
ÐẦU SƯ, Bà NỮ ÐẦU SƯ
và chư Chức Sắc Hiệp Thiên,
Cửu Trùng, Phước Thiện
và Ðạo hữu Nam Nữ...
ÐÀN CƠ TẠI CUNG ÐẠO ÐỀN THÁNH
Hồi 20 giờ đêm 27 tháng 3 Tân Hợi
(dl. 22/4/1971)
Hầu Bút:
  Truyền Trạng Lê Minh Khuyên,
Giáo hữu Thượng Tám Thanh.

THƯỢNG SANH

Chào mừng chư Chức Sắc Thiên Phong, chư Ðạo Hữu Nam Nữ.

Bần Ðạo lấy làm vui sướng được thoát nơi trần lụy. Cái kiếp phù sanh của con người chỉ có giải thoát được là quí hơn hết.

Hôm nay Bần Ðạo đến để thỏa mãn sự yêu cầu của quý vị.

Bần Ðạo không có điều gì hay hơn là bài Thi đã cho lúc Bần Ðạo tái thủ phận sự, nhưng xin sửa lại hai câu đầu như vầy:

 

THI

  Từ lúc đưa tay nắm Ðạo quyền,
Nguyện đem thi thố tấm trung kiên.

Kỳ dư đều để y như cũ.

Bần Ðạo còn rất nhiều Ðạo sự không tiện ở lâu. Xin kiếu.

THĂNG.

 

 

BÀI THÀI

  Từ lúc đưa tay nắm Ðạo quyền,
Nguyện đem thi thố tấm trung kiên.
Ðộ đời quyết lánh vòng danh lợi,
Trau chí tìm roi bậc Thánh hiền.
Từ ái làm nền an thổ võ,
Ðức ân dụng phép tạo nhơn duyên.
Những mong huệ trạch trên nhuần gội,
Sứ mạng làm xong giữ trọn nguyền.

THƯỢNG SANH

Ðàn cơ kết thúc vào lúc 21 giờ trong đêm.

(Những ngày tiếp theo sau, Hội Thánh đã cho phổ biến Ðàn cơ nầy, có khoảng 20.000 bản quay Ronéo phát không cho Bổn Ðạo dự Thánh tang...)

 


 

BẢN TUYÊN DƯƠNG CÔNG NGHIỆP
Ðức THƯỢNG SANH
Chưởng Quản Hội Thánh HIỆP THIÊN ÐÀI

Của Ngài Hiến Pháp Hiệp Thiên Ðài đọc tại Ðền Thánh ngày 4/4/Tân Hợi

***

Kính thưa Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,

Kính chư Chức sắc, Chức việc và toàn Ðạo Nam, Nữ.

Ðức THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG, CHƯỞNG QUẢN HỘI THÁNH HIỆP THIÊN ÐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH đã qui Thiên hồi 17 giờ ngày 26 tháng 3 Tân Hợi (21/4/1971), hưởng thọ 71 tuổi.

Tin buồn nầy làm chấn động cả các giới trong toàn quốc nói chung và toàn Ðạo Cao Ðài nói riêng.

Thánh thể của Ðức Ngài đang quàn tại Tòa Thánh Tây Ninh chờ đến ngày mùng 6 tháng 4 Tân Hợi, nhằm 30/4/1971(dl.) sẽ cung nghinh Liên Ðài kỵ Long Mã di chuyển theo lộ trình trong châu vi Tòa Thánh và sau khi đại diện các Hội Thánh đọc ai điếu xong, lễ cung nghinh Liên Ðài nhập Bửu Tháp sẽ cử hành y theo chương trình của Hội Thánh đã lập mà toàn Ðạo đều hiểu biết.

Nhơn cuộc lễ nầy tôi xin tuyên dương công nghiệp của Ðức Ngài về cả hai phương diện Ðạo lẫn Ðời.

Về mặt Ðời:

Ông CAO HOÀI SANG (tên họ của Ðức Ngài) sanh ngày 11 tháng 9 năm 1901 (dl.) tại Thái Bình (Tây Ninh) con của Ông Cao Hoài Ân, giúp việc Tòa án và Bà Hồ Thị Lự. Khi trưởng thành và thi đậu bằng Thành Chung trường Trung học Chasseloup-Laubat, Ông vào giúp việc Sở Thương Chánh Sài Gòn cho đến khi gặp Ðạo.

Nói đến Ông ai ai trong giới công chức và đồng bào tại Thủ Ðô đều hiểu rõ thanh danh của Ông là một nhà công chức đúng mực thanh liêm.

Là một chí sĩ thương dân yêu nước, Ông thường giao du cùng các bạn đồng chí khác như hai Ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc chẳng hạn. Cả ba Ông là nhạc sĩ lừng danh trong giới âm nhạc tại Thủ Ðô Sài Gòn, hai Ông Cư và Sang được coi như bậc Thầy trong giới nầy, sau khi Ông Cư đăng Tiên rồi, thì Ông Sang được coi như bậc HẬU TỔ. Ban Âm nhạc Ðạo Cao Ðài đã nhờ Ðức Ngài chấn chỉnh rành mạch thêm, nhứt là trong điệu Cổ nhạc vì Ðức Ngài là nhà điêu luyện rành nghề. Mất Ðức Ngài, giới Âm nhạc trong toàn quốc nói chung và trong Ðạo Cao Ðài nói riêng đã mất một Nhạc sư cự phách, đáng tiếc thay!

Về mặt Ðạo:

Ðến năm Ất Sửu (1925) là lúc phong trào Xây bàn hay sai ma cũng vậy, đang thạnh hành tại Thủ Ðô Sài gòn, Ông hiệp cùng hai Ông CAO QUỲNH CƯ và PHẠM CÔNG TẮC mỗi đêm đến chơi tại nhà Ông Cao Quỳnh Cư, tức CAO THƯỢNG PHẨM để thỏa mãn tánh hiếu kỳ của mình bằng cách xây bàn để tiếp xúc với những người khuất mặt ở thế giới bên kia (hồn linh).

Một hôm nọ vào lúc tháng 7-1925, Ông CAO QUỲNH CƯ đến nhà Ông CAO HOÀI SANG chơi lại gặp Ông PHẠM CÔNG TẮC cũng ở gần nhà Ông SANG, ba Ông mới hiệp nhau xây bàn chơi.

Bất ngờ cuộc chơi nầy hướng dẫn ba Ông đến chỗ lập được kỳ công trong việc khai sáng Ðạo Trời, tức là ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ mà chúng ta sùng bái đây.

Ðêm 24 tháng Chạp 1925 (dl.) nhơn dịp lễ Giáng Sinh, tại nhà Ông CAO QUỲNH CƯ có mặt cả ba Ông được Ðức CHÍ TÔN giáng với danh hiệu A Ă Â cho một bài thi như vầy:

  "Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên".

Ðức CHÍ TÔN dạy thêm: "Ðêm nay phải vui mừng vì chính ngày nay, Ta xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây (Europe).

Ta rất vui lòng mà đặng thấy đệ tử kính mến Ta như vầy.

Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta.

Giờ ngày gần đến, đợi lịnh nơi Ta.

Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa".

Sau đó ít lâu Ðức CHÍ TÔN cho bài thi sau nầy, lấy tên những người có mặt tại Ðàn Cơ, trong đó có tên Ông SANG (tức Ðức THƯỢNG SANH):

  CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành.
HẬN ÐỨC TẮC CƯ thiên địa cảnh,
HƯỜN MINH MÂN đáo thủ đài danh.

12 chữ lớn trong ba câu trên là tên của 12 môn đệ đầu tiên của Ðức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ.

Sở dĩ phải xen đoạn Ðạo sử nầy vào cuộc đời của Ðức THƯỢNG SANH là vì Ông còn đang giúp việc trong công sở nhà nước Pháp mà Ông vẫn nghe theo tiếng gọi Thiêng Liêng cứ mỗi đêm hiệp cùng các bạn Ðạo đi chấp cơ truyền bá Ðạo Trời ở khắp mọi nơi mặc dù nhà cầm quyền Pháp rất để ý đến Ðạo Cao Ðài lúc sơ khởi. Chúng ta nên nhớ rằng: Ðức THƯỢNG SANH là một tay chấp cơ truyền Ðạo cũng như Ðức HỘ PHÁP và Ðức THƯỢNG PHẨM luôn luôn cả ba Ông đồng tâm hiệp lực nhau để phổ độ chúng sanh trong toàn quốc.

Trong tờ khai Ðạo cùng Chánh quyền Pháp năm 1926, Ðức Ngài cũng ký tên với 28 người khác để thay mặt cho tất cả 247 người Ðạo Hữu có tên trong Tịch Ðạo, do ông cựu Thượng nghị viện LÊ VĂN TRUNG đứng đầu tờ khai Ðạo, Ông nầy sau đắc phong QUYỀN GIÁO TÔNG ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ. Ông nầy cũng do Ðức HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Ðức THƯỢNG PHẨM CAO QUỲNH CƯ và ÐỨC THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG dẫn độ.

Nhờ sự hướng dẫn đắc lực của Ông Thượng Nghị Viên nầy với sự cộng tác của ba vị kể trên mà cơ phổ độ phát triển quá mau lẹ, kỳ công nầy, một phần lớn là nhờ Ðức THƯỢNG SANH hy sinh đời công chức mình để đi phổ độ các nơi trong toàn quốc. Cơ phổ độ lục tỉnh phân ra như sau:

1) Ông CAO QUỲNH CƯ và PHẠM CÔNG TẮC phò loan phổ độ trong các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá.

2) Ông NGUYỄN TRUNG HẬU và TRƯƠNG HỮU ÐỨC phò loan phổ độ các tỉnh: Chợ Lớn, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre.

3) Ông CAO QUỲNH DIÊU và CAO HOÀI SANG phò loan phổ độ các tỉnh: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Gia Ðịnh, Biên Hòa, Bà Rịa, Sa Ðéc.

Ngoài công việc phò cơ phổ độ các tỉnh kể trên, Ðức THƯỢNG SANH còn tùy lúc rảnh ban đêm, lên Gò Kén, chùa Từ Lâm để hiệp cùng Ðức HỘ PHÁP và Ðức THƯỢNG PHẨM để chấp cơ phổ độ và đồng thời lo việc Khánh Thành Thánh Thất Từ Lâm Tự, sau nầy được dời về làng Long Thành, tức Tòa Thánh hiện giờ.

Ngày 26 tháng 10 năm Bính Dần Ông CAO HOÀI SANG, đắc phong THƯỢNG SANH một lượt với Ðức HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC và Ðức THƯỢNG PHẨM CAO QUỲNH CƯ. Ngày 12 tháng 1 năm Ðinh Mão (dl. 13/2/1927) sau khi lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Ðài, Ðức CHÍ TÔN giáng dạy như vầy:

"Hiệp Thiên Ðài là nơi Thầy ngự, cầm quyền Thiêng liêng mối Ðạo, hễ Ðạo còn thì Hiệp Thiên Ðài vẫn còn.

Thầy đã nói Ngũ Chi Ðại Ðạo lại qui phàm vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra Phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh giáo cho tay Phàm nữa.

Lại nữa, Hiệp Thiên Ðài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên thế giái, Lục thập bát địa cầu, Thập điện Diêm cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại

Thầy đã nói sở dụng Thiêng Liêng, Thầy cũng nên nói sở dụng phàm trần của nó nữa.

Hiệp Thiên Ðài dưới quyền HỘ PHÁP Chưởng Quản,

Tả có THƯỢNG SANH,

Hữu có THƯỢNG PHẨM.

Thầy lại chọn Thập Nhị Thời quân, chia ra làm ba:

Phần của HỘ PHÁP Chưởng Quản CHI PHÁP;

Lo bảo vệ Luật Ðời và Luật Ðạo, chẳng cho ai qua Luật mà Hiệp Thiên Ðài chẳng biết. THƯỢNG PHẨM thì quyền về phần Ðạo: Lo về phần Ðạo nơi Tịnh Thất, mấy Thánh Thất đều xem sóc chư môn đệ Thầy, bênh vực chẳng cho ai phạm luật đến khổ khắc cho đặng.

THƯỢNG SANH thì Chưởng Quản CHI THẾ lo về phần Ðời.

Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành Ðạo. Thầy cho các con biết trước rằng, hễ trọng quyền thì ắt có trọng phạt".

Từ đây về mặt hữu hình ba vị Chưởng Quản tối cao của Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài không còn nữa, sau khi Ðức THƯỢNG SANH Qui Thiên, và Ðạo CAO ÐÀI mất thêm một bậc vĩ nhân nữa.

Từ khi trở về tái thủ phận sự nơi Tòa Thánh, Ðức THƯỢNG SANH đã tìm đủ mọi phương pháp để đem lại sự điều hòa trong cửa Ðạo cho toàn Ðạo được hưởng thái bình hạnh phúc.

Những tưởng Ðức Ngài đến với sứ mạng Thiêng Liêng để hoàn thành cơ nghiệp Ðạo, thì chắc là Ðức Ngài phải được sống lâu với Bổn Ðạo để bảo tồn đại nghiệp Ðạo đến cùng.

Nào ngờ đâu! Ta muốn vậy mà Trời chưa cho vậy.

Than ôi! Thiên số nan đào! Tuy sự mất còn là định mệnh, nhưng đối với kiếp sanh của con người sao khỏi đau lòng lúc tử biệt sanh ly.

Kính thưa quý vị!

Chúng ta đã từng khóc nhiều rồi cho số kiếp ngắn ngủi của nhiều bậc Tiền bối chúng ta. Tuy nhiên chúng ta cứ khóc đi cho đến cạn khô giọt lệ, rồi cũng phải nghĩ lại Ðạo nghiệp, nước nhà mà tự trấn tỉnh lấy tâm hồn, để tìm phương bảo tồn đại nghiệp Ðạo và tiếp tục sứ mạng Thiêng Liêng của chúng ta, vì sứ mạng ấy dầu lớn dầu nhỏ, dầu quan trọng hay không cũng là sứ mạng do Ðức CHÍ TÔN cùng các Ðấng Thiêng Liêng giao phó cho chúng ta, phải tùy khả năng mình mà làm cho hoàn thành.

Ðã đành rằng chúng ta phải thương tiếc một Ðấng lãnh đạo anh minh như Ðức THƯỢNG SANH, nhưng thương tiếc bao nhiêu thì phải noi gương của Ðức Ngài bấy nhiêu để gặt hái được một phần công quả nào hữu ích cho Ðạo và cho chúng sanh nhờ. Ðó là sự đền đáp công ơn của bậc tiền bối chúng ta đã dầy công xây dựng, lưu lại một sự nghiệp vĩ đại cho chúng ta thừa hưởng. Chớ không lẽ ngồi khóc hoài để nhìn sự sụp đổ trước mặt chúng ta sao?

Vậy chúng ta hãy đứng lên! Và đồng tâm hiệp lực, tiếp tục xây đắp nền Ðạo cao thêm mãi để khỏi phụ ơn của tiền nhân chúng ta.

Trước khi dứt lời, tôi xin thành tâm cầu nguyện Ơn Trên ban phước lành cho toàn thể quý vị và quý quyến, tôi xin nghiêng mình trước Liên Ðài của Ðức THƯỢNG SANH, và thành tâm cầu nguyện cho Anh linh Ðức Ngài được cao thăng, sau nữa xin chơn thành phân ưu cùng tang quyến./.

Nay kính.

HIẾN PHÁP H. T. Ð.

 


 

ÐIẾU VĂN của NGÀI HIẾN ÐẠO

Ðại diện HỘI THÁNH HIỆP THIÊN ÐÀI
Ðọc trước LIÊN ÐÀI ÐỨC THƯỢNG SANH

***

Kính thưa Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện.
Kính thưa Quý Ðại diện Tôn giáo,
Kính thưa Quý Quan khách,
Kính thưa Quý vị Chức sắc, Chức việc và chư Tín hữu Nam Nữ.

Trời Tây Ninh, mây áng sao mờ,
Vùng Thánh Ðịa, hoa sầu cỏ úa.
Bốn mươi sáu năm tuổi Ðạo,

Ðức THƯỢNG SANH cỡi hạc qui Thiên.

Ðã biết sanh là ký tử là qui, lại có câu tử sanh hữu mạng, nhưng ai còn ở thế, còn mang xác trần, gặp cơn vĩnh biệt ngàn năm, sao cho khỏi bồi hồi trong dạ, vừa thấy đó, bỗng đâu mất đó, hình bóng còn đây mà người hãy về đâu?

Nhớ xưa, Ðức THƯỢNG SANH cũng như hầu hết các anh em trong Thập Nhị Thời Quân đều là công chức, hằng ngày phải đi làm việc để nuôi lấy gia đình. Mặc dầu Ðức CHÍ TÔN đã chọn lọc từng người, nhưng ai cũng như ai, còn nặng nợ trần, nên Ðức Ngài cũng không làm gì khác hơn là, vừa làm việc Ðạo vừa lo gia đình, chưa có thể ly gia cắt ái, chuyên lo việc Ðạo, tách rời gia đình được. Trải bao nhiêu năm dài đăng đẳng, Ðạo có những lúc thăng trầm, những hồi biến cố, những cơ thử thất, Ðức Ngài vẫn giữ một niềm tin tưởng mãnh liệt, bền dạ sắt son, trước sau như một.

Ngày lụn tháng qua, tuổi xế bóng chiều, Ðức Ngài xin về trí sĩ, an dưỡng cảnh nhàn, vui thú cầm thi. Nhưng Lòng người dầu muốn, Trời nào đã cho.

Ðạo gặp phải cơn khảo đảo trầm trọng, khuynh nguy như con thuyền chơi vơi mặt biển, giữa sóng ba đào. Ðức HỘ PHÁP lưu vong nước ngoài. Tín hữu Cao Ðài trong vùng Thánh địa không người lãnh đạo, chiu chít như gà.

Ðức THƯỢNG SANH về hưu chưa được bao lâu, chưa mảy may hưởng thú thanh nhàn, nghe tiếng gọi Thiêng Liêng, nguyện hy sinh, xả thân hành Ðạo, quyết ra tay lái con thuyền qua cơn sóng gió. Ấy là hồi đen tối nhứt của ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH. Rất may thay! Khi nên Trời cũng chìu người, Ðức Ngài mạnh dạn đứng ra cứu vãn tình thế rối ren, vẹt lối chông gai, đánh tan đám mây mù, chuyển họa vi cường, Ðạo mới qua khỏi cơn bỉ cực. Trong 14 năm công nghiệp, Ngài tiếp tục công trình chư Thánh, cầm giềng mối Ðạo dìu dắt nhơn sanh trên bước đường lập công bồi đức. Chí cương quyết làm tròn nghĩa vụ, không có gì lay chuyển tấm trung kiên. Ðức Ngài rất thận trọng, dè dặt từ lời nói đến việc làm, việc gì cũng xem xét tỉ mĩ, kỹ cang trước khi thi thố. Ðối đãi với mọi người giữ niềm hòa ái, bao giờ cũng lấy lòng thành thật, cung kỉnh, dùng lời nói dịu hiền, không chê bai cũng không khinh rẻ ai, lấy từ ái, vun trồng cội đức, dụng nghĩa ân để tạo duyên lành.

Những tưởng người dường ấy, đức dường ấy, Ơn Trên còn lưu lại trần gian để gần gũi chúng ta, khuyến khích và chỉ bảo chúng ta trên bước đường tu học. Nào dè đâu, cõi Thánh sớm gọi về làm cho chúng ta phải xa lìa người hướng dẫn.

Kính bạch Ðức THƯỢNG SANH,

Hôm nay, Ðức Ngài đã làm xong sứ mạng được đắc kỳ sở nguyện, nhờ ơn trạch Ðức CHÍ TÔN. Cửa Ðạo rày vắng bóng Ðức Ngài, nhưng Ðức Ngài vẫn sống trong tâm hồn của muôn vàn Tín hữu! Ðức Ngài mất cũng như còn.

Trong giờ phút nghiêm trọng nầy, chúng tôi thay mặt Hội Thánh Hiệp Thiên nghiêng mình trước Liên Ðài để vĩnh biệt Ðức Ngài an giấc ngàn thu.

Sau cùng chúng tôi thành thật chia buồn cùng tang quyến.

NAM NÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

 


 

ÐIẾU VĂN của NGÀI ÐẦU SƯ

CHƯỞNG QUẢN CỬU TRÙNG ÐÀI NAM PHÁI
thay mặt Hội Thánh Cửu Trùng Ðài, đọc trước
LIÊN ÐÀI ÐỨC THƯỢNG SANH.
Tại Bửu Tháp hồi 12 giờ ngày mùng 6 tháng 4 Tân Hợi
(dl. 30/4/1971)

 

Kính thưa Hội Thánh Lưỡng Ðài: Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Phước Thiện,
Kính Quý Ðại diện Tôn Giáo,
Kính Quý Ngoại giao đoàn,
Kính Quý Quan, Quý Khách,
Kính Quý Chức sắc, Chức việc, Ðạo Hữu Lưỡng phái,
Kính Tang gia hiếu quyến,
Kính Quý liệt vị,

Hôm nay ngày mùng 6 tháng 4 Tân Hợi (30/4/1971) Thánh Lễ Liên Ðài Ðức THƯỢNG SANH nhập Bửu Tháp được cử hành vô cùng trang nghiêm, trọng thể.

Nhân danh ÐẦU SƯ Chưởng Quản Cửu Trùng Ðài Nam phái thay mặt Hội Thánh Cửu Trùng Ðài tôi xin nghiêng mình bái kỉnh trước Liên Ðài Ðức Ngài và có đôi hàng thành tâm ai điếu chia buồn cùng Tang quyến, và để tiễn đưa Ðức Ngài qui hồi Tiên cảnh.

Hỡi ôi!!!

Biển Phật mưa tuôn!
Non Tiên gió thoảng!
Cuộc dương thế sanh sanh, hóa hóa,
Kiếp trần gian hiệp hiệp, tan tan,
Ðò Tạo hóa rước đưa người quá vội,
Ôi! Cảnh biệt ly chi xiết mối sầu tư,
Tình đồng Ðạo biết bao niềm thống thiết.

Nhớ linh xưa;

Ðức THƯỢNG SANH thế danh CAO HOÀI SANG, gia đình nề nếp, tánh đức hiền lương, lòng công bình trên dưới ngợi khen, tâm chánh trực tha nhân đều sùng kính.

Khi gặp buổi sanh linh đồ thán, cảnh nước nhà điêu đứng khuynh nguy, lòng Ðức Ngài cương quyết chọn đường đi, theo nẻo Ðạo, quên thế đời vật chất.

Với thiên tính thiện lương, ôn hòa, đức độ.

Lòng thương đời như bể rộng, ái vật tợ sông sâu, nuôi chí lớn nguyện bắc cầu cứu nhân độ thế.

Ðêm ít ngủ ngày chẳng buồn ăn, những tìm phương cứu nước, giúp dân, lòng mong mỏi giải nàn sanh chúng.

Hoài bão lớn, lý tưởng cao siêu, nhưng ngặt nỗi không cơ thực hiện.

Nỗi đau cắt ruột,

Niềm ái rạt rào,

Bóng thời gian chớp nhoáng qua mau.

Tâm sự vẫn ủ màu chua xót.

Năm Ất Sửu (1925) hiệp cùng Ðức HỘ PHÁP và Ðức THƯỢNG PHẨM chung lập Ðàn Cơ, quyết cầu Tiên học hỏi đường tu, hầu cứu vớt nhơn sanh qua bờ Bỉ ngạn.

Việc làm tuy không dè, nhưng xuất bởi chí thành, nên đã trùng hợp với Thiên ý; thuận với Thiên thơ, Ðức CHÍ TÔN liền giao phó trọng trách hoằng khai ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ, lo cứu vớt 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị.

Thế rồi, trong các Ðàn Cơ kế tiếp, Ðức Ngài được Thiên phong phẩm THƯỢNG SANH, Chưởng Quản Chi Thế Hiệp Thiên Ðài, chấp Cơ phổ độ chúng sanh, rồi mãi đến năm Ðinh Dậu (1957) Ðức Ngài được Hội Thánh mời về cầm giềng mối Ðạo, Ðức Ngài đã đem hết chí nhiệt thành gìn giữ Ðại nghiệp, một phút chẳng lãng xao, lòng quyết dù tròn Thiên mạng. Trải bao cảnh biến thiên, quốc gia gặp hồi gió lốc, Ðức Ngài đã lèo lái thuyền từ một cách vững vàng và bảo toàn được con cái Ðức CHÍ TÔN qua những hồi gian truân thử thách. Ðức khiêm tốn của Ðức Ngài sáng ngời như nhựt nguyệt, khi thành công không tự mãn, lúc trở ngại chẳng sờn lòng, một mực trì chí kiên tâm trước sau như nhứt.

Vì Ðạo Thầy hiến trọn thân tâm,
Dù thịt nát xương tan chẳng ngại,
Mười lăm năm lận đận lao đao,
Chịu trăm đắng ngàn cay không đổi.
Lời thị phi gác bỏ ngoài tai,
Tiếng phải trái không màng bày giải.
Nên ngọc dầu tan, vẻ trắng nào phai,
Vườn trước dầu cháy, tiết ngay vẫn để.

Ðức Ngài triều Thiên hồi 16 giờ 45 ngày 26 tháng 3 Tân Hợi (dl. 21/4/1971), hưởng thọ 71 tuổi, gieo vào lòng Hội Thánh và toàn Ðạo một nguồn bi thương dào dạt như muôn lượn sóng trùng dương.

Than ôi! Ðất Tây Ninh giăng phủ mây sầu,
Vùng Thánh Ðịa bao trùm gió thảm.
Những tưởng tuổi Ngài còn hưởng thọ,
Nào hay đâu sớm vội về Tiên,
Ðể Ðạo hữu bơ vơ chiu chít.
Ôi! Bát Nhã thuyền chờ,
Bồng lai cảnh đợi.
Thảm là thảm mười lăm năm lo Ðạo,
Bỏ ngủ, quên ăn, khiến bịnh phát sanh.
Thương là thương bảy mươi mốt tuổi già,
Tóc đã bạc mà Ðạo tâm không mỏi.

Từ đây nơi cửa Ðạo tuy vắng bóng Ðức Ngài, nhưng bước Ðạo xin có Thánh tay Ngài dìu dắt, chiếc thuyền từ thuận gió lướt dòng khơi, nền Ðại Ðạo sớm hoằng khai khắp trong bốn bể.

Giờ đây!

Mây phủ trăng lờ, sao sa đêm tối.
Kinh Bạch Ngọc Ngài về chốn cũ,
Giấc chiêm bao vắng bóng ngàn năm,
Chốn hồng trần đồng Ðạo còn đây,
Sầu ly biệt chia lòng trăm mối.
Ðường Tiên Ðạo xin Ngài chỉ lối,
Dìu đàn em vững bước trọn niềm tin.
Lo lập đức bồi công trở về ngôi vị cũ.
Thật trước cảnh nầy,
Âm dương lưỡng lộ, Tiên tục đôi đường,
Não nùng thay toàn Ðạo thở than, thống thiết bấy Tín đồ tang chế.
Người tuy mất, nhưng phương danh không mất,
Xác dù tan, nhưng chí cả không tan,
Máy Tạo còn, Ðại Ðạo vẫn còn,
Xin bảo hộ cơ nghiệp nầy bền vững,
Nguyện linh hồn an bước Tiên du,
Chầu Ðế Khuyết nghìn thu toại hưởng.
Hỡi ôi! Thương thay! Tiếc thay!

Hiển linh chứng chiếu!

CHƯỞNG QUẢN CỬU TRÙNG ÐÀI NAM PHÁI
ÐẦU SƯ
THƯỢNG SÁNG THANH

 


 

ÐIẾU VĂN của ÐỨC BÀ NỮ ÐẦU SƯ

Ðọc trước LIÊN ÐÀI ÐỨC THƯỢNG SANH

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Quý Quan khách và Ðại diện các Tôn giáo,
Kính toàn thể Chức việc, Ðạo hữu lưỡng phái,
Kính tang gia hiếu quyến và thân bằng.
Kính thưa toàn thể Quý liệt vị,

Ðứng trước Liên Ðài Ðức THƯỢNG SANH Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, trước một đại tang của toàn thể môn sinh Ðức CAO ÐÀI NGỌC ÐẾ, Bần Nữ nhân danh đại diện cho Nữ phái Cửu Trùng Ðài, xin có đôi lời trạng tỏ lòng luyến tiếc xót thương một Chức Sắc Ðại Thiên phong, từ lúc nền Ðạo mới phôi thai, đã vì Thầy vì Ðạo, vì thương xót chúng sanh, nên từ năm Ất Sửu (1925) đã khổ công hiệp sức cùng Ðức HỘ PHÁP và Ðức THƯỢNG PHẨM, tạo dựng nền Chánh giáo làm tướng soái cho Ðức THƯỢNG ÐẾ giáng cơ dạy Ðạo, hầu cứu vớt sanh linh đang đắm chìm nơi sông mê bể khổ.

Nhớ thuở ban đầu, Ðức THƯỢNG SANH đã cùng với hai Ông HỘ PHÁP, THƯỢNG PHẨM hiệp nhau xây bàn, vọng Thiên cầu Ðạo, cho đến khi có lịnh trên chỉ dạy sử dụng Ngọc Cơ, rồi thọ lịnh chia nhau phổ độ khắp Lục tỉnh, cùng đứng tên Khai Ðạo với Chánh phủ Pháp vào ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần (dl. 29/9/1925). Nhứt nhứt mọi việc khó khăn trong buổi ban đầu, đều có tay của Ðức THƯỢNG SANH hiệp sức chung lo nền Ðạo.

Ðức CHÍ TÔN đã ra Thánh chiếu cho Ðức Ngài hiệp với Ông CAO QUỲNH DIÊU (Bảo Văn Pháp Quân) là cặp Phò loan cho CHÍ TÔN giáng cơ phổ độ chúng sanh vào cửa Ðạo tại các tỉnh: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Gia Ðịnh, Biên Hòa, Bà Rịa và Sa Ðéc. Ðến ngày Rằm tháng 3 năm Bính Dần (1926) được Ðức CHÍ TÔN phong THƯỢNG SANH cùng một ngày với HỘ PHÁP và THƯỢNG PHẨM.

Nhờ chí hy sinh khi ấy của Ðức Ngài, nhơn sanh mới được gội nhuần ân giáo hóa mà sớm gặp mối Ðạo Trời.

Ðến lúc sau nầy, khi thuyền Ðạo gặp buổi chinh nghiêng, Ðức HỘ PHÁP qui Thiên nơi Miên Quốc, nền Ðạo thiếu người lèo lái con thuyền Bát Nhã lắm chịu sóng dập gió dồi bao phen lắc lẻo, nhơn sanh không biết nương nơi đâu tìm cơ giải khổ, thì Ðức Ngài chẳng nệ khổ nhọc nguy nan, tái thủ Ðạo quyền, đưa tay giữ lái con thuyền Ðại Ðạo, lướt qua bao sóng to gió lớn, lần lần đem vào bến vinh quang, dẫn dắt chúng sanh an vui trên nẻo Ðạo cho đến ngày hôm nay đã trót 45 năm dư.

Nay bỗng nhiên Ðức Ngài vội trở về Tây vức, thật một tin sét đánh bất ngờ, là một niềm đau vô biên cho toàn thể Chức sắc đến chư Tín hữu trong cửa ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ.

Thật vậy đây là một cái tang chung cho toàn thể con cái của Ðức CHÍ TÔN. Quý liệt vị thử nhìn xem toàn Ðạo khi hay tin Ðức Ngài thoát xác, đều tự động về Tổ đình chầu lễ Qui Thiên và xin cùng Hội Thánh thọ tang Ðức Ngài, đủ nói lên tấm lòng mến tiếc xót thương Ðức Ngài như thế nào rồi.

Bần Nữ chỉ minh xác thêm một điều để Quý liệt vị nhận thức thêm, là:

Một nguyên căn thọ mạng NGỌC HƯ hạ trần cứu thế khi đã làm xong sứ mạng đắc lịnh triệu hồi, thì việc cổi bỏ xác trần vẫn được nhẹ nhàng qui hồi Tiên cảnh. Tuy Ðức Ngài có ngọa bịnh, nhưng đã giảm thuyên, Bần Nữ nhớ ngày 21 tháng 3 Âm lịch vừa qua Ðức Ngài có đến thăm Bần Nữ và khuyên Bần Nữ hãy rán tỉnh dưỡng để lo cho cơ Ðạo lớn lao, Ðức Ngài cho biết, Ðức Ngài về Sài Gòn ít hôm sẽ trở về Tòa Thánh, nào hay đâu đó là lời dặn bảo cuối cùng và là lần thăm chót của Ðức Ngài nơi cõi Thế đối với Bần Nữ.

Ðức Ngài đăng Tiên lẽ dĩ nhiên nơi cửa Ðạo từ đây vắng bóng hình, sao khỏi ngậm ngùi thương xót đau buồn, ấy là thường tình thế sự. Nhưng dầu đau xót buồn thương cũng phải nén tấc lòng, mừng cho Ðức Ngài đã giải thoát khỏi cảnh trần tục lụy, chỉ thành tâm cầu nguyện Ơn Trên hai Ðấng Từ Bi đưa linh phan tiếp rước Ðức Ngài càng cao thăng Thiên vị, hầu nơi cõi Thiêng Liêng đủ quyền năng xoay chuyển cơ đời sớm gội nhuần huệ trạch Trời ban, hạnh hưởng cảnh an cư lạc nghiệp, thoát khỏi vòng nghiệt chướng, chấm dứt đao binh, nhơn loại sớm hiệp Ðại Ðồng trong cảnh Trời Nghiêu Ðất Thuấn.

Kính thưa toàn Ðạo, kính thưa Tang quyến,

Trước cảnh sanh ly tử biệt, ai chẳng đau lòng, nhưng cái chết của Ðức Ngài đây chỉ là việc cổi bỏ xác trần, chớ chơn linh vẫn trường tồn nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Chúng ta có thương tiếc Ðức Ngài, không chi hơn là nhớ đến công ơn dạy dỗ, dắt dìu lẽ đạo, dẫn từ bước, nhắc từ lời, chỉ mong mỏi cho đàn em để trọn tấc lòng an vui bước Ðạo, hầu gội nhuần ân đức Từ bi.

Nhớ công ơn không chưa đủ, mà toàn Ðạo cũng như quý tang quyến, nên noi theo gương hạnh của Ðức Ngài nơi cửa Ðạo để lập chí cho đúng theo những lời dạy bảo của Ðức Ngài khi còn tại thế. Ấy là làm vui lòng Ðức Ngài nơi cảnh Thiêng liêng, mà rồi đây, nơi cõi vô hình với sứ mạng làm chủ Chi Thế Ðức Ngài sẽ đủ quyền năng cầu xin xoay chuyển cơ đời, phù hộ cho toàn Ðạo, Ðời, và sanh chúng sớm hưởng cảnh thái bình an cư lạc nghiệp.

Công nghiệp cũng như ân đức của Ðức Ngài không sao tả xiết, Bần Nữ chỉ tỏ lên mấy lời xin toàn Ðạo và Quý tang quyến gẫm suy.

Bần Nữ thay mặt cho toàn thể Nữ phái kính lời chia buồn cùng tang quyến, đây là lời phân ưu theo lẽ thế tình, chớ nơi cửa Ðạo là mừng Ðức Ngài đã xong phận sự tại thế. Thiên mạng đã tròn, nay được hưởng hồng ân chan rưới, là điều quí báu vô giá không chi sánh kịp.

Bần Nữ kính chào toàn thể Quý vị.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

CHƯỞNG QUẢN CỬU TRÙNG ÐÀI NỮ PHÁI
NỮ ÐẦU SƯ
HƯƠNG HIẾU

 


 

ÐIẾU VĂN của HỘI THÁNH PHƯỚC THIỆN

Ðọc trước Bửu Tháp Ðức THƯỢNG SANH
ngày 6/4/Tân Hợi (dl. 30/4/1971)

Kính bạch Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Quý Quan khách,
Kính Quý Ðại diện các Tôn Giáo,
Kính chư Chức sắc và toàn Ðạo Nam Nữ,

Ô hô!

Thiên tải vân du du.
Tam kỳ phong cấp cấp.
Lôi Âm Cổ vang rền nơi Thánh Ðiện,
Giục người về kịp buổi Triều Thiên.
Bạch Ngọc Chung chấn động cõi Trần ai,
Rước khách đến nhập cung Bạch Ngọc.
Sớm, đất Thánh giăng giăng mưa bụi,
Lướt thướt mảnh khăn sô.
Chiều, Trời Tây thảm thảm mây mù,
Lê thê màu tang tóc.

Nhớ Linh xưa!

Mấy mươi năm ngược xuôi miền hoạn lộ,
Ðủ kinh bang xây dựng quê hương.
Trọn một đời chen rắp chốn phồn hoa,
Dư tế thế chiêu an chủng tộc.
Nhất kiên Minh nguyệt quằn gánh đồ thơ,
Lưỡng tụ Thanh phong nặng bồ văn học.
Sanh gặp thời rối loạn thuần phong,
Sống phải lúc dẫy tràn bại tục.
Ngao ngán nhẻ, vết hồng trần cấu,
Vui mệnh Trời vui kệ vui kinh.
Nặng nề thay, đỉnh bạc lộc quan,
Buồn vận nước, buồn nghiên buồn bút.

Ô Hô!

Sông núi Tiên Rồng vẫn đó!
Nhơn sanh nhà cửa điêu tàn.
Cơ đồ Ðại Ðạo còn đây!
Ðền Ðiện nếp tòa ngang dọc.

Ngài bao nỡ!

Nương Ðài sen thẳng chốn Ðào nguyên.
Kỵ Long Mã dạo miền Tây vức.
Hay giận kẻ bất thành bất tín,
Lên Thiên tiên luyện phép trường sinh.
Hay ghét phường vô đức vô nhân,
Về Bạch Ngọc tấu trình quốc sự.
Hoặc buồn điều kiết hung họa phúc,
Luật huyền vi chưa thấy xử phân.
Hoặc hờn năm Hợi, Tuất, Dậu, Thân,
Quỉ chinh chiến vẫn còn thống ngự.

Mà Ngài vội!

Xếp đồ thơ bặt dấu trần ai;
Ném huệ kiếm đoạn trang Ðạo sử.

Ôi!

Nỗi bi thảm nhơn sanh khôn diễn bằng ngôn ngữ.
Mối ai hoài Chức sắc khó gợi hết thi thơ.
Thôi từ đây Tiên, Tục ngăn bờ,
Lã chã tuôn đôi giòng lụy cảm.
Âu hẳn đó tử, sanh gieo thảm,
Thắt quặn tan vạn mảnh lòng son.
Chữ nghĩa nhân chưa được vuông tròn.
Ðường Ðạo Ðức biết ai dìu dắt.
Thơ năm vận dở dang bình trắc.
Ðờn bốn dây nức nở cung thương.
Giòng Ngọc Tuyền ngan ngát hơi hương,
Phượng hoàng bay vút cánh!
Dãy Nho lâm tờ mờ phong cảnh,
Long Mã thảm lê chân.
Khách nguyên nhân vui nước trí non nhân.
Hồn linh hiển cầu xin về chứng giám.

Kính dâng một vần thơ:

Thoang thoảng nòi hương tập Ðại thành,
Loang trong Trần cấu hóa tinh anh.
Vạn mùi tục lụy xa Trung giới,
Tứ khổ trầm luân biệt THƯỢNG SANH.
Hoa vướng hài Tiên, vân diểm diểm,
Liễu vờn suối ngọc, thủy thanh thanh.
Hồn thơ nay lắng niềm u uất,
Thoang thoảng nòi hương tập Ðại thành.

Hởi Ôi!
Thương thay! Tiếc thay!

   
Chưởng Quản HỘI THÁNH PHƯỚC THIỆN
CHƠN NHƠN
(Ký tên đóng dấu)
LÊ VĂN TRUNG

 


 

ÐIỆN VĂN PHÂN ƯU
CỦA TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA

-ÐƯỢC TIN ÐỨC THƯỢNG SANH VỪA TỪ TRẦN,
TÔI VÔ CÙNG CẢM XÚC VÀ XIN CHUYỂN ÐẾN
QUÍ VỊ CHỨC SẮC TÒA THÁNH CÙNG TÍN HỮU
LỜI THÀNH THẬT CHIA BUỒN CỦA TÔI VÀ CỦA CHÁNH PHỦ.

KÝ TÊN:
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU

 


 

VĂN TẾ ÐỨC THƯỢNG SANH

của TUYẾT VÂN Mặc Khách
thay mặt MINH THIỆN ÐẠO và DIÊU TRÌ PHÁI (Sài Gòn)

Hỡi ôi!

Chòm mây bạc bao trùm chót đỉnh,
Trận giông tuôn, mây chập chùng bay;
Ðám sương mù che phủ cội cây,
Ánh nắng tỏa, mây tan tác rả,
Bóng quang âm vãng lai thắm thoát,
Kiếp phong trần nhìn rất đau lòng;
Vầng nhựt, nguyệt xoay chuyển không ngừng,
Kiếp phù thế nghĩ càng não dạ!
Công xây dựng, phô trương cũng lắm,
Khó lướt qua mầu nhiệm Trời cao;
Cuộc tạo gầy, tô điểm đã nhiều,
Nào qua khỏi diệu huyền Tạo hóa?
Những tưởng may mắn vui mừng nhìn Bạch Mai rực rỡ cảnh Ðông Xuân,
Nào dè lại rủi ro, thống thiết thấy Huỳnh Cúc phai tàn kỳ Thu, Hạ,
Ðời chinh nghiêng, người nhiệt thành, thiện chí sao bổng lìa thế tình cờ?
Ðạo rời rạc, bậc chơn thành, từ tâm lại đành tách trần vội vã.

Nhớ Linh xưa!

Nho nhã thái độ đáng gương,
Ðậm đà tác phong cao giá!
Lễ, Nghĩa tròn, tánh chất hể hồ trong,
Trí, Nhơn vẹn, tâm trung dường biển cả.

   
Trong gia đình, kỷ cương vẹn vẻ, đối thê nhi trọn hạnh lương nhơn,
Ngoài xã hội, trật tự điều hòa, cùng bằng hữu nêu gương tín giã
Giòng gia đạo, cang thường tròn xử, thương thê nhi giáo hóa bền lòng,
Mối xã giao, luân lý vẹn gìn, mến đạo hữu, tiếp giao thật dạ
Mùi vật chất, lưỡi kia từng trải nếm, ngán cuộc đời ít sự chơn thành,
Khối tinh thần, lòng nọ đẳng đeo mang, buồn tình thế nhiều cơn lộng giả.
Ngày qua, tháng lại, bước thênh thang tìm thú thanh nhàn,
Nay nhục, mai vinh, lòng phóng khoáng tránh vòng cương tỏa.
Lòng mộ Ðạo, đã kỉnh tin Ðại Ðạo, tụng Chơn Kinh Di Lạc, lẽ thật vẫn suy tầm,
Dạ thương đời sùng bái Ngọc Hoàng, nghiệm Hiệp Tuyển Thánh Ngôn, lý mầu hằng khám phá,
Lòng mến Ðạo, quyết bồi xong căn quả, trước Thiên Ðài đã thọ sắc Cha Trời.
Dạ chán Ðời, lo dứt sạch nghiệp duyên, nơi Toà Thánh quyết khuếch trương Ðạo cả.
Chiều kinh, sớm kệ, quyết cận kề Ðạo chánh, lý chơn,
Nay nhục, mai vinh, cam xa lánh danh cương lợi tỏa.
Ðạo thanh tịnh càng hòa trí tuệ, ẩn rừng thiền nương cội Từ bi,
Ðời phồn hoa không hạp tâm linh, lìa bể hoạn, lánh vòng xa mã.
Phế nhơn sự treo gương thanh bạch, tỉnh quần linh thoát cảnh Ái hà,
Tùng Ðạo Trời, chiếu ánh quang minh, đưa sanh chúng lên thuyền Bát Nhã.
Góp tư tưởng Ðại Ðồng thực hiện, Ðạo Cao Ðài tận tụy bao nài,
Ðem đức tin chơn giáo khai thông, Cơ Di Lặc lao công chi sá.
Ðời đương lúc phân vân Tâm, Vật, hiện tại mất THƯỢNG SANH biện bác sự thực, hư.
Ðạo gặp cơn nan giải Lý, Tình, tương lai không THƯỢNG SANH phân minh điều cao, hạ.
Tình tri kỷ, THƯỢNG SANH hằng biểu lộ, quyết liên tình mong cơ Ðạo hoát khai,
Nghĩa Ðại Ðồng, Bần Ðạo vẫn tạc ghi, đương hiệp chí, bổng kiếp đời tàn tạ!
Chơn truyền Minh Ðức phổ thông Ðạo lý, THƯỢNG SANH tán thành để làm sách khai thông,
Nhơn đạo thực hành truyền bá Nho Tông, Bần Ðạo hiệp dâng, hầu tạo nguồn thanh nhã.
Tai Chung Tử chực lắng tiếng diệu huyền, trầm mặc, giọng từ bi rất khoan nhặc êm đềm;
Ðờn Bá Nha khéo lên dây Lưu thủy, cao sơn, hơi bác ái càng dịu dàng tao nhã.
Bần Ðạo quyết giải bày ý kiến, nguồn Minh Ðức quyết đem truyền bá, rung chuông cảnh tỉnh, cố duy trì Ðạo Ðức nhơn sanh,
THƯỢNG SANH toan chấn chỉnh cơ quan, mối Tân Dân hằng cố bảo tồn, gióng trống giác mê toan thức tỉnh tinh thần thức giã

Nhưng hôm nay:

Bóng Nguyệt thố khuyết mờ,
Cánh Liên hoa rời rã!
Gia đình đó, thê nhi còn đó, THƯỢNG SANH đành xa lìa để hiu quạnh gia trung,
Toà Thánh kia, Ðạo hữu còn đây, THƯỢNG SANH vội rời tách bỏ lặng tờ Ðạo xá.
Truyền Ðạo lý, chương trình kia chưa kết liễu, THƯỢNG SANH sao đành bỏ dở cuộc thức tỉnh Ðời tàn?
Tạo Qui nguyên, công cuộc nọ sắp khởi đoan, THƯỢNG SANH sao nỡ buông lơi việc phổ thông Ðạo cả?
Ðạo sắp thành, nhân tài cần thắng số, sao bậc chí thành lại xa Ðạo lẹ làng?
Ðời chưa định, Hiền sĩ phải tăng gia, mà người chánh trực đành lìa đời nhanh quá!
THƯỢNG SANH còn đó, chỉnh giềng sửa mối, chốn Tổ đình phần Ðạo hữu vững vàng,
THƯỢNG SANH tách đi, ủ cội, yếu nguồn, nơi Giáo hội số môn sanh buồn bã!
Buồm Phổ tế, dây lèo ai nắm, giữ cho tròn nghĩa vụ chấn hưng,
Thuyền độ điều, tay lái ai nâng? làm đặng vẹn công trình cao nhã.

Ôi!

Nước chảy hoa trôi,
Gió tuôn, mây rả!
Trời Ðiện Bà, mây u buồn, vần vũ, Trời phủ che hồn phách bậc tâm trung,
Ðất Tây Ninh, cảnh hiu quạnh, im lìm, Ðất vội lấp mảnh hình người chí cả.
Nhà còn đó, vợ con còn đó, THƯỢNG SANH đành nhẹ bước đường Tiên,
Cảnh còn đây, dâu, rể vẫn còn đây, THƯỢNG SANH lại vội xa chơi cảnh lạ.
Bóng quang âm vi vút, trăm năm ôm hận biệt ly,
Hồn kim cổ mơ màng, gang tấc, không phương xướng hoạ.
Lầu Huỳnh Hạc, giọng Tiên đã đứt, ngón tơ đồng thôi trổi khúc tri âm,
Khe Bạch Nhàn, tiếng én nỉ non, duyên kim cải hết bày lòng thân giả.
Tiếc là tiếc buổi phong đồi, tục mỵ, vắng chuông ngân cảnh tỉnh cuộc mê say,
Hờn là hờn cơn Ðạo trể, Ðời suy, rơi bút sắt phê bình điều cao hạ.
Ðời đương cảnh phân vân Tâm, Vật, sao mà bớt người biện bạch thực hư;
Ðạo giữa cơn nan giải Lý, Tình, bổng lại mất bậc phân minh chơn giả.
Những ngỡ sống nhiều năm thêm nữa, để làm gương cho nghĩa bạn mến thương,
Nào hay vương một phút phi thường, đành biệt thế, để tình người não dạ.
Gia môn dạ tiệc, chén rượu đưa đường ly biệt, nghĩa chia phôi, người ra đi chơn bước ngập ngừng!
Ðạo xá trường đình, cành liễu tiển dặm quan hà, đành đoạn dứt, kẻ ở lại lệ rơi tầm tả!!
Nơi Tòa Thánh hoa sầu cỏ ủ, tuồng thê lương như hoài cảm THƯỢNG SANH mờ dạng đường xa,
Chốn Tổ đình mõ sớm, chuông chiều, cảnh buồn tẻ, dường cảm thông THƯỢNG SANH biệt hình cõi lạ.
Tiếng dế sầu đêm vắng tiếng não nùng như khóc điếu HỘ PHÁP ÐƯỜNG xưa, vì THƯỢNG SANH chẳng còn bước đến Thánh Tòa,
Hơi gió rít ngày buồn, hơi thảm thiết tợ than sầu HỘ PHÁP ÐƯỜNG cũ, bởi THƯỢNG SANH đã dứt sang qua bờ Ðạo xá,
Hay là lánh thế đồ khắc khổ, tròn quả công, xác thân vùi Thánh địa đời đời,
Chắc là tìm Lạc cảnh tiêu diêu, dứt sứ mạng, Chơn linh đáo Thiên đàng vội vã.
Nơi Kim Khuyết hầu trình Từ Phụ, cầu rỗi dùm Ðạo hữu kiếp căn,
Chốn Phật Ðài bái yết Như Lai, minh biện hộ nhơn sanh nghiệp quả,
Ba chung rượu cầu hồn về tịnh độ, vái chơn linh trực đáo cảnh tiêu diêu,
Một nén hương vái vía được siêu thăng, vái phách quế qui hồi miền Thiên xá.

Hỡi ôi! Thương thay!
Phục duy thượng hưởng.

   

Thay mặt MINH THIỆN ÐẠO
và DIÊU TRÌ PHÁI (Sài Gòn)

Huy lụy kỉnh điếu.

 


 

ÐÔI LỜI TRI NIỆM của GIÁO HỘI CAO ÐÀI
THỐNG NHẤT TRUNG ƯƠNG

Ðọc trước LIÊN ÐÀI ÐỨC THƯỢNG SANH
ngày 5/4 /Tân Hợi

***

KÍNH THƯA: Linh hồn ÐỨC THƯỢNG SANH,
Kiêm CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ÐÀI ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH.

Thưa Hội Thánh và tang quyến.

Giáo Hội CAO ÐÀI THỐNG NHẤT TRUNG ƯƠNG. Nhân danh Phó Chưởng quản đặc trách Hiệp Thiên Ðài, đứng trước Linh sàn nghiêng mình tỏ đôi lời hoài niệm, trong khi Linh hồn của Ðức Ngài đã trở về ngôi vị.

THƯA ÐỨC NGÀI: CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ÐÀI.

Thuyền Ðại Ðạo sắp đến bến qui nguyên, Ðức Ngài là người Anh Cả tiếp tục đầy sáng suốt hiện thân Ðức Ðông phương tại thế, để tiếp xúc huyền linh mà lập nền Chánh pháp, hầu bảo tồn cơ phổ hóa. Vì có câu:

HỄ ÐẠO CÒN THÌ HIỆP THIÊN ÐÀI VẪN CÒN.

Nay Ðức Ngài đã tròn xong sứ mạng, phục vị Tiên bang, chúng em lấy làm vui mừng, tạo lễ mọn đến đây để tưởng niệm và tiển đưa phần xác thịt của Ðức Ngài về nghỉ an nơi lòng đất.

Nay Ðức Ngài đi, chúng em nguyện một lòng nối chí người Thiên mạng, bởi còn xác thịt tại trần quyết noi gương tiếp tục sự nghiệp H.T.Ð., do nơi Ðức Ngài trước kia đào tạo lưu tồn, hầu làm một kỷ niệm bất di, do Ðức Ngài đã dày công di sản.

Trên mảnh đất nầy vùi lấp biết bao xác thân bậc vĩ nhân, đã từng xướng minh nhiều Giáo lý. Xác thân người đã chết, nhưng phần linh hồn, theo lịch sử mãi sống còn trên thế gian, như trong cửa Ðạo./.

KÍNH DÂNG.

Sài Gòn, ngày 5/4 /Tân Hợi (29/4/1971)
HUỆ ÐĂNG

 


 

HỘI THÁNH TIÊN THIÊN

Tòa Thánh Châu Minh, Tiên Thủy, Kiến Hòa
Số:__/HT/TT.
TIÊN THIÊN ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
Năm Ðạo thứ 46
Công Bình Từ Bi Bác Ái
Tòa Thánh, ngày 2/4/Tân Hợi (dl. 26/4/1971)

DIỄN TỪ đọc trước Cửu Trùng Thiên, ngày Thánh Lễ Ðức THƯỢNG SANH, 5/4/Tân Hợi tại Tòa Thánh Tây Ninh

Kính thưa Quý Hội Thánh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh.
Kính thưa Quý Quan khách,
Kính thưa Quý Ban Tổ chức Thánh lễ CAO THƯỢNG SANH.

Thưa Quý vị,

Ngày giờ nầy, trước Cửu Trùng Thiên, trước Liên Ðài Anh lớn CAO THƯỢNG SANH, chúng tôi Phái đoàn đại diện Hội Thánh Tiên Thiên Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ đồng chung bước đến đây cùng phân ưu với Quý Hội Thánh ngày Anh lớn CAO THƯỢNG SANH qui Thiên...! Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh mất một phẩm tước Hiệp Thiên Ðài cao trọng, toàn thể Tín hữu Cao Ðài mất một người Anh lớn quí mến; cơ lập giáo CHÍ TÔN tại trần đã khuyết đi một Tông đồ THƯỢNG ÐẾ gắn liền với lịch sử Ðại Ðạo từ buổi sơ khai.

Và ngày giờ Anh lớn cố THƯỢNG SANH cao thăng Thiên vị, nhân danh phái đoàn đại diện Hội Thánh Tiên Thiên, thay mặt toàn thể Tín hữu Tiên Thiên, đồng đốt nén hương bái nguyện trước Liên Ðài để tỏ chút tình quí mến người Anh đã tròn Thiên mạng và đổi cảnh lãnh phần vô vi chuyển hóa hộ trì Hội Thánh hữu hình đài, chuyển cơ tâm mọi phận sự đồng tinh tấn cơ qui nguyên Thống Nhất Ðại Ðạo.

Kính bạch Anh lớn CAO THƯỢNG SANH,

26 tháng 3 ngày lành tháng tốt, Hội Thánh Tiên Thiên chúng em y lịnh phục hồi Tòa Thánh Tiên Thiên Châu Minh, ngày đánh dấu giai đoạn mới, chúng em đang vui mừng hòa hợp, đồng quyết phát huy cơ Ðạo Tiên Thiên hầu tròn sứ mạng Thiêng liêng giao phó một Chi Phái Ðạo Trời. Bỗng nhiên nghe tin Anh lớn qui hồi Thiên vị thì hàng hàng lớp lớp nhơn sanh Tiên Thiên đều trầm ngâm ứa lệ vì cảm xúc, và trong cảm nghĩ mọi người lần lượt nói lên lời luyến tiếc người Anh trong hàng Thập nhị môn đồ CHÍ TÔN buổi khai Ðạo; mối tình thiêng liêng ấy, ai là người vì Thầy vì Ðạo lại không kính mến nhớ ơn...Hơn nữa, là người Anh đã dầy công giúp Ðạo, gầy dựng cơ đồ điểm tô đại nghiệp, từng bước hành trình đều gắn liền lịch sử Cao Ðài; một Thiên tướng Ngọc Kinh tá trần đã làm sáng danh hàng lãnh đạo tinh thần Tân Tôn giáo Cao Ðài trước quốc dân và quốc tế, đã từng chịu trách nhiệm bảo thủ Ðền Thánh duy nhứt tại Thánh Ðịa, buổi Tam Kỳ bao trùm đại nghiệp Ðạo... của toàn thể Tín hữu Cao Ðài (không phân biệt Chi phái) đồng góp công của mua sắm tạo nên từ thuở.

Giờ đây, không biết nói chi hơn, Phái đoàn đại diện Hội Thánh Tiên Thiên nguyện cầu Ðại Từ Phụ ban hồng ân, ban lịnh cho Anh lớn đắc kỳ sở nguyện hằng tá cơ dạy đạo, hộ độ chúng em hành tròn Thiên mạng nối chí tiền nhân, và phần vô vi chuyển hóa hộ trì vạn linh, Anh lớn hãy chuyển cơ tâm tất cả đồng ý thức được ngày qui nguyên thống nhất Ðạo Trời, sớm chung bước lập công phát huy Tân Tôn giáo buổi Tam Kỳ Phổ Ðộ hoằng hóa Ngũ châu để được nền Hòa bình thế giới sớm vãn hồi hầu thể hiện đầy đủ ý nghĩa hai câu liễn buổi khai Ðạo trước Ðền Thánh.

Ðược vậy, Cao Ðài giáo mới tròn câu phổ độ.

Lòng luyến tiếc rất nhiều, công trình Anh lớn kể sao cho xiết, mà ngày giờ có hạn, Trước Liên Ðài khói hương nghi ngút, chúng em đồng đẳng đốt nén hương tâm nguyện người Anh quá cố hãy chứng tri.

Ðồng lễ bái./.

PHÁI ÐOÀN ÐẠI DIỆN GIÁO HỘI TIÊN THIÊN

 


 

Việt Nam Cộng Hòa
Tỉnh Kiến Phong
Cao Lãnh, ngày 22 tháng 4 dl năm 1971
Số: 3005VP/3

TỈNH TRƯỞNG KIẾN PHONG

Kính gởi Ông Khâm Châu Ðạo Cao Ðài tỉnh Kiến Phong.

Thưa Ông Khâm Châu,

Tôi rất lấy làm đau đớn nhận được tin Ðức THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG đã qui Tiên tại Tòa Thánh ngày 21 tháng 4 năm 1971.

Thay mặt toàn thể Quân, Dân, Cán, Chính các cấp tỉnh Kiến Phong, tôi xin thành thật chia buồn cùng Ông Khâm Châu và toàn thể Ðạo hữu.

Xin Ông Khâm Châu chuyển lời thành kính phân ưu về Tòa Thánh với lòng mến tiếc vô biên của tôi./.

Trân trọng kính chào.
(ấn ký)
Trung Tá TRẦN THANH NHIÊN

 


 

KHÓC ÐỨC THƯỢNG SANH

  THI thố ân ban vẹn cuộc đời,
NHÓM truyền đạo lý, trí không ngơi.
KHÓC than chủng tộc tranh hư vị,
ÐỨC bố nhân sinh gọi cạn lời.
THƯỢNG lệnh CHÍ TÔN đà định quyết,
SANH quyền Phật Mẫu hẳn thu hồi.
QUI nguyên tam phẩm nơi cung ngọc,
THIÊN địa u sầu, lệ thảm rơi!
THI NHÓM PHỤNG SỰ ÐẠI ÐẠO
(Cao Lãnh - Kiến Phong)

 


 

KÍNH CHÚC HƯƠNG HỒN CỤ THƯỢNG SANH
CAO HOÀI SANG Tiêu diêu miền lạc cảnh

  Cụ đã soi gương sáng sự lành
THƯỢNG tên Ðại Ðạo được nêu danh
SANH ra cõi thế đời oanh liệt
CAO đức hy sinh chí nhiệt thành
HOÀI vọng nhân loài qua bến giác
SANG sông phổ độ đến quang vinh
ÐẮC công lưu để nghìn thu rạng
QUẢ đạt vẹn toàn tạc sử xanh

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO BỬU SƠN KỲ HƯƠNG VIỆT NAM
(đóng dấu)
Tu sĩ NGUYỄN TẤN ÐẶT

 


 

KHÓC NGÀI THƯỢNG SANH QUI THIÊN

  Tin đâu đưa đến nỗi đau lòng,
Muôn sự giờ đây đã hóa không.
THƯỢNG ÐẾ sẳn dành ngôi Thánh vị,
SANH linh tiếc mất bậc Thiên phong.
Hai mươi mấy tuổi từng Khai Ðạo, (1)
Bốn sáu năm trời lập Ðại Công. (2)
Khóc tiển Ngài về cung Bạch Ngọc,
Ngậm ngùi ghi lại một tang chung.

HOÀI TÂN
(thay mặt gia đình cố Bảo Pháp)

30/4/1971

* (1) và (2) bốn chữ nầy ghi trên tấm trướng phúng điếu của gia đình cố Bảo Pháp./.

 


 

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
Năm thứ 46
***

KÍNH VIẾNG GIÁC LINH ANH LỚN THƯỢNG SANH

-Ðất nước cảnh loạn ly, cơ đời khi biến động, Anh Lớn vội qui Tiên, nguồn phổ độ, đất Tây Ninh, rạng rỡ ngàn năm, ngui ngút tiền nhân công sáng tạo.

-Ðạo Trời cơ khảo thí, vận hội buổi sơ khai, ân dày từng giáo huấn, kẻ hậu sinh, nền Giáo thuyết, vun bồi một thuở, ngậm ngùi thế hệ bậc tiền phong.

Sài Gòn, cuối Xuân Tân Hợi

HỘI VĂN HÓA CAO ÐÀI KÍNH ÐIẾU

 


 

KÍNH ÐIẾU GIÁC LINH CAO HOÀI SANG

Hiền hữu
  Sét đâu bổng đánh, lụy rưng rưng!
Tin báo xem qua những ngập ngừng.
Bút ngọc dây đồng ngơ ngẩn ngón,
Ðài sen cánh hạc vội vàng chưn.
Ðàn tao đã bặt tay hòa xướng,
Nền đạo còn mong bậc đỡ nưng.
Hai cõi dầu nay đành cách trở,
Bên mình như vẫn hiện âm dung.

THUẦN PHONG

 


 

CẢM TẠ

HỘI THÁNH ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH,
chân thành cảm tạ:

-Tổng Thống VIỆT NAM CỘNG HÒA và Phu nhân,
-Phó Tổng Thống VIỆT NAM CỘNG HÒA và Phu nhân
-Ðại Tướng DƯƠNG VĂN MINH và Phu nhân, cùng Phái đoàn,
-Chủ Tịch Tối cao Pháp diện và Phái đoàn,
-Chủ Tịch Thượng nghị viện và Phái đoàn,
-Chủ Tịch Hạ Nghị viện và Phái đoàn,
-Thủ Tướng Phu nhân và Phái đoàn,
-Quý Ðại diện Ngoại giao đoàn,
-Quý Quốc vụ khanh và Phái đoàn,
-Quý vị Tổng Bộ Trưởng Chánh phủ và Phái đoàn,
-Trung Tướng Tư Lịnh Quân Ðoàn 3, và Quý Tướng Lãnh trong Phái Ðoàn,
-Quý Ðại Tá, Trung Tá Tỉnh trưởng thuộc Quân khu 3,
-Quý Thượng Tọa Phái đoàn Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhứt (Ấn Quang)
-Ðức Tăng Trưởng Lâm Em,
-Hòa Thượng Viện trưởng Viện Hóa Ðạo Phật giáo Việt Nam Thống Nhứt, (Việt Nam Quốc Tự),
-Thượng Tọa Trưởng giáo Théravada,
-Cụ Phó Hội trưởng Trung ương và Phái đoàn Phật giáo Hòa Hảo,
-Hòa Thượng Pháp chủ và Quý Thượng Tọa Tổng giáo hội Phật Giáo Việt Nam,
-Quý Linh Mục Phái đoàn Công giáo Việt Nam,
-Hội Ðồng Tôn giáo Trung ương,
-Ngài Giáo chủ Bửu Sơn Kỳ Hương và Phái đoàn,
-Quý Hội Thánh các Chi ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ,
-Ông Chánh Án Tây Ninh và Phái đoàn,
-Trung Tá Tỉnh Trưởng, Hội đồng tỉnh, Quận Trưởng và các Trưởng Ty, Sở tỉnh Tây Ninh,
-Quý Ðại diện các đoàn thể Chánh trị,
-Quý Thân hào, Nhân sĩ, Luật sư, Bác sĩ, Kỹ sư và Quý Hiệp hội Công, Thương, Kỹ nghệ gia,
-Quý Ðại diện Báo chí và Nhiếp ảnh,
-Quý Thân hữu thuộc 28 Quốc gia bạn, cùng 184 Thân hữu ở Quốc nội đã có Ðiện tín phân ưu,

Hội Thánh và Tang quyến vô cùng cảm động tri ân Quý vị đã đến phúng điếu và tiển đưa Liên Ðài Ðức THƯỢNG SANH chúng tôi vào Bửu Tháp.

Trong 9 ngày cử hành Thánh Lễ, toàn cả chư Tín hữu và Hội Thánh chúng tôi đa đoan thọ lễ đại tang. Nếu có điều chi sơ xuất xin Quý vị niệm tình miển cố./.

HỘI THÁNH

 


 

 

PHẦN THỨ HAI:

Các Bài Thuyết Ðạo, Huấn Từ

Diễn Văn của Ðức Thượng Sanh

 

 


 

LỜI THUYẾT MINH
CỦA ÐỨC THƯỢNG SANH

TẠI TÒA THÁNH ÐÊM 14 RẠNG 15 THÁNG 4 ÐINH DẬU (13-14/5/1957)

 

Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

Thưa ba vị Chánh Phối Sư,
Thưa toàn thể Chức sắc Nam-Nữ,
Thưa chư Ðạo Hữu Lưỡng phái,

Chúng tôi, Thượng Sanh và Chư vị Thời quân, Bảo Quân HTÐ. Hôm nay lấy làm vui mừng về đến Tổ đình hội hiệp với chư quí hiền huynh, hiền tỷ để được cùng nhau chung gánh nhiệm vụ thiêng liêng đối với ÐỨC CHÍ TÔN, với ÐẠO và với nhơn sanh.

Cái nhà chung này, trên vùng Thánh địa tạo thành bởi bao nhiêu tâm trí của chức sắc và lao lực của nhơn sanh, giờ này đã gom góp lại hầu hết những người của HTÐ mà lúc ban sơ ÐỨC CHÍ TÔN đã giao phó trách nhiệm lập Ðạo.

Vậy chúng tôi có lời chào thân mật toàn cả chức sắc Nam Nữ và chư Ðạo Hữu lưỡng phái.

Theo quý vị đã biết, ngày nay tôi và chư vị thời quân HTÐ về Tòa Thánh đãm đương trách nhiệm cầm giềng mối Ðạo, một là vì có sự thỏa thuận của các cơ quan trong Hội Thánh, hai là vì thấy tình thế của Ðạo đã đến lúc cực kỳ nghiêm trọng nên chẳng đành tỏa quan thành bại. Cái nguyên do làm cho nhân tâm ly tán nền Ðạo chinh nghiêng, chúng tôi xin miễn nhắc đến, đó là dĩ vãng.

Ðiều chúng tôi cần quan tâm là hiện tại của Ðạo, Ðạo đã bị nguy nan, chúng ta cần phải lo cứu vãn.

Ngày nay toàn thể chức sắc lưỡng phái đã tín nhiệm chức sắc HTÐ và triệt để tuân theo mạng lệnh HTÐ điều khiển việc Ðạo, hai bên HT và CT phải đồng tâm chung trí để lo xây dựng lại nền chánh giáo, sửa đương cho có trật tự điều hòa làm cho lộ rõ nét bác ái từ bi, nhơn sanh mới phấn khởi bước tới lo về tu niệm. Ngày giờ này chẳng phải ngày giờ nói nhiều nữa. Phải làm việc nhiều hơn nói và làm việc một cách minh bạch theo lẽ công, biết lo cho cái nên, biết sợ cái hư, dứt bỏ hết bản ngã ra ngoài, thì cả tư tưởng và hành động mới được thanh cao trong sạch.

Hôm nay chúng tôi về đây để gánh lấy cực nhọc khổ tâm để phụng sự Ðạo, phụng sự nhơn sanh chớ chẳng phải để tranh quyền cố vị.

Trong cửa Ðạo nhơn sanh đã lắm thống khổ, chúng ta hãy quên mình chia sớt cái thống khổ ấy, trong khi chúng ta tận tâm dìu bước Ðạo và trông mong đi đến con đường êm ấm hơn, toàn diện hơn.

Ðiều chúng tôi chú ý là hành vi của tất cả chức sắc phải hoàn toàn ở trong mặt Ðạo, do khuôn viên luật pháp của Ðạo. Có vậy chúng ta mới cộng tác trong tình thân ái thiệt mặt để tâm dìu dắt nhau, nương nhờ nhau, sức thiêng liêng mới trợ giúp đưa chúng ta đến cứu cánh hoàn hảo.

Chúng ta mang nặng xác phàm, tức phải có điều sơ sót. Vì đó một người mà nắm trọn quyền thống nhất trong tay thế nào tránh khỏi lạm quyền và độc đoán là điều tối kỵ đối với Ðạo.

Ngày nay về đảm đương việc Ðạo, chúng tôi quyết tôn trọng tinh thần tập thể, nghĩa là sẽ chung trí mà lái con thuyền Ðạo giữa cơn sóng gió bão bùng. Phàm một sắc lịnh hay một quyết nghị nào sẽ đem ra ban hành là khi đã được phần đông chức sắc Hiệp Thiên Ðài chấp thuận.

Với tinh thần ấy, thêm vào thiện chí của chúng tôi, nếu có sơ sót, thiết tưởng sự sơ sót ấy không đến nỗi nào. Huống chi, yêu cầu sửa đổi lại là quyền của quý ngài đó vậy!

Thưa quý vị, chúng tôi mong rằng sau hồi sóng lặn gió êm, trời quang mây tạnh, chúng ta sẽ hiệp nhau phát họa một chương trình gồm cả các điều cần thiết trong lúc này để phục vụ đắc lực nhơn sanh trong cả hai phương diện vật chất và tinh thần đạo đức.

Trước khi dứt lời, xin quý vị cùng chúng tôi hằng ngày cầu nguyện Ơn Trên trợ giúp chúng ta làm tròn thiên chức.

Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

Thay mặt HIỆP THIÊN ÐÀI (ký tên)
CAO THƯỢNG SANH

 


 

LƯƠNG TÂM

· Viết để tưởng nhớ hai Ðấng Hiền Triết của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ:
ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG VÀ ÐỨC CAO THƯỢNG PHẨM

 

TÂM hay là LƯƠNG TÂM là một vấn đề mà về mặt Ðạo người ta đã có nhiều bàn luận đến, nhưng lý thuyết thì vẫn có mà thực hành ít ai để ý đến. TÂM là chi?

Tâm là một nguồn sáng Thiêng Liêng, một điểm linh quang của Ðức Chí Tôn ban bố cho con người để khuyên lơn dìu dắt và soi sáng bước đường đời cũng như bước đường Ðạo của mỗi cá nhân trong kiếp sanh, hầu lúc rời bỏ xác phàm, mỗi nguyên nhân hay hóa nhơn được hoặc qui hồi cựu vị, hoặc thăng đẳng cấp, hoặc bị trừng trị theo Luật Thiên Ðiều.

Dầu cho Thần Thánh Tiên Phật khi xuống thế mang xác phàm thì buổi chung qui được hay phạt, thăng hay đọa đều do nơi Tâm cả, và nếu người được tánh linh hơn muôn vật là nhờ có LƯƠNG TÂM vậy.

Nên để ý là trong các đẳng nhơn sanh, người dầu sang hay hèn, Thánh nhân hay thường nhân, cái tâm của Thiêng Liêng ban cho đều có sự sáng suốt ngang nhau không khi nào chênh lệch.

Vì lẽ đó, nếu mỗi người ai cũng theo thiên lý mà tu dưỡng mà hành động thì không ai hơn ai cả. Xưa Thành Nghiễn bảo Tề Cảnh Công rằng: Thánh Hiền là Trượng phu, ta cũng là Trượng phu ta sợ gì không được như Thánh Hiền. Nhan Hồi cũng đã nói: Vua Thuấn là người nào, ta là người nào, ai theo Ðạo mà làm thì cũng thế cả.

TÂM được sáng suốt thêm hay trở nên mờ tối là do nơi con người biết nuôi nấng, nâng cao nó lên hay là đàn áp làm cho nó bị che lấp mất.

TÂM ở nơi con người cũng như một vị quốc sư ở cạnh một đấng cầm quyền thống trị thiên hạ. Trong khi ta đang ngẩn ngơ trước một sắc đẹp mỹ nhơn hoặc ta đương dùng thẳng trước một món lợi lớn của người đem hiến cho ta đặng dục ta làm chuyện phi pháp, thì một tiếng nói văng vẳng bên tai ta, nghe dịu dàng, chơn chánh và siêu kỳ:

"Không, người không nên động đến sắc đẹp ấy, vì sắc đẹp ấy đã có chủ (hoặc) sắc đẹp ấy là một thứ trái cấm bất khả xâm phạm. Ðộng chạm đến ắt tai họa sẽ đến cho ngươi." Hay là "món lợi ấy là của phi nghĩa, ngươi không có quyền thâu dụng mà làm chuyện bất công. Thâu dụng của ấy, ắt tai họa chẳng nhỏ và danh dự ngươi sẽ bị tổn thương chẳng ít".

Tiếng nói thân yêu ấy là chi? Ðó là tiếng nói thiêng liêng, tiếng nói của lương tâm vậy.

Nhưng khi tiếng nói ấy dứt thì một tiếng nói khác tiếp theo, tiếng nói sau này chẳng phải dịu dàng. Khác với tiếng nói của lẽ phải. Ấy là tiếng kêu gào của xác thịt, của dục vọng, tức là của tà thần.

Tiếng nói ấy lừng lên đánh đổ tiếng nói trước kia: "Mi dại gì mà chẳng nhận món tiền ấy, mi chỉ ra chút công mọn mà đặng lấp đầy những chỗ thiếu thốn của mi. Mi sẽ được ăn mặc sang trọng thiên hạ sẽ thù phụng mi và mi chẳng còn khổ cực nữa".

Hay là: "Hương trời, sắc nước là của chung, dại gì mà chẳng hưởng. Thanh xuân bất tái, nếu bỏ qua chẳng còn dịp nào hay hơn nữa".

Tiếng nói của lương tâm lại nhỏ nhẹ khuyên can nữa và tiếng nói của dục vọng phản đối chẳng vừa.

Rốt cuộc lương tâm thắng dục vọng, đó là Thánh Ðức thắng phàm tâm.

Ta thắng được là nhờ tiếng nói của lương tâm được thích tùng, nhờ ta biết cân phân lẽ phải của đạo lý với sự dục hư của tà thần.

Nếu ta nhu nhược để cho vật dục lôi cuốn đánh đổ cả chơn lý của lương tâm, tất nhiên ta phải bị sa ngã vào đường tội lỗi. Ấy là tinh thần chịu khuất phục vật chất.

Một lần sa ngã cũng chưa phải hại lớn, ngặc nỗi cái sa ngã này lôi cuốn cái sa ngã khác, thất tình lục dục thay phiên nhau đưa đẩy ta đi đến mức đường cùng ; tối tăm ô trược, tức là ta bị đắm đuối giữa vực thẳm hang sâu. Là vì cái sáng suốt thiêng liêng ở nơi mình không khêu lên lại làm cho nó bị lu mờ và bị vùi lấp cho đến chỗ bế tắc. Thì con người lúc ấy đã mất hẳn ánh sáng thiêng liêng và kiếp sống như thế trở nên nguy hiểm cho xã hội.

Trái lại cái tâm được nuôi nấng, được nâng cao, cái tâm của các bậc phi thường như ÐỊCH NHƠN KIỆT đời ÐƯỜNG, QUAN CÔNG HẦU đời HỚN là tâm làm cho những đấng ấy danh vọng xa bay, tiếng tăm lừng lẫy. Họ xem sắc đẹp như cây khô, thị tiền tài như dép rách, đời trong sạch thanh bai từng làm cho kẻ thù nghịch phải khép nép cúi đầu. Vì vậy mà được danh tạc sử xanh, thiên hạ sùng bái. Những câu:

  Mỹ sắc nhơn gian tối lạc xuân
Ngã dâm nhân phụ, phụ dâm nhân
Nhược tương mỹ sắc tu vong phụ
Biến thể thơ toàn diệt sắc tâm.

Và gương Trung, Can, Nghĩa, Khí há chẳng còn được ca tụng đến nay đó sao?

Những bậc vĩ nhân siêu phàm của non nước Việt như PHAN THANH GIẢN, LÊ VĂN DUYỆT, HƯNG ÐẠO VƯƠNG, NGÔ TÙNG CHÂU, VÕ TÁNH..v..v.... Ngày nay được danh tạc sử xanh là nhờ nơi khí phách anh hùng tâm linh cao thượng, lòng trung quân ái quốc đến thác chẳng dời đổi, mặc thời thế đổi thay, mặc bao nhiêu sóng gió.

Về mặt Ðạo, đối với người đã tầm được lý tưởng cao siêu, cái tâm cần phải giữ cho trong sạch thanh cao. Vì tôn chỉ Ðạo là khêu ngọn đuốc thiêng liêng để dìu đời cho sáng suốt, chẳng khác chi chiếc thuyền từ vớt khách giữa sông mê, đưa người qua biển khổ.

Bên trong đã sẳn cái lý toàn nhiên nơi tâm, bên ngoài nhờ giáo lý cao siêu của Ðạo, người hành đạo có đủ tài liệu phương chước sửa mình và trau giồi hầu treo gương sáng cho người đời noi bước.

Trước khi nhập Ðạo, ta đã từng quan sát, kiếm hiểu lẽ mầu nhiệm sâu sa, cân phân điều chánh lẽ tà, rõ biết rồi ta dọn mình, lập ý cho thành, tâm cho định, mới đến khắc kỹ tu thân, khi ấy người hành Ðạo đã có sẳn chí hướng, đi từ bước một, mỗi bước mỗi dè dặt cân phân và nên mãi đinh ninh rằng người nơi cửa Ðạo phải làm sao cho thoát khỏi thường tình, phải đi ngược với thế sự.

Ðời chuộng sang vinh, Ðạo chuộng khổ hạnh, Ðời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa là cảnh áo bả hài gai nơi tịnh xá, tương dưa thanh đạm chốn thiền môn, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục. Giữ được bao nhiêu đức tính ấy người hành đạo bước được vững vàng không dục vọng nào lôi cuốn nỗi.

THÍCH GIÁO: Theo THÍCH GIÁO, con đường đi đến thành chánh quả là: MINH TÂM KIẾN TÁNH. Nghĩa là phải trau giồi bản tâm cho sáng suốt đặng kiến tánh.

KIẾN TÁNH tức là cùng PHẬT đồng tánh thấy sáng đạo nhiệm mầu, các điều vọng niệm thảy đều tiêu tan, sống ở chơn tâm hoàn toàn giải thoát.

Bậc đã được kiến tánh, giữ cõi lòng thật thanh tịnh trở lại với bản tánh thiên nhiên tức là lúc mắt tuy thấy thiên hình vạn trạng trí tưởng nghìn muôn pháp, nhưng tâm vẫn yên tịnh dường như không gì xao xuyến. Lúc ấy bậc kiến tánh được thấy ngọn đèn chơn lý đột nhiên đưa đến sáng rạng lạ thường để chỉ đường dẫn lối đưa đến cõi tâm giới nhiệm mầu.

Ví bằng bản tâm để cho mờ ám vọng động bởi sức quyến rũ bên ngoài thì người tu biết bao giờ kiến tánh mà tầm lối giải thoát.

Vậy mê là chúng sanh, ngộ là PHẬT.

Vì đó PHẬT HỌC cho cái tâm là cái rất nông nỗi, lại đặt cho tâm cái tên là giặc (tâm vi tặc). Phật học dạy xóa bỏ vọng tâm thường lôi cuốn con người vào đường tội lỗi. Nếu không bỏ vọng tâm thì chân tâm diệu minh không hiện phát ra được. Xóa bỏ vọng tâm tức là để cho chơn tâm phát hiện, người tu hành mới thoát khỏi thất tình lục dục hiểu thấu chơn lý và thắng được mọi sự khổ.

THÂN NGHIỆP, Ý NGHIỆP, KHẨU NGHIỆP gọi là tam nghiệp làm cho con người luân hồi từ kiếp này đến kiếp khác. Cứ nghiệp trước tàn, nghiệp sau nối kế tiếp không ngừng, đó là do nơi tâm tạo. Vì tâm động là phát ra tư tưởng, có tư tưởng rồi mới có nói và làm theo.

Thế thì tâm là nguồn gốc sanh điều lành việc dữ, cái máy tạo thành họa phước Thánh phàm, nên Thánh Hiền có dạy rằng:

  Tam điểm như tinh tượng
Hoành câu tợ nguyệt tà
Phi mao tùng thủ đắc
Tổ Phật dã do tha.

Nghĩa là: Trên ba điểm như ba ngôi sao, dưới một vòng câu như hình nguyệt xế, cánh lông theo ấy được, thành Phật do bởi gì?

LÃO GIÁO: Theo triết học của Ðạo Giáo, Lão Tử rất chú ý đến việc tu thân để cho mình có đủ đức tính kéo lại những lỗi lầm sa ngã của quần chúng.

Ngài nói: Ta sở dĩ có điều lo lớn là vì ta có cái thân, nếu ta không có cái thân thì ta có lo gì?. Có thân tức là có cái tâm, có cái tâm không dễ gì điều khiển và giữ gìn cho trong sạch.

Theo thuyết của Ngài cái thân đáng quý là khi đem nó ra phụng sự cho thiên hạ, khi phụng sự cho thiên hạ cái tâm không còn gì xao xuyến ích kỷ để lo cho mình nữa. Vì lẽ cái tâm hay lừa đảo, hay làm cho con người sa ngã nên theo phép tu thân của Lão giáo, ta phải dứt bỏ những điều ham muốn, những tư tưởng ngông cuồng có thể hại đến tâm tính. Giữ lòng được phẳng lặng bình tĩnh để trông rõ những sự huyền diệu thiêng liêng, tức là lấy cái tâm đè nén cái khí để nuôi nấng tinh thần được cao siêu thoát tục, đó là con đường dẫn đến cơ đắc đạo.

TU TÂM, LUYỆN TÁNH là thuyết của LÃO GIÁO dạy người mộ đạo muốn tầm tiên lánh tục.

LÃO TỬ coi danh lợi là thù của thân, không lấy cái sống vật chất làm hạnh phúc, nên khuyên người đời chỉ nên chú trọng tinh thần. Phương pháp giáo hóa của Ngài không giống các bậc hiền triết khác, vì lẽ ngài không thích chen vai với đời để lấy sự hiểu biết khuyên dạy quần chúng.

Người lý tưởng của Ngài là người sống trong cảnh tịch mịch, cách biệt vời người đời, đóng cửa, rấp ngỏ không giao thiệp với ai, để rèn luyện tâm tánh, trụ vững tinh thần như thế mới gần gũi được với thiên nhiên, quan năng trực giác mới được sáng suốt, tuy không ra khỏi ngỏ cũng hiểu được thiên hạ, không ngó qua cửa sổ cũng biết được thiên đạo.

Người ấy LÃO TỮ gọi là Thánh nhơn.

Trái lại, người chung đụng với thế gian bị tranh đấu về danh lợi, làm cho tâm tánh vọng động càng đi xa càng bị sóng đời lôi cuốn, bản tâm rối loạn, thiên tính càng lu mờ, đó là tự mình tìm lối diệt vong vậy.

Người ta cho LÃO TỮ có tư tưởng yếm thế tiêu cực, hoặc tư tưởng của Ngài là độc thiện kỳ thân hay cá nhân chủ nghĩa. Nhưng xét ra, người học Ðạo nên tùy theo đẳng cấp và trí thức của mình, chọn lọc thuyết nào thuận tiện thi hành cho tâm tánh được nâng cao, tinh thần được cứng rắn. Ngoài ra phương pháp nào quá cao siêu ta chưa với tới được thì để lại cho bậc có quan niệm cao thượng hơn ta thực hành.

KHỔNG GIÁO: Khổng Giáo cho rằng tâm là thần minh của Trời phú cho, nên tâm của ta với Trời là một thể. Mạnh Tử lại cho Tánh là cái bản nguyên thiêng liêng, đối với Tâm vẫn có một. Hễ biết rõ tâm thì ta biết rõ tánh, biết rõ tánh tức là biết rõ trời đất vạn vật.

"TỒN TÂM DƯỠNG TÁNH" là giữ cho mình còn cái tâm hư linh; nghĩa là đừng để cho tự ý che lấp mất và nuôi cho cái tánh được sáng suốt toàn hảo như của Trời đã ban cho ta, tức là biết có Trời và thờ Trời một cách chơn thật.

Cái bản tâm giữ được còn mới thật là lương tâm. Có lương tâm mới có lương năng và lương tri, tức là cái giỏi biết rất tự nhiên, rất mẫn tuệ (người không học mà giỏi gọi là lương năng, không suy nghĩ mà biết gọi là lương tri. Cũng như đứa trẻ con còn ẳm trên tay, không đứa nào là không biết yêu mến cha mẹ, chỉ vì lương tâm còn nguyên vẹn thuần túy).

Theo thuyết KHỔNG GIÁO, người ta ở đời phân biệt nhau ở nơi quân tử hay tiểu nhơn, hiền hay ngu là do người ta giữ cho còn cái tâm hay để cho mất cái tâm. Giữ cho còn cái tâm là đáng bậc Thánh Hiền, bỏ mất cái tâm con người vẫn là một cây thịt biết đi biết chạy mà thôi.

Thầy MẠNH TỬ chú ý nhứt về chỗ tìm lại cái tâm của mình đã để sổ ra mất, vì lẽ người ta để con gà, con chó sổ ra còn biết đi tìm, há đâu để món báu thiêng liêng là cái tâm của mình sổ ra lại không đi tìm hay sao?

Tìm lại cái tâm đã mất tức là sửa mình đó.

Từ bậc vua chúa dĩ chí thứ dân, ai cũng lấy sự học để sửa mình làm gốc. Muốn sửa mình cho ra người có đức hạnh hoàn toàn, trước phải giữ gìn cái tâm cho chính, cái ý cho thành, sau mới cách vật trí tri, nghĩa là tìm hiểu rõ các sự vật và biết đến cho cùng cực của sự biết.

Muốn giữ cái tâm cho chính, sự sợ hãi, sự vui say, sự ưu hoạn, làm cho cái tâm ta chênh lệch xao xuyến vì một khi tâm bị loạn thì mắt không trông thấy, tai nghe không hiểu, ăn không biết mùi, tất nhiên ta chẳng còn phân biệt được tà chánh ngay gian mà xử sự đúng theo đạo lý.

Khi tâm đã chánh, ý đã thành, cái lương tri lương năng của ta trở nên mẫn huệ, xem xét điều gì cũng hiểu rõ đến chỗ nhiệm mầu sâu xa dầu đối phó với cảnh ngộ nào cũng điều hòa và hợp với lẽ phải.

Chừng đó con đường đã dọn sẵn, sự sáng suốt của tâm đã đủ sức dìu dắt ta trong bước tu thân, có còn chi trở ngại nữa.

Việc tề gia, trị quốc, bình thiên hạ cũng do nơi con đường đó mà đạt thành.

Ngày nay ÐỨC CHÍ TÔN khai nền ÐẠI ÐẠO tại VIỆT NAM để cứu vớt nhân loại lần cuối cùng qui tam giáo, hiệp ngũ chi đem chủ nghĩa từ bi bác ái lập nền tảng đại đồng hòa bình.

Ðức Chí Tôn từng dạy chúng ta lập tâm chí thanh cao và noi theo đức háo sanh của Ngài mà phổ độ sanh chúng.

Lúc mới khai Ðạo (1926), mỗi đêm những chức sắc lớn phải đi đến nhà các đạo hữu mới nhập môn đặng làm lễ khai đàn. Một hôm nhiều chức sắc đến khai đàn tại nhà một đạo hữu ở trong một túp lều tranh nơi xóm dân lao động. Ðường đi trong ngõ hẽm trơn trợt vì gặp phải mùa mưa, phần đông chức sắc than phiền dường như rất bực lòng đi đến chỗ không xứng đáng.

Lúc khai đàn, Ðức Chí Tôn giáng cơ ban khen Vị Ðạo Hữu chủ đàn và rầy cả chức sắc sao không hiểu nghĩa vụ của mình đối với Ðạo, nhơn sanh.

Bài thi cho cả chức sắc hiện diện như sau đây:

  Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,
Há cần hạ giới dụng cao ngôi?
Hèn sang trối kệ tâm là quí,
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi.

Từ ấy các chức sắc đi chứng lễ khai đàn nơi tư gia, tỏ ý sốt sắng và không dám câu nệ nữa. Ðức Chí Tôn thường nói với các môn đệ:

"TÂM các con vừa động Thầy đã biết rõ, vì TÂM các con là một phần thiêng liêng của Thầy ban cho, vậy tư tưởng các con Thầy đều biết, khá tìm hiểu."

Do đó chúng ta biết DÂN TÂM tức là THIÊN Ý và theo thể pháp của Ðạo, duy có quyền Vạn linh đối với quyền Chí Tôn mà thôi.

Lúc ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG còn tại thế, Ngài có tiếp một bài thi của Ðức Chí Tôn như sau đây:

  Nghiêng vai gánh vác đạo nhà Nam,
Gắng khổ chìu tâm độ tánh phàm.
Khổ ấy về sau danh phận xứng,
Chăm lo trách nhậm mới gìn kham.

Ngài thường nói với các chức sắc gần gũi với Ngài: "Tuy qua đi hành đạo vất vả cực nhọc nhưng qua vẫn vui lòng, vì đối với Thầy, tâm qua được trong sạch, đối với nhơn sanh tâm qua được thơ thới an vui vì làm tròn nhiệm vụ. Ngoài đời người ta được thưởng công bằng tiền bạc, trong cửa đạo chúng ta được thưởng công bằng sự ban khen phủ ủy của lương tâm.

Những tiếng ban khen ấy đối với qua không lấy vật chi quí báu của đời mua được".

Quí hóa thay lời nói của người Anh cả chúng ta. Ngày nay bậc cao khiết ấy đã về với Thầy rồi, lời nói trên đây còn văng vẳng bên tai của kẻ viết bài này.

Bức tranh xã hội thường ngày vẽ cho chúng ta thấy nhiều chuyện trớ trêu khúc mắc và chỉ cho chúng ta biết rằng đời hiện tại là đời mạt kiếp, nên cang thường đảo ngược, luân lý suy đồi. Người ta đua nhau lăn xả vào vòng trụy lạc, sống một đời vật chất vô nghĩa, vô nhân, vô tâm, vô đạo. Nào con giết cha, vợ giết chồng, nào anh em làm loạn luân thường, nào mẹ bán con vì mối lợi thừa, chồng hiến vợ cho kẻ có quyền để cậy thân dựa thế. Người ta dám giết lẫn nhau vì số tiền một vài trăm đồng hoặc tạo cảnh nồi da xáo thịt vì bát cơm manh áo.

Ðức PHẬT THÍCH CA có giáng cơ như vầy:

  Lộ vô nhân hành,
Ðiền vô nhân canh,
Ðạo vô nhân thức,
Ta hồ tận chúng sanh!

Ðiền là tâm điền, chỉ nghĩa tâm người ta như miếng ruộng, cần phải cày cấy, gieo giống tốt mới nở bông sanh trái, bằng để u trệ không lo săn sóc, ruộng sẽ bị cỏ chạ cây rừng loán mọc, thành đất hoang vu, chứa những độc trùng hiểm nguy không ít.

Thường ta thấy nơi trường đời người ta mượn cái lốt bề ngoài để lòe quần chúng để che khuất cái tâm khô khan cằn cổi bên trong, đặng chờ dịp lừa phỉnh nhau và sát hại nhau.

TÂM bất chánh trong phạm vi eo hẹp thì làm rối loạn gia đình, tâm bất chánh ở chỗ xử sự xã giao thì gây ác cảm, chác oán thù, tâm bất chánh loán vào xã hội tạo giây oan nghiệt, đưa đến cảnh tội tù, xô đẩy con người vào vực sâu hang thẵm.

Gặp được mối Ðạo mầu, chúng ta rất hữu phước được Ðức Chí Tôn dìu dắt và giáo hóa, chúng ta nên gắng công trau giồi tâm chí hầu nâng cao danh thể Ðạo và thức tỉnh những kẻ sai bước lạc đường.

Ðức Chí Tôn cầm quyền cả càn khôn thế giới, đã từng hạ mình làm hồn ma đặng dìu dắt các môn đệ lúc ban sơ, ta há vì tự trọng tấm thân mà không noi gương của Ngài trong muôn một hay sao?

Có tài thì cái tài rất hữu dụng, mà đức lại càng qúi hơn. Diêu Trì Cung Bát Nương có khuyên dạy về hai chữ tài và đức như sau đây:

  Tài lấn đức tài mau diệt tận,
Ðức đồng tài, tài phấn khởi thêm.
Mênh mông biển khổ con thuyền,
Ðạo sơ đức kém ngửa nghiêng sóng trần.
Ỹ tài sức cậy thân dựa thế,
Tài càng nhiều càng lụy đến thân.
Tài kia tai nọ luôn vần,
Ðức tài trau luyện đồng cân mới mầu.
Trăm năm một cuộc bể dâu!

Tố Như Tiên sanh là cụ Nguyễn Du dạy đời hai câu bất hủ nầy:

  "Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài."

Nơi cửa Ðạo, người hành đạo phải làm gương mẫu cho nhơn sanh và muốn lập chữ tâm phải quên được cái "bản ngã" thường tình. Trừ bỏ được bịnh chỉ biết có mình, hành vi nào cũng được trong sạch, khỏi bận tâm lo mất còn thiếu đủ. Trong cảnh hèn sang, vui khổ, phải chia sớt với tất cả bạn đồng hành, sự tương thân, tương ái mới được trọn vẹn.

Lưu Hướng Liệt Nữ truyện Trung Hoa có chép một truyện như sau đây:

"Lúc Xuân Thu, nước Tề cữ binh phạt nước Lỗ. Khi đến chỗ giáp giới, viên tướng chỉ huy binh Tề trông thấy một người đàn bà một tay bồng đứa bé, tay kia dắt một đứa bé nữa. Quân tràn tới, người đàn bà vội bỏ đứa bé đang bồng trên tay xuống, xốc đứa bé đang dắt, rồi hơ hãi chạy trốn vào rừng. Ðứa bé bị bỏ, chạy theo la khóc, người đàn bà cứ lo chạy không ngó lại.

Viên tướng Tề sai quân bắt lại và hỏi:

"Ðứa bé nàng bồng chạy là con ai, đứa bé bỏ lại là con ai?"

- Thưa, đứa tôi bế chạy là con của anh cả tôi, đứa tôi bỏ lại là con tôi. Vì không thể bảo toàn cả hai đứa, nên tôi phải bỏ con tôi.

- Tướng Tề nói: "Tình mẹ con không đau xót sao?- Ai nở bỏ con mình để cứu lấy con của anh là thế nào?"

- Con của tôi là tình riêng, con của anh tôi là "nghĩa công", bỏ con đẻ tuy đau xót, nhưng muốn làm tròn nghĩa công, tôi phải lìa nó mà cứu con anh tôi. Tôi không thể nào mang tiếng "vô nghĩa" mà sống ở nước tôi được.

Viên tướng Tề dừng binh lại, đợi vua Tề đi tới quì tâu: "Nước Lỗ chưa thể đánh được. Quân ta mới tới biên giới, đã thấy một kẻ phụ nhơn ở xó rừng góc núi còn biết chẳng vì tình riêng mà hại nghĩa công huống chi là những bậc quan lại sĩ phu trong nước. Vậy xin kéo binh về là hay hơn."

Vua Tề cho là phải.

Nhờ vậy người đàn bà bảo toàn cả hai đứa bé và sau được Vua nước Lỗ thưởng một trăm tấm lụa và tặng hai chữ "nghĩa cô".

Ðó là tâm lý xử nghĩa của một người đàn bà ở tận góc núi ven rừng nơi trường đời.

Khi người ta bỏ được thuyết "bản ngã" ra ngoài hành động trông ra chánh đáng và cao thượng làm sao!

Nơi cửa Ðạo, chủ nghĩa giác thế độ đời lại cao cả hơn nữa. Nếu tâm vẫn còn chịu khổ để lo cái "của mình" còn hay mất, được hay thua, thêm hay bớt thì phận sự Ðạo làm sao cho trọn?

Ðức CAO THƯỢNG PHẨM có giáng cơ dạy rằng: "Phải giữ thân thể khỏi sa ngã vào sự ràng buộc nào phải cực trí lao thần. Tâm được trong sạch thanh cao, Thần được nhẹ nhàng thơ thới, người hành đạo mới thành hữu dụng cho Ðạo Ðời.

Còn mang lấy xác thân là còn trách nhiệm cho đến ngày thở hơi cuối cùng. Phải tự nuôi tâm chí cho cao thượng, tự bảo đãm cái trách nhậm ấy đặng tự tạo con đường "sống còn" hầu giải thoát cho những kẻ đương "sống mất".

Than ôi! Họ "sống mất" không biết bao nhiêu, thành ra đời loạn, chúng ta có đành chịu kiếp sống mất chăng?

Dưới đây là một bài thi giáng cơ của Ðức Nhàn Âm Ðạo Trưởng:

  "Tìm Ðạo mà chi khá hỏi mình,
Bến mê mới vững vớt quần sinh.
Vun trồng cội phúc ơn chan thấm,
Giong rủi đường tiên nghĩa tạc gìn.
Tâm chánh nương nhau dìu lối chánh,
Lòng thanh nhờ lẫn lóng hơi thanh.
Thiên cơ tuy hẵn nêu trường khảo,
Lướt khỏi ngàn thu quả đắc thành."

Thánh Giáo của Ðức Diêu Trì Kim Mẫu:

"Ðời hay Ðạo cũng vậy, muốn lập nền tảng cho sự thái bình, phải cần lập tâm chơn chánh đỉnh đạt để gieo sự hòa nhã yêu đương rồi mới gia tề quốc trị.

Thiếu nhân kém đức, tâm chí nông nỗi, chủ hướng mơ màng, chẳng qua tạo cảnh khổ cho nhơn sanh mà thôi. Vậy các con nên trao giồi chữ tâm cho lắm.

Mẹ để ít lời dưới đây cho các con làm chuẩn thằng trong bước Ðạo.

  Gắng sức trau giồi một chữ TÂM,
Ðạo đời muôn việc khỏi sai lầm.
Tâm thành ắt đoạt đường tu vững,
Tâm chánh mới mong mối đạo cầm.
Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,
Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm.
Ðường tâm cửa Thánh dù chưa vẹn,
Có buổi hoài công bước Ðạo tầm."

Mấy bài Thánh Giáo trích lục chúng ta đã được đọc qua là những lời châu ngọc, chúng ta nên cố gắng nhớ để làm kinh nhựt tụng.

Trong bước đường tu, dưới bóng từ bi bác ái của Ðức Chí Tôn, ước mong những lời dạy bảo ấy sẽ giúp ích mãy may cho những đạo hữu ham tìm ánh sáng của chơn lý.

MÙA THU NĂM MẬU TUẤT
(Septembre 1958)

 


 

DIỄN VĂN

CHÚC TẾT XUÂN MẬU TUẤT
Sau buổi lễ Chung Niên - Tháng Chạp Ðinh Dậu

 

Thưa chư Chức sắc lưỡng phái,
Thưa chư Chức việc và Ðạo hữu Nam Nữ,

Năm Ðinh Dậu hầu mãn, xuân Mậu Tuất sắp đến, ngày tháng như thoi đưa, không mấy hôm nữa chúng ta sẽ bước qua mùa xuân vui tươi đẹp đẽ, để cho đời và Ðạo phấn khởi trên đường tiến triển về hình thức lẫn tinh thần.

Một năm đã qua, khác hơn ngoài mặt đời, Chức sắc trong Hội Thánh không tính sổ chung niên để biết lộc vị tấn hay thối, vốn liếng lỗ hay lời, mùa màng được hay thất mà chỉ cân phân về hạnh đức sánh với năm trước có được tiến triển chăng? Công quả có được xứng đáng hơn chăng? Sau nữa hành Ðạo có được ổn định và hoàn mỹ hơn chăng?

Sự so sánh ấy hầu đem lại một bằng chứng hơn hay kém, chúng ta cũng cứ gắng sức nhiều hơn nữa, đặng cho tinh thần đạo đức càng được nâng cao thêm mãi, chúng ta mới có thể dìu cơ phổ độ hầu cứu vớt nhơn sanh cho kịp kỳ theo Thiên ý của Ðức CHÍ-TÔN mong mỏi.

Cần nhứt là chúng ta nên lưu tâm sự nhận định tình thế của Ðạo chẳng căn cứ theo bề ngoài mà phải căn cứ theo tinh thần thiệt mặt của Ðạo là cái căn bản của ÐẠO ÐỨC VÔ HÌNH đã được un đúc từ buổi ban sơ, và nhờ thế Thánh Thể nơi mặt thế của Ðức CHÍ-TÔN mới cảm hóa nhơn tâm và bảo tồn nghiệp Ðạo...

Chức sắc Hiệp Thiên Ðài về đảm đương việc Ðạo được hơn chín tháng nay. Chúng tôi không dám tự hào cho là đủ tài, đủ đức để làm tròn nhiệm vụ nặng nề, nhưng đã chịu sứ mạng Thiêng liêng, chúng tôi cứ tin nơi sự trợ giúp của Ơn Trên, quyết để tâm trí làm việc chung sức với toàn thể Chức sắc đặng xoay chiều đổi hướng thế nào cho được thuận với đời, hiệp với Ðạo, tránh cái hư, tìm cái nên, gắng sức làm tôi tớ cho Ðức CHÍ-TÔN mong thực hành chủ nghĩa độ đời và gieo sự thương yêu trong cửa Ðạo.

Hằng ngày chúng tôi vẫn cầu nguyện với Ðại Từ Phụ bố trí chúng tôi đặng sáng suốt để làm tròn phận sự, một phận sự mà chúng tôi tự biết là quá sức của chúng tôi.

Vì vậy chúng tôi vẫn canh cánh bên lòng nỗi lo lắng về tiền đồ của nghiệp Ðạo. Chúng tôi ước mong toàn thể Chức sắc, Chức việc thông cảm nỗi ưu tư ấy, để tâm giúp đỡ lẫn nhau, hầu đem chiếc thuyền từ đến chỗ thuận nẻo êm dòng, đưa con cái của Ðại Từ Phụ cho đến tận bên bờ giác.

Thưa chư Chức sắc lưỡng phái, chúng ta mang nặng xác phàm thì dầu cho ai cũng không tránh khỏi sơ sót. Cũng may là chúng ta đã làm việc trong tinh thần tập thể, hiệp tâm chung trí, nghe nhau, chìu nhau, ai cũng quyết chí làm nên cho Ðạo.

Nhờ vậy, dầu có sơ sót, thiết tưởng sự sơ sót cũng chẳng đến nỗi nào.

Ngoài ra, chúng tôi không ham lảnh lấy lời khen mà thiếu thành thực, trái lại chúng tôi muốn nghe những lời cải sửa đúng đắn mà không có ác ý và cũng đồng một quan niệm, chúng ta nên thành thật cải sửa lẫn nhau chúng ta mới mau tiến triển trên đường đạo đức.

Năm cũ sắp tàn, thời gian trôi qua thấm thoát, tuổi chẳng chờ người mà phận sự còn bộn bề chưa biết đâu là cứu cánh.

Một đại thi gia ngày xưa của Việt Nam đã tiếc thời gian trôi qua mà không nên việc trong hai câu:

  "Vô thành vãng nhựt tư nan tích,
Dĩ lão đương xuân sấm mạc sầu."
Thích nôm:  
  "Ngày qua đáng tiếc chưa nên việc,
Già đến đừng phiền với chút xuân."

Công việc chúng tôi đã thực hành trong năm kể từ ngày Rằm tháng tư, tuy đem lại một kết quả chưa gọi là hoàn toàn tốt đẹp theo ý muốn, nhưng chúng tôi đã gắng sức làm việc đã có giúp ích phần nào cho đời cho Ðạo, thì những ngày trôi qua cũng không phải đáng tiếc.

Ðối với Ðạo, năm Ðinh Dậu là năm đáng buồn nhứt mà cũng đáng vui nhứt.

Buồn là vì có biến chuyển xảy ra trong lúc đầu năm làm cho con cái của Ðạo phải chịu thống khổ, nhân tâm ly tán tình thế đảo điên.

Vui là vì nhờ quyền năng vô đối của Ơn Trên mà cơ phục hưng lần hồi thực hiện, để cho toàn Ðạo vững tâm lo bề tu niệm, Hội Thánh tiếp tục điều khiển việc Ðạo và phục vụ nhơn sanh.

Trong cửa Ðạo về phần vật chất, nhơn sanh còn lắm vất vả, nhưng cũng vẫn hy sinh chịu khổ hạnh đủ mọi phương diện để giúp phần xây dựng cho nền chánh giáo.

Chúng tôi không khỏi ngậm ngùi khi mà Hội Thánh thấy chưa có thể lấp bằng những chỗ thiếu thốn của bao nhiêu đạo hữu hiến thân cho Ðạo, mặc dầu chúng tôi đã cố gắng cải thiện phần nào tình trạng ấy.

Chúng tôi vẫn lưu tâm lo tìm phương chước đem lại cho đời sống của bổn Ðạo một sự an ủi thiết thực, cần yếu và chúng tôi tin chắc rằng trong sự cộng tác thành thật của lưỡng đài Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài, chúng ta hy vọng một tương lai vui tươi tốt đẹp hơn.

Hiện giờ cùng chung chịu cảnh thanh bần của Ðạo, chúng tôi phải tiết kiệm đồng tiền của Ðạo hết sức cân phân lợi hại trước khi tiêu phí, vì đó là huyết mạch của nhơn sanh, chúng ta không có quyền phung phí vô lối. Chúng tôi nhận thấy toàn thể Hội Thánh đã gắng công phần nào về mặt tiết kiệm. Vậy chúng ta cố gắng thêm mãi và tin tưởng nơi tình yêu thương cao cả của Ðại Từ Phụ, chúng ta nên bằng lòng với cái chi chúng ta đương có, để tâm lo tròn nhiệm vụ đối với Ðạo.

Ðó là điều cần yếu trước nhất, chúng ta chỉ vì lo không nhất tâm nhất trí mà phải phụ lòng tin cậy của Ðại Từ Phụ mà thôi.

Vậy cúng buổi lễ chung niên, chúng ta kính cẩn dâng lên Ðại Từ Phụ và Ðại Từ Mẫu tấm lòng chơn thật, thương Ðạo mến Thầy. Cầu xin hai Ðấng Tạo Ðoan tối cao hỉ xả tất cả cái gì còn thô sơ thiếu kém và trợ giúp chúng ta đi đến chỗ thành công mỹ mãn.

Hôm nay nhân buổi lễ nầy, thay mặt cho Chức sắc Hiệp Thiên Ðài, tôi có lời cầu chúc toàn thể Chức sắc, Chức việc lưỡng phái Hành Chánh và Phước Thiện cùng chư Thiện nam Tín nữ được đầy đủ sức khỏe, gia đình hòa hiệp đầm ấm vui tươi và ngưỡng xin Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU ban đầy ân huệ cho toàn Ðạo, sau nữa dìu dắt cả anh chị em vững bước trên đường thiện niệm để cùng nhau chung lo giữ gìn đại nghiệp của Ðạo.

TM. Toàn thể Chức sắc Hiệp Thiên Ðài
Thượng Sanh

 


 

ÐIẾU VĂN

ÐỌC TRƯỚC LIÊN ÐÀI
CỦA NGÀI BẢO VĂN PHÁP QUÂN CAO QUỲNH DIÊU
Ngày 6 tháng 9 năm Mậu Tuất (dl. 18/10/1958)

 

Kính thưa chư quí Quan Chức,
Kính thưa chư quí Khách quan,
Kính thưa quí Ông, quí Bà,

Thay mặt cho Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài tôi xin thành thật để lời cảm ơn quí vị không nệï xa xôi khó nhọc có lòng chiếu cố đến dự lễ an tọa liên đài của Ðạo huynh chúng tôi là ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu một vị trong hàng Thập Nhị Bảo Quân Hiệp Thiên Ðài.

Thưa Hội Thánh và toàn Ðạo hữu lưỡng phái, trước liên đài tôi xin nhắc lại công nghiệp của ngài Bảo Văn Pháp Quân đã hết lòng tận tụy với sứ mạng thiêng liêng và đã trải qua bao nhiêu khổ đau cực nhọc để góp phần xây dựng nền Ðại Ðạo trong lúc ban sơ.

Hưởng thọ 73 tuổi, ngài Bảo Văn Pháp Quân sanh trưởng tại làng Hiệp Ninh, Tổng Hàm Ninh Thượng thuộc tỉnh Tây Ninh, trong một gia đình thế phiệt Nho phong. Cụ thân sinh của Ngài có 3 người con trai mà Ngài là anh cả và kế ngài là Ðức Cao Thượng Phẩm của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Ngài là một vị trong những Chức sắc Hiệp Thiên Ðài mà buổi Ðạo mới khai, Ðức CHÍ-TÔN và các Ðấng Thiêng Liêng đã đến dìu dắt trước nhứt để giao phó cho sứ mạng thiêng liêng sử dụng cơ bút đặng độ nhơn sanh nhập vào cửa Ðại Ðạo.

Ðầu năm 1926, tức là năm Bính Dần, một lượt với chư vị Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài, Ngài đắc lịnh nâng loan, hiệp cùng Ðức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt lúc còn đương phẩm Ðầu Sư và các vị Ðại Thiên Phong Cửu Trùng Ðài đi phổ độ khắp các tỉnh, nhứt là các tỉnh trung ương và Miền Tây Nam Việt.

Mặc dù còn giúp việc cho một hãng tư, ngài không nệ cực nhọc gắng làm tròn nhiệm vụ trong hai năm Bính Dần và Ðinh Mão (1926-1927) là hai năm mà Ðức CHÍ-TÔN cho huyền diệu cơ bút thâu nhập môn gần một triệu tín đồ, đem lại cho nền Ðại Ðạo một thắng lợi vẻ vang về mặt tinh thần cũng như về mặt phổ thông chơn Ðạo.

Ngài thọ phong Tiếp Lễ Nhạc Quân năm Ðinh Mão (1927). Qua năm Kỷ Tỵ (1929) lối tháng mười, mặc dầu hưởng lương bổng trọng hậu, Ngài phế đời về Tòa Thánh hiến thân lo Ðạo, giúp Hội Thánh sắp đặt nội bộ và nhất là góp công trong việc nâng loan cho Ðức CHÍ-TÔN và các Ðấng dạy truyền giáo lý.

Ðầu năm Canh Ngọ (1930), được đắc phẩm Bảo Văn Pháp Quân, Ngài cố tâm chấn chỉnh lễ nhạc, ra công dạy nhạc cho Ban Nhạc sĩ tại Tòa Thánh, từ điệu nghệ cầm roi trống cho tới bài bản âm nhạc. Ðến cuối năm Canh Ngũ, ngài rủi bị nạn hỏa tai, cả nhà cửa sự nghiệp bị thiêu hủy, nên vì sinh kế Ngài trở về Phú Nhuận (Gia Ðịnh).

Kế một thời gian qua, Ngài hiệp với mấy bạn Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Ðài để gầy dựng cơ quan tái lập tại Thất Từ Vân nơi Phú Nhuận, lo chú giải Tân Luật Pháp Chánh Truyền và lập điều lệ phụ thuộc để sau nầy giúp cho Chức sắc dễ thi hành phận sự. Mãi đến năm Canh Dần (1950), Ngài trở về Tòa Thánh quyết lòng cộng tác với Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài lo làm phận sự.

Nhưng từ ngày ấy đến sau, vì tuổi cao sức yếu Ngài không thể đảm đương nhiệm vụ chung lo với Hội Thánh. Hơn nữa, Ngài phế cả sự nghiệp vì chủ nghĩa của Ðạo và bởi đó, ngài lắm chịu vất vả về mặt vật chất, xác thân càng ngày thêm tiều tụy hao mòn.

Vừa rồi Ngài ngọa bịnh không mấy ngày, bỗng phút vĩnh biệt cố thân, xa miền dương thế. Hôm nay Ngài Bảo Văn Pháp Quân đã ra người thiên cổ. Tuy đã biết nợ Ðạo rồi xong, tuồng đời chấm dứt, Ngài đã trả xác trần lại cho gió bụi để trở về với Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ, và rồi đây chúng tôi có thể tiếp xúc với Ngài bằng huyền cơ diệu bút, nhưng trước cảnh từ biệt kẻ mất người còn, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi, mến tiếc khi nhớ đến bạn đồng thuyền đã cùng chúng tôi chia sớt ấm lạnh, mặn nồng và chung lưng đâu cật trót hơn mấy mươi năm để mưu cầu hạnh phúc của nhơn loại.

Vậy nơi đây là nơi Ngài an nghỉ giấc ngàn thu, chúng tôi thành kính nghiêng mình để bái biệt liên đài lần cuối cùng và xin thành tâm cầu nguyện cho Ngài được hưởng đầy đủ ân huệ của Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

TM.Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài
Cao Thượng Sanh

 


 

HUẤN TỪ CỦA ÐỨC THƯỢNG SANH

Ðọc trong buổi lễ nhậm chức Quyền Ðầu Sư của Ngài Bảo Thế
(Ngày 19 tháng Giêng năm Kỷ Hợi)

 

Kính thưa: -Chư Chức sắc lưỡng phái,
- Chư Chức việc và Ðạo hữu nam nữ,

Buổi lễ hôm nay là buổi lễ "nhận chức" Quyền Ðầu Sư của ông Bảo Thế, một vị thời Quân HTÐ vừa được HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài đề cử lãnh nhiệm vụ điều khiển ở Cơ Quan Hành Chánh Ðạo giúp cho HỘI-THÁNH Cửu Trùng Ðài làm tròn phận sự.

Tôi xin giải thích lý do của sự đề cử này:

Từ trước bên CTÐ nhờ có ông Khai Ðạo giúp sức. Ông Khai Ðạo đã hành sự với chức vụ Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, hiện tại ông lãnh phận sự cố vấn cho HỘI-THÁNH Cửu Trùng Ðài.

Nhưng vì quá bận rộn công việc, ông Khai Ðạo xin chấm dứt nhiệm vụ cố vấn trên đây để có thời giờ điều khiển và lo chỉnh đốn Cơ Quan Phước Thiện.

Vì đó HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài đề cử ông Bảo Thế đảm nhiệm Quyền Ðầu Sư với thẩm quyền rộng hơn chức Cố Vấn để cho công việc Cửu Trùng Ðài được tiến triển tới chỗ hoàn hảo.

Ông Bảo Thế là một vị Thời Quân Hiệp Thiên Ðài đã hành sự thâm niên nơi Tòa Thánh, có nhiều kinh nghiệm, am hiểu tình hình Ðạo, đủ sáng suốt nhận định cũng như đủ công tâm phục vụ và đã từng giúp sức đắc lực cho HỘI-THÁNH trong thời kỳ đã qua. Có lẽ toàn thể Chức sắc lưỡng phái cũng đồng nhận thức điều nầy, vì vậy tán dương tài đức và công nghiệp của ông là một sự thừa.

May thay, trong lúc nội bộ cần phải được cải tổ, trong lúc hành chánh Ðạo cần phải chấn chỉnh để cho nền chánh giáo được thuần túy hơn và có đủ năng lực phổ độ nhơn sanh theo Thánh giáo của Ðức Lý Ðại Tiên đêm 17/10/Ðinh Dậu, ông Bảo Thế không nệ khó khăn lao nhọc, sẵn lòng đáp theo tiếng gọi của HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài, chịu ra gánh vác một trách nhậm nặng nề để giúp cho HỘI-THÁNH HTÐ cầm vững giềng mối Ðại Ðạo và Cửu Trùng Ðài làm tròn phận sự. Ðó là một thiện chí tuyệt đối, một hy sinh cho chủ nghĩa thương đời vậy.

Hướng về hạnh phúc của nhơn sanh và nhơn danh HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài, tôi xin đề cao tinh thần phục vụ của ông Bảo Thế.

Nói đến hạnh phúc của nhơn sanh, tôi có lời tâm huyết cùng toàn thể Chức sắc lưỡng phái: Người trên đã vì nhơn sanh mà phục vụ thì cấp dưới cũng vì nhơn sanh mà hết lòng hưởng ứng giúp sức, khép mình vào khuôn viên kỷ luật để cho trên thuận dưới hòa, cùng nhau góp công chung trí hầu đem lại một thắng lợi vẻ vang cho nền chánh giáo.

Ðời còn nhiều đau khổ thì trách nhiệm của người hành Ðạo còn lắm nặng nhọc. Những vị cầm quyền Ðạo lại còn phải chịu lao tâm tiêu tứ nhiều hơn nữa để san bằng những nỗi khó khăn phức tạp, làm cho trong vui ngoài đẹp, cơ Ðạo mới được êm ấm điều hòa, tiến triển vững vàng, nêu cao ngọn cờ cứu khổ.

Cái quyền chỉ huy ấy phải được triệt để ủng hộ, kính nể, trật tự mới phân minh, mối giềng mới chặc chẽ, người cầm quyền mới có thể bảo thủ uy danh của Ðạo, trụ vững tinh thần để điều khiển dìu dắt con cái của Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ đi trọn vẹn trên đường Thánh Ðức.

Rốt cuộc lại thì anh lớn, em nhỏ đặt quyền lập pháp chi chi cũng để hướng về hạnh phúc của nhơn sanh và tiền đồ đại nghiệp của Ðạo. Vậy kể từ ngày nay ông Bảo Thế chánh thức nhận chức Quyền Ðầu Sư Cửu Trùng Ðài do Ðạo lịnh số 15 ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Hợi.

Tôi thành tâm cầu nguyện Ðức CHÍ-TÔN, Ðức PHẬT-MẪU các Ðấng Thiêng Liêng ban ơn giúp sức cho ông làm tròn nhiệm vụ và yêu cầu toàn thể Chức sắc, Chức việc lưỡng phái hết lòng ủng hộ và giúp đỡ ông trong trách nhậm nặng nề mà ông được giao phó./.

THƯỢNG SANH HIỆP THIÊN ÐÀI

 


 

DIỄN TỪ của Ðức THƯỢNG SANH

Ðọc tại ÐỀN THÁNH sau khi cúng lễ Chung Niên đêm 23 tháng Chạp KỶ HỢI

 

Kính thưa Chư Chức Sắc, Chức Việc và Ðạo Hữu Nam Nữ,

Một năm đã hầu mãn, hôm nay là buổi lễ cúng Tất Niên. Rồi đây chúng ta sẽ tạm nghỉ ít ngày để đón Xuân, cái Xuân nồng nàn xinh đẹp của võ trụ mà cũng là cái Xuân tươi thắm của người ở thế gian, một dịp thay cũ đổi mới gieo vào lòng nhân thế biết bao hy vọng để phấn khởi trên đường nhiệm vụ tương lai.

Nhưng cái Xuân của trời đất thì qua lại thay đổi không ngừng, Xuân mãn rồi Xuân về, năm tàn rồi năm khác đến. Còn cái Xuân của người thì chỉ có một thời, cứ đến trong một lúc rồi thoát qua mà không còn trở lại nữa.

Có khác nào:

  Xuân tàn xơ xác trăm hoa rụng,
Thềm cũ nhành trơ bóng nguyệt tà.

Nghĩ đến sự ngắn ngủi của kiếp nhơn sanh có nhiệm vụ trong cửa Ðạo, không khỏi băn khoăn lo sợ khi tự khỏi lấy mình:

  • TA CÓ THẤT LỜI TUYÊN THỆ VỚI ÐỨC CHÍ TÔN CHĂNG?

  • TA CÓ LÀM CHI GIÚP ÍCH CHO ÐẠO CHƯA?

  • TA CÓ ÐEM CÔNG QUẢ ÐỂ CHUỘC CÁC ÐIỀU LẦM LỖI CỦA TA TRONG ÐỜI SỐNG HIỆN TẠI CHƯA?

Tự hỏi lấy mình rồi, nếu là người biết phục thiện, có công tâm đối với nghĩa vụ, tất nhiên phải xung xăng bước tới trên đường lập vị, không còn chần chờ nữa, vì ngày tháng sẽ thoát qua và sẽ bỏ rơi ta lại với một mớ tuổi chập chồng với một thân hình gầy yếu và một sự rên xiết đau thương. Bao nhiêu nguồn tinh lực hăng hái của tuổi xuân sẽ bị cuốn mất theo giòng thời gian của võ trụ.

Ngày qua thật đáng tiếc, nhất là khi sức đã mòn, tâm trí đã cằn cỗi mà công nghiệp đối với Ðạo và nhơn sanh vẫn còn là một con số không thì dầu có ân hận bao nhiêu cũng chỉ vô ích mà thôi. Tôi nhớ lại một bài Thánh giáo của Ðức CHÍ TÔN trong ngày đầu năm Kỷ Tỵ (10/2/1929) và xin trích lục một đoạn sau đây:

"Ôi! Xuân tàn rồi Xuân đến, cái Xuân của người đã rấp lụn hao mà rồi cái Xuân của trời đất nước non cũng chưa chắc là vô cùng tận. Các con nếu biết chịu khổ tâm, biết dày vò tình thế, biết chịu kém sút trong nẻo lợi đường danh, biết chịu thiệt mình mà đặng cho kẻ khác, biết đổ lụy để cho kẻ vui cười, biết nhọc nhằn trong kế sinh nhai, biết giữ tâm trí cho thanh bạch, đừng nhơ bợn của chẳng nên dùng, biết động mối từ tâm, thương người hơn kể mình thì là các con được tắm gội hồn trong mà về cùng Thầy đó. Nét nào chưa vẹn, khá biết sửa lần chớ nên trì hưởn."

Nếu mỗi Chức sắc, mỗi Ðạo hữu đều để tâm làm y theo lời của Ðức CHÍ TÔN thì chẳng những Ðạo phát triển và cao vọi tột mây xanh mà nơi nào có bóng cờ của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, nơi đó là cảnh Thiên đàng tại thế vậy.

Trải qua 35 mùa Xuân, mặc dầu Ðạo đã tiến bước ít nhiều nhưng chưa được theo ý trông đợi của Ðức CHÍ TÔN. Là vì đối với Ðại nghiệp của Ðạo, dầu cho Chức sắc của Hội Thánh có thiện chí xây dựng thế nào mà bao nhiêu người khác không phụ lực tô điểm, không đi đúng nhịp nhàng thì cũng không dễ đoạt mức thành công được.

Toàn thể Chức sắc Thiên phong phải chung lưng đâu cật, đồng tâm hiệp trí, vứt bỏ bản ngã, lấy danh dự Ðạo làm trọng, hết sức phụng sự nền Chánh giáo thì bước đường mới được êm ấm, khúc nhạc mới linh động điều hòa, chiếc thuyền từ mới vững lái êm dòng lo vớt khách trầm luân nơi vùng khổ hải.

Ðạo là tình thương, một tình thương bao la không bờ bến.

Có thương chúng ta mới phục vụ cho nhơn sanh, mới vùi thân khổ hạnh để rèn trau đức tính dìu dắt nâng đỡ lẫn nhau. Ðược vậy, chúng ta mới có đủ minh mẫn, đầy chí vị tha để đưa người từ chỗ tối ra chỗ sáng, từ chỗ dữ tới chỗ hiền, và nhờ đó chúng ta mới đoạt thủ công trạng phi thường trên trường thi công quả.

Thương người như thế tức là thương mình đó. Chí ư thương mình theo đời phù phiếm xa hoa tức là để cho dục vọng lôi cuốn theo mồi danh bả lợi, thâu của hoạnh tài làm điều phi nghĩa đễ rồi sa vào cảnh trụy lạc vướng lấy tội tình, rốt cuộc thân thể bị đọa đày nơi hang sâu vực thẳm.

Ðó chẳng phải là thương mình mà thật là mình tự ghét mình vậy. Trên bước đường lập vị, có khi quá khiếm khuyết về vật chất, quá khổ đau vì đời sống vất vả thất thường, người tu hành có thể than khóc và rối loạn tinh thần. Nhưng tin tưởng nơi lòng yêu thương của Ðức CHÍ TÔN Ðại Từ Phụ và nơi tấm thạnh tình chia vui sớt nhọc của các bạn đồng thuyền, người đau khổ cũng tự an ủi được vì ở trong cảnh ngộ đó cũng chưa phải là quá thất vọng chán nãn đưa đến chỗ bán đồ nhi phế bỏ dở hành trình.

Có khi đó là một cuộc thử thách, một giai đoạn nhồi nắn của cơ Thiêng liêng để cho người hy sinh vì Ðạo trở nên một đấng phi thường đáng làm tôi tớ Ðức CHÍ TÔN trên đường giải thoát cho nhơn loại. Ðức CHÍ TÔN đã dạy: "Các con phải chịu thiệt mình để đặng cho kẻ khác vui cười, tức nhiên con đường đau khổ là con đường độc nhất của người tu hành phải trải qua mới bước đến tận nơi bờ giác."

Chúng ta được sống trong vòng đạo đức nghĩa nhơn dưới bóng yêu thương của Ðức CHÍ TÔN Ðại Từ Phụ, một đời sống của kẻ lánh giả tầm chơn, tuy đạm bạc trong bửa muối dưa nhưng nồng nhuộm nét trong sạch thanh cao, chúng ta thử ngó lại ngoài mặt xã hội còn biết bao nhiêu người xấu số cơ cực bần hàn, bếp trưa vắng khói, áo mỏng đêm đông, vất vả lầm than, mưa chiều nắng sớm, không được một lời an ủi, không một ý nghĩa về kiếp sống thừa, thì cái đau khổ về hình thể lẫn tinh thần của hạng người ấy mới thật là đáng thương xót.

Ngày nào Ðạo Cao Ðài có đủ phương tiện cứu vớt tất cả những kẻ xấu số nói trên đem nhường cơm, chia áo, dìu dắt nhủ khuyên đưa họ đến tận nơi Ðạo Ðức dưới bóng từ bi thì mục đích cứu khổ của Ðạo mới vẹn toàn theo ý muốn của Ðức CHÍ TÔN Ðại Từ Phụ.

Năm cũ hầu tàn, cúng buổi lễ tất niên tôi có ý bàn bạc với quý Hiền huynh, Hiền tỷ, quý bạn về tình yêu thương của Ðạo để gợi lại trong tâm trí của mỗi vị một yếu tố căn bản mà Ðức CHÍ TÔN thường dạy phải dùng làm phương châm trên đường phổ độ.

Một năm qua, Hội Thánh đã gắng công làm việc để đem lại sự hòa nhã an vui cho nền Ðại Ðạo. Phận sự nhiều lúc quá nhọc nhằn phức tạp mà chúng ta vẫn tương đắc trong tinh thần kỹ luật và trong sự hiểu biết lẫn nhau.

Vậy tôi để lời cám ơn toàn thể Chức sắc lưỡng phái C.T.Ð. Phước Thiện. Tôi mong ước qua năm Canh Tý, Chức sắc và Chức việc đều gắng sức nhiều hơn nữa để nâng cao thêm tinh thần Ðạo Ðức và đem lại kết quả tốt đẹp cho Cơ phổ độ.

Trên bước đường hành sự, chúng ta phải làm thế nào cho Ðạo đời tương đắc, nhứt là giúp ích cho quê hương xứ sở về mặt tinh thần, lo giáo hóa nhơn sanh tiến tới đường đạo đức, làm lành lánh dữ, mến chuộng công lý, biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau đặng cùng xây dựng hạnh phúc chung cho đồng bào, chúng ta mới cộng hưởng cảnh thái bình an cư lạc nghiệp.

Trước khi dứt lời, tôi cầu xin Ðức CHÍ TÔN, Ðức PHẬT MẪU ban hồng ân cho toàn thể Chức sắc, Chức việc C.T.Ð. cũng như Phước Thiện và toàn cả Ðạo hữu Nam Nữ.

Sau nữa, thay mặt cho Hội Thánh H.T.Ð., tôi cầu chúc cho mỗi vị đầy đủ sức khỏe, được hưởng một cái Tết vui tươi êm dịu trong cảnh sum họp gia đình và trong vòng thân ái của bạn bè quyến thuộc./.

TM. HỘI THÁNH HIỆP THIÊN ÐÀI
THƯỢNG SANH

 


 

Thuyết về LUẬT NHƠN QUẢ

NHÂN VÍA ÐỨC PHẬT THÍCH CA (Ngày 8/4 Tân Sửu)

 

Phật Giáo gọi tất cả những thú vui trên đời là Dục Lạc, tức là nguồn gốc của đau khổ.

Vậy muốn hạnh phúc thật, con người không nên chạy theo dục lạc mà phải diệt trừ dục lạc. Trước hết sự tiêu diệt dục lạc phải bắt đầu từ phép TRI TÚC. TRI TÚC là bằng lòng với những gì mình đang có, mình có thể có với sức của mình và trong phạm vi đạo đức.

Người tri túc thì dầu nằm trên đất cũng cho là sung sướng, người không biết tri túc dầu nằm trên đống vàng vẫn thấy chưa đầy đủ.

Vì bởi không biết tri túc, không cượng nỗi với lòng ham muốn cho nên người ta chạy theo dục lạc, làm điều bất chánh gây ra tội lỗi dẫy đầy.

Sự hành động của ta là NHÂN, tức là NGUYÊN NHÂN, sự báo ứng hay là kết quả của hành động đó tức là QUẢ.

LUẬT NHÂN QUẢ là một LUẬT THIÊNG LIÊNG, CÔNG BÌNH không ai dưới thế nầy thoát ra khỏi luật ấy được.

NHÂN QUẢ do nơi chữ Phạn "KARMA" có nghĩa là cái nghiệp hay là hành động.

Khi ta có hành động gì, đó tức là KARMA.

Chúng ta tụ họp nhau để dâng lễ Ðức CHÍ TÔN, đó là chúng ta tạo ra một hình thức KARMA.

Khi chúng ta nói chuyện, khi chúng ta giận hờn, thương xót ai hay ghét ai, hoặc tính mưu định kế chi, đó là chúng ta tạo ra KARMA.

Vì lẽ, khi ta làm một việc gì, ta phải tiêu phí đi một ít nghị lực, sự làm của ta gây một phản động hay là một kết quả tương đương và người hành động phải hứng chịu kết quả đó.

LUẬT NHƠN QUẢ cũng gọi là LUẬT ÐIỀU HÒA hay là LUẬT CÔNG BÌNH, và nếu người ta có hành động nào bất chánh làm cho mất sự điều hòa của Ðạo lý hay là mất sự công bằng thiêng liêng (ví dụ gạt người lấy của, thâu đa nạp thiểu, hại người để lợi cho mình, ỷ thế hiếp cô, mưu mô để làm việc bất chánh v.v...) thì Ðấng Tạo Ðoan sẽ lập lại sự thăng bằng, đem một cái quả để báo ứng vào kẻ đã phạm pháp cho đúng theo Luật quân bình của Trời Ðất.

Bởi đó, mọi sự sanh ra trong đời của chúng ta đều phải có một nguyên nhân kết cấu mà ra.

Cái đời sống của ta hiện giờ giàu sang hay nghèo hèn, liền lạc hay tật nguyền, xinh đẹp hay xấu xa, được yêu vì hay bị ngược đãi, an vui hạnh phúc hay lắm chịu thiên ma bách chiết, cũng đều do ta gây nhân ở tiền kiếp.

Cái nhân ở kiếp trước đã định vận mạng cho kiếp này thì ở kiếp này ta cũng có thể gây những nhân lành để định vận mạng ta ở kiếp vị lai. Thành thử tự ta cả tạo đời sống của ta chứ không có một Ðấng Thiêng Liêng nào định mạng cho ta cả. Buồn vui, cực sướng là do hành vi của mình tạo ra, hễ gây nhân lành thì trả lại quả vui, gây nhân ác thì trả lại quả dữ, trồng hoa được hoa, trồng đậu được đậu, chính ta định vận mạng cho ta mà thôi.

Ví dụ cờ bạc gây ra cái quả thiếu hụt, nợ nần, vì thiếu hụt phải lường gạt hay trộm cắp; trộm cắp gây ra cái quả lao tù. Bây giờ bỏ dứt sự cờ bạc, lo làm ăn lương thiện thì tất nhiên phải được an thân, khỏe trí. Phật Giáo dạy rằng: "Nhất thiết do tâm tạo," nghĩa là tất cả đều do lòng người tạo nên. Người ta tự tạo cho mình từ sự đau khổ hoặc sự hạnh phúc cho đến ngôi vị Tiên Phật chi chi đều do nơi lòng mình cả thảy.

Vì vậy, trăm ban vạn sự trên thế gian nầy đều có nguyên nhân chớ chẳng phải tình cờ mà chẳng phải do một định mạng nào cả. Tự ta làm cho đời ta phải khổ, ta tự trói buộc vào vòng luân hồi thì ta phải tự tháo mở, tự giải phóng cho ta vậy.

Có nhân quả tức là có luân hồi. Vậy LUÂN HỒI là gì? LUÂN nghĩa là bánh xe, HỒI nghĩa là xoay tròn. LUÂN HỒI tức là bánh xe xoay tròn không manh mối, không thủy chung.

ÐỨC PHẬT THÍCH CA thấy chúng sanh cứ sanh rồi chết, chết rồi lại sanh, cứ mãi bị trói buộc trong vòng sanh tử để trả nghiệp quả không thể thoát ra khỏi nên gọi là LUÂN HỒI.

Giờ đây hiểu thấu cái nguyên nhân của sự VAY TRẢ ở cõi đời, tự nhiên ta nhận thức tại sao mà ta sanh ra ở cõi thế, ta từ nơi nào mà đến vậy và đến đây để đi về đâu? Tại sao con người phải khổ đau? Phải rên siết?

Kinh nhơn quả có nói: "Dục tri tiền thế nhân kim sanh thọ giã thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị." Nghĩa là muốn biết nhân đời trước xem kết quả đời này, muốn biết kết quả đời sau xem nguyên nhân đời hiện tại.

Mỗi người đều mang vào thân cái quả hay là nghiệp hoặc nhiều hoặc ít. Nếu trong kiếp sanh chúng ta vừa trả quả tiền kiếp vừa tạo nhân lành cho kiếp sau, nghĩa là mỗi người dầu ở trong hoàn cảnh nào đều giữ lòng công bình chơn chánh, thương người mến vật, khắc kỷ tu thân thì trên đời gió bụi này đâu còn trông thấy những cảnh trạng đau thương khốc hại nữa.

Luật nhân quả vẫn mầu nhiệm sâu xa. Có khi nhân ở kiếp trước sanh ra quả đời này, có khi nhân ở kiếp nầy sanh ra quả ở kiếp sau.

Các nhân quả ấy xen lộn hoặc nhập lại thành cái thân tâm và cảnh giới của con người để sắp đặt cuộc thành bại, hư nên, họa phước của mỗi cá nhân một cách công bình mực thước.

ÐẠO LÃO gọi Luật Nhân Quả là CẢM ỨNG. CẢM có nghĩa là xúc, là động hay là hành động. ỨNG nghĩa là đối đáp, dội lại hay là phản động. CẢM ỨNG nghĩa là có sự hành động trước rồi mới có cái sức dội lại hay là sự phản động sau.

Kinh CẢM ỨNG của Ðức THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN khởi đầu như vầy:

"Họa phước vô môn duy nhơn tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình".

Nghĩa là điều họa hay phước không có ngõ nhứt định, chỉ tại người tự dời đến cho mình, sự dữ lành hai lẽ báo ứng tỷ như cái bóng đi theo cái hình vậy.

Theo kinh CẢM ỨNG, con người thở ra thở vô, hơi thở đều có thông đồng với khí hư vô của Trời, cho nên niệm tưởng vừa phát động tuy người phàm không hay chớ Trời đã rõ thấu.

Vì vậy Ðức THÁI THƯỢNG dạy rằng: Trong lòng vừa khởi tưởng đến việc lành, việc lành tuy chưa làm mà vị thần lành đã theo mình, hoặc trong lòng vừa khởi tưởng đến việc dữ tuy chưa làm ra mà vị thần dữ đã kế bên mình (Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi nhi kiết thần dĩ tùy chi, hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi hung thần dĩ tùy chi).

Ông TRANG TỬ nói rằng: Nhứt nhựt bất thiện niệm, chư ác giai tự khởi; Một ngày không tưởng đến việc lành, thì mọi việc dữ đều tự nó dấy lên.

NHO GIÁO cũng có luận về luật BÁO ỨNG y như LUẬT NHÂN QUẢ.

Ðức KHỔNG TỬ dạy rằng: Vi thiện giã thiện báo chi dĩ phước, vi bất thiện giã thiện báo chi dĩ họa, Nghĩa là: Kẻ làm điều lành thì Trời lấy phước mà trả cho, kẻ làm điều chẳng lành thì Trời lấy họa mà trả cho.

Lại nữa, Ðức KHỔNG TỬ có dạy một lời thiết thực đáng ghi nhớ là khi Ngài đau, Thầy Tử Lộ xin phép khẩn đảo. Ngài hỏi xưa có làm như vậy chăng? Thầy Tử Lộ trả lời: Thưa có vậy, vì trong Văn Lễ có nói: Ðảo nhỉ vu thượng hạ thần kỳ. Chúng tôi khẩn đảo các Ngài là Chư Thần trên Trời và dưới Ðất. Ðức KHỔNG TỬ mới nói: Khâu nầy đã khẩn đảo lâu rồi, vì bình nhựt thấy lỗi thì cải ngay, thấy lành thì dời ngay. Ðó là ta khẩn đảo thường thường nào phải chờ đến ngày nay đâu?

KINH THƠ dạy rằng: "Thiên tác nghiệt du khả vi, tự tác nghiệt bất khả hoại". Trời xuống họa còn có thể tránh, tự mình gây họa thì không thể sống nỗi.

Ấy vậy, chúng ta đã học Ðạo thì phải tin LUẬT TRỜI rất công minh, lành dữ báo ứng một mảy không sai chạy.

ÐỨC CHÍ TÔN có dạy trong những bài Thánh giáo năm Bính Dần (1926) như sau đây:

"Thầy đến để độ rỗi cho các con là lập thành một trường công quả cho các con nên Ðạo. Vậy đắc Ðạo cùng chăng tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi đường nào khác mà đắc Ðạo bao giờ. Các con không tu, không tự lập ở cõi thế này là cái đời tạm của các con thì Thầy cũng không bồng ẫm các con mà đỡ lên cho đặng. Các con làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cải nơi Thiên Luật, phải quấy Thần Thánh, chỉ chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc."

Là người trong cửa Ðạo, chúng ta nên gắng lập công bồi đức, gây nhân lành, tránh quả dữ để cho đời tu hành được trong sạch thanh cao mới chẳng uổng một kiếp sanh may duyên gặp Ðạo.

Ðời người qua thắm thoát, thoạt còn thoạt mất như vầng mây nổi, như giọt sương tan. Những cảnh ruột đứt châu rơi hằng diễn ra để đày đọa vày bừa con người giữa chốn sông mê biển khổ. Chúng ta phải quyết tâm thực hiện, phải hồi tâm cải hóa, phải gắng công tu và chỉ có sự tu hành chơn chánh mới giúp ta cởi mở các dây oan trái, chuộc tội tiền khiên để đi trọn vẹn trên đường giải thoát./.

THƯỢNG SANH

 


 

LƯƠNG TÂM

Ðêm 14 Tháng Giêng Nhâm Dần tại Ðền Thánh (1962)

 

Tâm hay là Lương Tâm là một vấn đề mà về mặt Ðạo người ta đã có nhiều bàn luận và có nhiều lý thuyết, nhưng đem những lý thuyết ấy ra thực hành thì ít ai có thể làm được.

LƯƠNG TÂM là gì?

Lương Tâm là một nguồn sáng thiêng liêng, một điểm linh quang của Trời ban bố cho con người để khuyên lơn dìu dắt và soi sáng bước đường đời cũng như đường Ðạo của mỗi cá nhân trong kiếp sanh. Dầu cho Thần Thánh Tiên Phật khi xuống thế mang xác phàm, thì buổi chung qui được thưởng hay phạt, đọa hay thăng đều do nơi Tâm cả, và con người được tánh linh hơn muôn vật là nhờ có Lương Tâm vậy.

Nên để ý là trong các đẳng cấp nhơn sanh, người dầu sang hay hèn, Thánh nhân hay là Phàm nhân cái Lương Tâm của Thiêng liêng ban cho đều có sự sáng suốt ngang nhau không khi nào chênh lệch.

Vì lẽ đó, nếu mỗi người ai cũng theo Thiên lý mà tu dưỡng và hành động thì cả thảy đặng được trọn lành.

Xưa thầy Nhan Hồi đã nói: Vua Thuấn là người nào, ta là người nào. Ai theo Ðạo mà làm thì cũng thế cả.

Tâm được sáng suốt mãi hay là trở nên mờ tối là do nơi con người biết nuôi nấng nâng cao nó lên hay là đàn áp làm cho nó bị che lấp mất.

Tâm ở nơi con người là một vị thần hộ mạng, là tiếng nói của lẽ phải, tiếng nói của thiên lương, của chơn lý, tức là tiếng nói của Trời.

Khi con người bị cám dỗ vào đường bất chánh, bị lôi cuốn theo sắc dục hoặc lợi quyền thì Lương Tâm chực sẵn để cản ngăn bằng những lý lẽ cao siêu. Vì đó có sự phản ứng, có tiếng đối lập với dục vọng, tức là với tà thần.

Cứu cánh của sự xung đột giữa LƯƠNG TÂM và DỤC VỌNG có khi Lương Tâm đắc thắng, đó là Thánh đức thắng tà thần, có khi ta quá nhu nhược, thiếu đạo đức để cho dục vọng đàn áp lương tâm, tức nhiên ta phải sa ngã vào đường tội lỗi. Ðó là tinh thần chịu khuất phục vật chất.

Một lần sa ngã cũng chưa phải hại lớn, ngặt nỗi cái sa ngã này lôi cuốn cái sa ngã khác, thất tình lục dục luân phiên nhau đưa đẩy ta đi đến mức đường cùng tối tăm ô trược, là vì ngọn đèn thiêng liêng ở nơi mình đã không khêu lên lại làm cho nó bị lu mờ và đàn áp cho đến chỗ bế tắc, thì con người lúc ấy đã mất trọn cả Lương Tâm, và kiếp sống như thế trở nên nguy hiểm cho xã hội.

Về mặt Ðạo đối với người đã tầm được lý tưởng nhiệm mầu, cái tâm cần phải giữ cho trong sạch, cần phải được nuôi nấng và nâng cao. Tôn chỉ đạo là khêu ngọn đuốc thiêng liêng để dìu đời thoát tục, nếu Tâm không đủ sáng suốt, không nhận định chánh tà, chính mình không tự kềm nỗi với vật dục thì thế nào đi vững bước đường tu để độ chúng?

Trước khi nhập Ðạo ta đã từng quan sát, tìm hiểu lẽ sâu xa của Cơ Ðạo và quan niệm cái thống khổ của cuộc đời. Rõ biết rồi ta dọn mình lập ý cho thành, tâm cho định mới đến khắc kỷ tu thân.

Khi người tu đã có sẵn chí hướng đi từ bước một, mỗi bước mỗi dè dặt cân phân và nên mãi đinh ninh rằng người nơi cửa Ðạo phải quyết tâm ra khỏi lối thường tình, tức là phải đi ngược với thế sự...

Ðời chuộng vinh sang, Ðạo chuộng khổ hạnh, đời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa đổi lại cảnh lê hoát nâu sồng, nơi cửa Ðạo tương dưa thanh đạm tháng ngày, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Giữ được bao nhiêu đức tính ấy, người hành đạo bước được vững vàng, không dục vọng nào lôi cuốn nỗi.

Theo THÍCH GIÁO- người tu phải trau dồi bản tâm được sáng suốt đặng biết rõ được lẽ nhiệm mầu của Ðạo pháp, các điều vọng niệm phải tiêu tan, sống ở chơn tâm tức là MINH TÂM KIẾN TÁNH. Ví bằng bản tâm để cho mờ ám vọng động bởi sức quyến rũ bên ngoài thì người tu còn ở trong vòng mê muội không trông gì tầm lối giải thoát.

Vậy mê là chúng sanh, ngộ là Phật, bởi cái Tâm quá nông nổi nên Phật giáo cho là TÂM VI TẶC tức là Tâm ví như tên giặc loạn. Vì lẽ cái Tâm tạo thành tam nghiệp: THÂN NGHIỆP, Ý NGHIỆP, KHẨU NGHIỆP làm cho con người bị luân hồi từ kiếp nầy đến kiếp khác, kế tiếp không ngừng, Tâm làm cho người phải sa đọa mà Tâm cũng đưa người đến ngôi vị Tiên Phật, do đó Phật giáo cho là nhứt thiết do TÂM ÐẠO.

Theo triết học của ÐẠO GIÁO thì Ðức LÃO TƯ rất chú ý đến việc tu thân để cho mình có đủ đức tính kéo lại những lỗi lầm sa ngã của quần chúng. Ngài nói: Ta sở dĩ có điều lo lớn là vì ta có cái thân, nếu không có cái thân thì ta có lo gì.

Có thân là có cái Tâm, có cái Tâm không dễ gì điều khiển và gìn giữ cho trong sạch. Theo thuyết của Ngài, cái thân đáng quí là khi đem nó ra phụng sự cho thiên hạ, vì khi phụng sự cho thiên hạ thì cái Tâm không còn xao xuyến, ích kỷ để lo riêng cho mình nữa.

Cái TÂM hay lừa đảo, làm cho con người sa ngã, nên theo phép tu thân của LÃO GIÁO, người tu phải dứt bỏ những điều ham muốn, những tư tưởng ngông cuồng có thể hại đến tâm tánh. Phải sống gần gủi với thiên nhiên, lánh xa thế tục, giữ lòng được phẳng lặng, bình tĩnh để trông rõ sự huyền diệu thiêng liêng, tức là lấy cái TÂM đè nén cái khí để nuôi nấng tinh thần được cao siêu thoát tục.

KHỔNG GIÁO cho rằng TÂM là thần minh của Trời phú cho, nên TÂM của ta với Trời là một thể, THẦY MẠNH TỬ lại cho tánh là cái bản nguyên thiêng liêng đối với TÂM vẫn có một, hễ biết rõ Tâm thì ta biết rõ Tánh, biết rõ Tánh là biết rõ Trời Ðất vạn vật, tức là cách vật trí tri vậy.

TỒN TÂM DƯỠNG TÁNH là giữ cho còn cái TÂM HƯ LINH của mình, nghĩa là đừng để cho tư ý che lấp mất và nuôi cái TÁNH cho được sáng suốt toàn hảo như của Trời đã ban cho ta, tức là thờ Trời đó.

Cái bản TÂM giữ được còn mới thật là LƯƠNG TÂM, có LƯƠNG TÂM mới có LƯƠNG NĂNG và LƯƠNG TRI là cái giỏi biết rất tự nhiên, rất mẫn huệ.

Theo thuyết KHỔNG GIÁO, người ta ở đời phân biệt nhau ở nơi quân tử hay tiểu nhân. Hiền hay ngu là do người ta giữ cho còn cái Tâm hay là để cho mất cái Tâm, giữ cho còn cái TÂM là sánh được với bậc THÁNH HIỀN, bỏ mất cái TÂM, con người chỉ là một cây thịt biết đi, biết chạy mà thôi.

Thầy MẠNH TỬ chú ý nhứt về chỗ tìm lại cái TÂM của mình đã để sổ ra mất, vì lẽ con người ta để con gà, con chó sổ ra còn biết đi tìm, há đâu để món báu thiêng liêng là cái tâm của mình mất đi, lại không lo tìm lại hay sao?

Tìm lại cái tâm đã mất tức là TU THÂN vậy, sự tu thân sửa mình rất nên cần yếu, dầu cho bậc vua chúa dĩ chí thứ dân ai cũng lo sửa mình cho ra người có đức hạnh hầu xử sự cho hợp với lẽ phải.

Ngày nay chúng ta rất may duyên được Ðức CHÍ TÔN dìu dắt vào nền ÐẠI ÐẠO, chúng ta nên gắng công trau giồi bản tâm hầu nâng cao danh thể Ðạo và thức tỉnh những kẻ sái bước lạc đường.

Người hành Ðạo phải làm gương mẫu cho nhơn sanh, phải nuôi nấng kềm chế cái tâm cho được thanh cao trong sạch khác hơn người ở mặt đời.

Ðối với những người chưa nhập Ðạo, chúng ta chịu kém về phần học thức, về tiền bạc, về cách phục sức và cả hình thức bên ngoài. Nhưng chúng ta nhứt định không chịu kém về phần TÂM ÐẠO, về Hiền Từ và Ðức Tính.

Sau khi so sánh, nếu chúng ta tự hỏi mình và đã nhận thức là chúng ta chưa hơn họ về mấy điểm vừa kể qua thì chúng ta phải cố gắng trau giồi cái tâm cho đến khi đạt được mức cao siêu hơn thường tình thì ta mới chịu cho. Ðó là chí hướng tối cần cho người tu hành.

Trong khi chúng ta cầu nguyện, khi chúng ta họp nhau nơi ÐỀN THÁNH để chiêm ngưỡng, thử hỏi chúng ta dâng lên cho Ðức CHÍ TÔN cái chi gọi là quí báu nhứt của chúng ta? Thì chúng ta chỉ dâng lên cho ÐẠI TỪ PHỤ cái TÂM của chúng ta mà thôi, ngoài cái TÂM ra chúng ta không dám dâng món chi khác, vì tất cả đều là thường tình và phàm tục. Nhưng cái TÂM phải thế nào mới đáng được dâng lên cho Ðức CHÍ TÔN. Ðiều đó mỗi người trong chúng ta đều có thể tự xét mà tự giải quyết được.

Riêng tôi... tôi thiết tha cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN giúp sức Thiêng Liêng cho toàn thể Chức sắc và Quý bạn trau dồi BẢN TÂM được minh mẫn trong sạch, để được xứng đáng dâng lên Ðức CHÍ TÔN và PHẬT MẪU./.

CAO THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN TỪ

ỦY LẠO CHỨC SẮC H.T.Ð. và CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN
Ngày 16 tháng Giêng Nhâm Dần (1962)
Tại Văn Phòng PHƯỚC THIỆN TRUNG ƯƠNG

 

Kính Chư Chức Sắc Lưỡng phái C.T.Ð.
Kính Chư Chức Sắc Nam Nữ PHƯỚC THIỆN,

Hôm nay là ngày nhóm họp thường niên mà cũng là buổi họp đầu tiên năm Nhâm Dần của Chức Sắc Cơ Quan PHƯỚC THIỆN, toàn thể Hội Thánh H.T.Ð. đến dự buổi họp nầy, tiếc vì Ngài KHAI ÐẠO ngọa bịnh phải đi điều trị tại Sài Gòn nên vắng mặt nơi đây. Tôi xin toàn hội để một phút yên lặng đồng đứng dậy cầu nguyện cho Ngài KHAI ÐẠO được chóng bình phục.

Ðó là nhờ nơi thiện chí của Chức Sắc Ban Cai Quản, nhờ nơi sự hưởng ứng của toàn thể Chức Sắc PHƯỚC THIỆN Trung ương cũng như ở Ðịa Phương và cũng nhờ nơi sự tham gia trực tiếp của Hội Thánh H.T.Ð. vào công việc của PHƯỚC THIỆN, đó là ba vị Thời Quân sẵn lòng đảm đương phận sự Thống Quản các cơ cấu trong Ban Cai Quản Trung ương nên mọi việc được sắp đặt hoàn bị, có mực thước, có chuẩn thằng, các việc được tiến hành trong vòng trật tự và cứ theo đà tiến triển ấy, chúng ta hy vọng Cơ Quan PHƯỚC THIỆN sẽ đi đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Vì thế tôi ước mong cho tình tương thân, tương ái giữa chúng ta được ngày càng thêm bền chặc nồng nàn. Thương yêu nhau, dìu dắt nhau, chúng ta mới có thể chung tâm hiệp trí và nương nhờ nhau để phục vụ cho Ðạo, cho nhơn sanh. Cơ Quan PHƯỚC THIỆN là Cơ cứu khổ về hình thức đối với Ðạo cũng như đối với mặt đời.

Chúng ta phải quên mình mới mong cứu khổ nhơn sanh, phải hy sinh mới thực hiện được chủ nghĩa vị tha và mới làm tròn nhiệm vụ. Thanh danh của Ðạo là trọng hơn hết, chúng ta phải nâng cao cái thinh danh tôn quí ấy bằng việc làm thực tế chớ chẳng phải bằng lời nói suông và cái khổ của nhơn sanh càng được vơi bớt phần nào, chủ nghĩa PHƯỚC THIỆN càng thêm bành trướng thì cái thinh danh của Ðạo càng được cao siêu và càng thêm chói rạng.

Vậy tôi cầu xin toàn thể Chức Sắc PHƯỚC THIỆN gắng công tiến bước trên đường nhiệm vụ và thực hành tôn chỉ của Cơ Quan PHƯỚC THIỆN, cho đúng theo ý nghĩa Thiêng Liêng của nó, đó là chư quý vị hiến dâng cho Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU một lễ quí báu và long trọng hơn hết.

Thưa Chư quý vị, Chư quý vị nên ý thức rằng Chư quý vị đã thọ phẩm tước trong hàng Thập Nhị Ðẳng Cấp Thiêng Liêng. Những phẩm tước ấy được có những danh từ đáng kính, đáng trọng, những danh từ đã vẽ sẵn phận sự của mỗi vị trên bước đường hành Ðạo như những danh từ: GIÁO THIỆN, CHÍ THIỆN, ÐẠO NHƠN, CHƠN NHƠN.v.v... Mới nghe qua những danh từ ấy người ta tưởng tượng đến những bậc đạo đức cao siêu, có những hành vi thoát tục, những bậc chơn tu phi thường cứu nhân độ thế.

Vì vậy mang cái phẩm tước Thiêng Liêng ấy người Chức Sắc phải trọng cái phẩm giá Thiên tước của mình, vì cái phẩm giá đó tượng trưng cho cái phẩm giá của Ðạo.

Nếu vô tình mà quý vị làm cho hoen ố cái phẩm giá của mình bằng những hành vi thiếu đạo đức hoặc những cử chỉ quá tầm thường thì tức nhiên cái Thiên tước của quý vị bị tổn thương mà Thiên tước bị tổn thương, tức là thanh danh Ðạo bị tổn thương vậy.

Hôm nay có đông đủ Chức Sắc các địa phương về chầu lễ Ðức CHÍ TÔN và đến dự nhóm. Tôi cầu nguyện ÐẠI TỪ PHỤ và PHẬT MẪU ban ơn lành cho mỗi vị nơi TRUNG ƯƠNG cũng như ở Ðịa Phương được mọi sự hanh thông và nhứt là được tinh thần sáng suốt, sức khỏe an khang để cùng nắm tay nhau phụng sự cho Ðạo và Nhơn sanh./.

CAO THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN DỤ

Nhơn bửa tiệc thường niên tại Giảng đường
Ngày 22 tháng giêng năm Nhâm Dần (1962)

 

Kính Chư Chức sắc, Chức việc, Ðạo Hữu Lưỡng phái,

Theo thường lệ bửa tiệc hôm nay là bửa tiệc của Hội Thánh ủy lạo các Chức sắc, Chức việc nơi Trung ương và Ðịa phương trong lúc đầu năm, nhơn dịp các Khâm Châu và Ðầu tộc tề tựu đông đủ về Tổ Ðình để chầu lễ Ðức Chí Tôn.

Cuộc hội hiệp vui vẻ này đã biến thành cái lệ bất di bất dịch, in sâu vào trí não của mọi người trong chúng ta, vì đó là một cuộc hội hiệp đầy thiện cảm chân thành, nồng đượm bao nhiêu vẻ thân mật khắn khít và sẽ ghi lại một kỷ niệm êm dịu trong tâm hồn của những người đến dự khi mà mỗi vị đều ý thức trong một vài ngày nữa đây sẽ có cuộc chia tay, kẻ ở lại nơi đại gia đình, người tản mát nơi tứ phương, để làm phận sự của người con thảo đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Vì vậy bửa tiệc dầu được thịnh soạn, dầu phải đơn giản, điều ấy không cần thiết. Cần thiết là buổi hội diện giữa những bạn đạo cùng chung một chí hướng thương đời, buổi hội diện giữa anh lớn, chị lớn, em nhỏ trong đại gia đình để cho mọi người được cõi lòng sưởi ấm hầu trong năm mới cùng nhau bắt tay vào công việc với một tinh thần vững chắc.

Như Chư quí vị đã rõ, năm vừa qua Hội Thánh đã trải qua nhiều cơ thử thách buồn phiền, tài chánh của Ðạo vì đó phải bị kiệt quệ, nhờ nơi lòng sốt sắng của Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu nơi Trung ương cũng như ở địa phương nên tình trạng thiếu kém được cứu vãn phần nào. Hội Thánh nhờ đó mà xoay trở các việc cần thiết cũng được tạm yên.

Cho hay nước loạn mới biết tôi ngay, nhà nghèo mới rõ con thảo. Mỗi vị Chức sắc có công trong giai đoạn này nhất là những vị Khâm Châu, Ðầu Tộc, Ðầu phận và Phó Ðầu phận v.v... đã chứng tỏ lòng thiết tha thương Ðạo và trung thành với Hội Thánh. Mặc dầu Hội Thánh chỉ có lời ban khen Chư quí vị không hưởng được một phần thưởng cụ thể nào, nhưng Chư quí vị nên tin rằng đối với sự công bình của Ðức Chí Tôn, Chư quí vị sẽ không mất phần ban thưởng.

Trong dịp nầy, tôi nhận thấy cái tình thương yêu nhau là quí trọng hơn hết. Với sự thương yêu nhau, với sự đồng tâm hiệp trí, chúng ta có thể san bằng tất cả những khó khăn, lướt qua những cơn phong vũ bất kỳ tang thương ảm đạm. Ðời đã lắm chua cay, nhơn tâm đã lắm điên đảo, trong cảnh tu hành chúng ta đã chịu thiệt thòi về mọi phương diện, nếu chúng ta không thương yêu nhau và đùm bọc lấy nhau thì thế nào chúng ta tự cứu lấy mình và giải khổ chung cho nhơn loại.

Vì đó, chúng ta không sợ Ðạo nghèo về tiền bạc mà chỉ sợ Ðạo nghèo về tình thương yêu, cái tình thương yêu quí báu mầu nhiệm rất cần thiết cho tâm hồn của người tu sĩ cũng như cơm gạo cần thiết cho mảnh xác thân và nếu thiếu hẵn đi thì dầu chúng ta có được con số đông đúc bao nhiêu, chúng ta cũng như bị lẻ loi côi quạnh và cơ phổ độ không còn biết dựa vào đâu mà thực hiện được.

Ở trong cảnh buồn phiền, khó khăn, lo lắng Hội Thánh được đầu Xuân Nhâm Dần đem đến cho ít nhiều an ủi do nơi tình yêu thương của các con cái Ðức Chí Tôn nơi bốn phương. Quí hóa thay cái tình thương yêu nhiệm mầu ấy.

Tôi cầu xin cho trong Cửa Ðạo chúng ta thắt chặt giãi đồng tâm càng ngày thêm khắn khít, xóa bỏ những hờn nghịch nhỏ nhen, nên coi Ðại nghiệp của Ðạo là quí trọng đễ cùng nắm tay dìu dắt nhau vẹt ngút mây mù cứ vẫn bao phủ quanh vùng Thánh địa hầu đi đến một giai đoạn vui vẻ hơn.

Rồi đây, Chư vị Khâm Châu và Ðầu tộc phải lên đường trở về với phận sự, để bắt tay vào những công việc nhiều khi khó khăn, gay cấn, nhất là trong thời buổi hiện tại. Nhưng Chư quí vị cũng nên ý thức rằng nơi Trung ương Hội Thánh cũng có những việc khó khăn không kém gì Chư quí vị.

Chúng ta phục vụ cho Ðạo, ví như thân tầm đã chịu ơn dâu thì phải tận tụy với mối tơ, dầu đến ngày cũng còn kéo chỉ.

Cái Ðại nghiệp Ðạo nầy đã quyết lưu lại cho nòi giống quê hương và Ðạo phải được trường tồn với non sông vũ trụ, thì chúng ta là những kẻ nghiêng vai gánh vác buổi ban sơ, tức nhiên phải chịu lắm nỗi nhọc nhằn đau khổ. Nhưng đối với lòng thương vô biên của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, phận làm con dầu cực nhọc bao nhiêu cũng chưa gọi là xứng đáng đáp đền trong muôn một.

Ví như không gặp được mối đạo mầu, chúng ta chỉ phải lao tâm tiêu tứ vì manh áo bát cơm, vì gia đình khốn khó nếu có được may mắn hơn nữa, chỉ lên xe xuống ngựa chút ít với đời rồi thì cũng chết mòn như cây cỏ, bụi thời gian vừa khỏa kín nấm mồ thì mấy ai còn nhắc nhở đến.

May duyên gặp Ðạo, chống chiếc thuyền từ để cứu vớt sanh linh nơi dòng khổ hải hầu buổi chung qui được trở về với cảnh cũ ngôi xưa, Ðức Chí Tôn đã hứa hẹn và đưa tay chực rước thì mảnh xác thân này há đâu nại hà cực nhọc.

Chúng ta hãy quên mình để những kẻ khác được hưởng nhờ phải hy sinh để cho hoàn thành sứ mạng. Phận sự làm xong, lương tâm được bình tĩnh an vui, đó là phần thưởng êm dịu của chúng ta đó.

Vậy chư quí vị nên vui lòng tiến bước trên bước đường phục vụ.

Nhơn buổi hội hiệp nầy, tôi cầu nguyện Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu ban ơn lành cho mỗi Chức sắc nơi Thánh Ðịa cũng như ở địa phương được sức khỏe dồi dào, tinh thần mẫn huệ để thực hành tôn chỉ của Ðại Ðạo và nơi bữa tiệc năm tới chúng ta đều gặp lại nhau đông đủ không thiếu sót một ai.

Riêng về Chức sắc, Chức việc Nam Nữ ở địa phương, tôi cầu chúc Chư quí vị được hành trình yên ổn và tất cả công việc Ðạo trong năm đều được hanh thông, có kết quả hoàn toàn tốt đẹp.

CAO THƯỢNG SANH

 


 

ÐÁP TỪ

TRONG DỊP LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ HỘI VẠN LINH
Ngày mùng 9 tháng Giêng năm Quý Mão (dl. 02/02/1963)

 

Kính thưa:

- Thiếu Tướng Ðại Biểu Chánh phủ tại Miền Ðông Nam Phần,
- Ông Phó Tỉnh Trưởng,
- Quý ông Dân Biểu Quốc Hội Tỉnh Tây Ninh,
- Ông Quận Trưởng Phú Khương,
- Chư Quý Quan khách,
- Chư Chức sắc, Chức việc, Ðạo hữu nam nữ,

Thay mặt cho HỘI-THÁNH, tôi để lời cám ơn Thiếu Tướng Ðại biểu Chánh phủ tại Miền Ðông Nam Phần không nệ đường sá xa xôi sẵn lòng đến dự lễ Khánh Thành ngôi nhà Vạn Linh của HỘI-THÁNH làm cho buổi lễ hôm nay tăng phần long trọng quá sự mong ước của HỘI-THÁNH.

Tôi cũng để lời cám ơn ông Phó Tỉnh Trưởng, ông Quận Trưởng, chư qúy Quan khách sở tại, chư quý Quan khách đã hoan hỷ đến dự buổi lễ nầy.

Sự hiện diện của chư quý vị chứng tỏ lòng thiện cảm của Chánh phủ đối với HỘI-THÁNH chúng tôi trong mọi trường hợp làm cho chúng tôi quá đổi hân hoan và cảm động.

Tạo nên ngôi nhà nầy, HỘI-THÁNH chúng tôi có ý để dùng làm nơi hội họp của bổn Ðạo mỗi khi có cuộc lễ long trọng và khi có quý quan khách trong các giới và các tôn giáo ở xa đến viếng Toà Thánh muốn lưu lại đôi ngày thì cũng sẵn có nơi xứng đáng để tiếp rước.

Thưa toàn thể chư Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu, hoàn thành được công trình xây dựng nầy, HỘI-THÁNH nhờ nơi tấm nhiệt thành của toàn Ðạo Chức sắc, Chức việc, cùng Ðạo hữu nam nữ nơi trung ương cũng như ở các địa phương vui lòng chung đậu kẻ ít người nhiều, nhứt là nhờ nơi công quả của Ban Kiến Trúc và thợ chuyên môn toàn là người hiến thân cho Ðạo.

Ðiều mà HỘI-THÁNH quá thâm cảm là mỗi khi có tiếng kêu gọi của HỘI-THÁNH để thật hành một công tác nào thì toàn thể Chức sắc, nhơn viên và công quả đều sẵn sàng hưởng ứng mãnh liệt, đem hết thiện chí và khả năng để phục vụ cho đến khi công việc hoàn thành mỹ mãn.

Hôm nay phần đông Chức việc và Ðạo hữu nam nữ ở các nơi tựu về Tòa Thánh để chứng kiến một công trình kiến trúc to tát đồ sộ, một ngôi nhà chung mà mỗi vị đều có góp phần xây dựng. Tôi tin chắc ai cũng được hân hoan nhận thấy sự hy sinh của mình đã tô điểm thêm cho nghiệp Ðạo nhiều nét đan thanh, oai hùng, để làm phấn khởi tinh thần đoàn kết của mỗi con cái Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ.

Cái tinh thần đoàn kết và xây dựng ấy, HỘI-THÁNH xin đa tạ và thành tâm dâng lên Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU chứng minh.

Thưa Thiếu Tướng đại biểu, thưa chư quý Quan khách, cuộc lễ Khánh Thành Nhà Hội Vạn Linh hôm nay, HỘI-THÁNH chúng tôi tổ chức thật đơn giản trong phạm vi tôn giáo và trong vòng mật thiết của bổn Ðạo. Chúng tôi quá may duyên được chư quý vị sẳn lòng đến chứng kiến làm cho chúng tôi được một vinh hạnh quá cao.

Một lần nữa tôi xin thành thật cám ơn. Trong cuộc lễ đơn giản, nếu HỘI-THÁNH chúng tôi có điều sơ sót, xin chư quý Ngài rộng lòng tha thứ.

Sau nữa, nhơn ngày lễ vía Ðức CHÍ-TÔN, thay mặt cho HỘI-THÁNH, tôi xin thành tâm cầu nguyện Ðức CHÍ-TÔN ban phước lành cho chư quý vị và toàn thể Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu lưỡng phái./.

THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN DỤ

Ðọc tại giảng đường trong bữa tiệc đãi vị TÂN ÐẦU SƯ
và TOÀN THỂ CHỨC SẮC CHỨC VIỆC
ngày 24/1/Quý Mão (dl. 17/02/1963)

 

Kính thưa Hội Thánh Lưỡng Ðài Hiệp Thiên và Cửu Trùng,
Kính thưa Ngài Quyền Ðầu Sư, Chư Chức sắc Chức việc và Ðạo hữu Nam Nữ,

Buổi lễ lập thệ của Ngài Quyền Ðầu Sư và lễ ban quyền cho người đã cử hành xong tại Ðền Thánh. Từ đây C.T.Ð. đã có vị cầm đầu, nắm quyền điều khiển dìu dắt Chức sắc và Môn đệ của Ðức CHÍ TÔN trên đường Thánh đức.

Hội Thánh H.T.Ð. đã thực hành phận sự đúng theo thiên ý của Ðức CHÍ TÔN là lập vị cho Chức sắc C. T. Ð. thăng đến phẩm vị tối cao, tức là góp phần tạo lập con đường cho mỗi môn đệ Ðức CHÍ TÔN đi từ cõi phàm tục đến cõi Thiêng liêng, đạt đến ngôi xưa phẩm cũ của mình nơi cảnh vô vi hằng sống.

Kính thưa Hiền huynh Qu. Ðầu sư, Hiền huynh đã được uy tín của Chức sắc Hội Thánh, lại được lòng tin cậy của Ðức LÝ ÐẠI TIÊN NHỨT TRẤN OAI NGHIÊM, thì cái thanh danh về mặt Ðạo của hiền huynh càng thêm chói rạng. Trong cửa ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ, Hiền huynh đã gội nhuần một ân huệ đặc biệt, một sự ban thưởng xứng đáng sau 37 năm tận tụy với chức vụ, một lòng vì Ðạo, vì nhơn sanh.

Thay mặt Hội Thánh H.T.Ð. tôi xin để lời mừng cho Hiền huynh, và nhơn dịp nầy tôi xin nhắc lại lời dạy của Ðức LÝ ÐẠI TIÊN đêm 29/10/1926, tức là năm Bính Dần về sự thưởng phạt như sau đây:

"Mở một mối Ðạo chẳng phải là thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp mối Ðạo, cũng chẳng phải dễ. Muốn lập thành tức phải có điều nghiêm chánh thưởng phạt.Có thưởng mới dục lòng kẻ có công, có phạt mới răn được lòng tà vạy.

Thưởng phạt tuy chẳng phải hữu hình nhưng là một sự mầng vui chưa có bậc cao thượng nào ở thế ví bằng, và một sự buồn bã nào sánh đặng. Dầu có ăn năn hối hận mấy kiếp ngày giờ cũng đã qua rồi, ngôi Cực lạc vẫn có người choán hết."

Ðức LÝ ÐẠI TIÊN đã nhắc nhở về sự thưởng phạt, một sự thưởng phạt Thiêng liêng, không thể sánh với sự thưởng phạt nơi cõi phàm tục được.

Hiền huynh đã phí công lao, đã dụng đức tính, đạo hạnh và tình thương yêu mà đổi lấy phẩm vị Thiêng liêng. Hiền huynh đã nhận thức lẽ mầu nhiệm của cơ thưởng phạt và đã nêu gương sáng cho người trong cửa Ðạo. Cái giá trị của người được ban thưởng tức là Hiền huynh đã được nâng cao chính là ở chỗ: Phụng sự mà không chút chi vị lợi, cứ lập công mà không cầu cạnh, cũng không có ý tranh giành và không ước mong điều thăng thưởng. Nhưng sự công bình của Ðức CHÍ TÔN là tuyệt đối.

Thiên ý đã xoay chuyển, đã sắp đặt cơ hội, đã tạo thành dịp tốt và rốt cuộc sự ban thưởng đã đến bất ngờ, dầu muốn dầu không cũng phải đành chịu nhận lãnh.

Giờ đây đã đến lúc thi hành sứ mạng Hiền huynh đã nhiều kinh nghiệm trên đường hành Ðạo, tôi tin nơi chí cương trực và tinh thần xây dựng của Hiền huynh và cầu chúc cho Hiền huynh được thành công trong nhiệm vụ mới với sự ủng hộ triệt để của toàn thể Chức sắc và Chức việc.

Kính thưa Chư Chức sắc, Chức việc C.T.Ð. và Phước Thiện Nam Nữ,

Sự hội hiệp trong đại gia đình của chúng ta lúc đầu năm Quí Mão đã biểu thị tinh thần đoàn kết và tình tương thân tương ái của chúng ta trong cửa Ðạo.

Rồi đây, sau bữa tiệc thân mật hôm nay mỗi vị sẽ bắt tay vào việc, người thì ở lại trung ương, kẻ phải lên đường trở về nơi chốn xa xôi để tiếp tục thi hành phận sự đối với Ðạo đối với nhơn sanh. Cái sứ mạng của mỗi người trong chúng ta, dù chức vụ lớn hay nhỏ, đều phải khó khăn nặng nhọc. Ðiều chúng ta nên lưu tâm là cái phận sự ấy hướng về hạnh phúc của nhơn sanh và sự xây dựng đại nghiệp của Ðức CHÍ TÔN tại thế nầy, nên dầu cho khó nhọc bao nhiêu cũng phải gắng công đi đến một kết quả tốt đẹp để khỏi phụ lòng tin cậy của Hội Thánh và giữ trọn trung hiếu với Ðức CHÍ TÔN Ðại Từ Phụ.

Tôi thành tâm cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN và PHẬT MẪU ban ơn lành cho mỗi Chức sắc nơi Trung ương cũng như ở Ðịa phương được tinh thần sáng suốt, sức khỏe dồi dào để thực hiện tôn chỉ của Ðại Ðạo và ngày đầu Xuân năm tới chúng ta sẽ gặp lại nhau đông đủ không thiếu sót một ai.

Trước khi dứt lời, riêng về Chức sắc Chức việc Nam Nữ ở Ðịa phương, tôi cầu chúc mỗi vị thượng lộ bình an, trong năm tất cả công việc Ðạo đều được tiến triển khả quan dưới sự che chở của Ðức CHÍ TÔN Ðại Từ Phụ./.

THƯỢNG SANH

 


 

DIỄN VĂN

CHÀO MỪNG QUỐC TRƯỞNG VIỆT NAM CỘNG HÒA
Ngày 19/4/1965 (Ất Tỵ)

 

Kính thưa Quốc Trưởng,
Kính thưa Chư Quý Bộ Trưởng,
Kính thưa Chư Quý Quan Chức Văn Võ,

Hôm nay Hội Thánh Tòa Thánh Cao Ðài Tây Ninh có cái hân hạnh đặc biệt là được có dịp rước vị Quốc Trưởng, đấng cầm quyền tối cao của VIỆT NAM CỘNG HÒA, có lòng huệ cố thân hành đến viếng Tòa Thánh Tây Ninh làm cho vùng Thánh Ðịa nầy được có cái diễm phúc bất ngờ và Hội Thánh chúng tôi được có một vinh hạnh quá lớn lao.

Mặc dầu phận sự quá nhọc nhằn, việc nước đa đoan trong khi tình trạng quốc gia đương hồi nghiêm trọng, Quốc Trưởng cũng nhín chút thì giờ quí báu quá bước đến vùng Ðạo của chúng tôi, thật chúng tôi lấy làm cảm động và toàn thể Chức Sắc, Thiện tín nơi đây đều lộ vẻ hân hoan vô tận.

Vậy nhơn danh Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh, nhơn danh toàn thể Chức Sắc, Ðạo hữu Lưỡng phái và nhơn danh riêng tôi, tôi xin để lời chào mừng Quốc Trưởng. Xin Quốc Trưởng nhận nơi đây lòng tôn kính và sự thâm cảm của Hội Thánh chúng tôi.

Thưa Quốc Trưởng; sự hiện diện của Quốc Trưởng hôm nay nơi vùng Thánh Ðịa Tây Ninh, chứng tỏ một lần nữa lòng ưu ái của Quốc Trưởng đối với toàn thể bổn Ðạo chúng tôi. Vì Quốc Trưởng ban cho nhơn sanh nơi đây một ân huệ đặc biệt, là giúp một số tài chánh quan trọng để cho Chánh quyền tỉnh Tây Ninh xây cất một bệnh viện trong vùng chợ Long Hoa. Bệnh viện nầy dùng cho chư thiện tín, phần nhiều ở giai cấp vô sản, khi lâm bịnh có nơi chỗ nằm điều trị khỏi tốn kém. Công việc kiến thiết này sắp được thực hiện và toàn thể Ðạo hữu sẽ được chung hưởng cái đặc ân của Quốc Trưởng trong ngày gần đây. Nhơn danh Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh, tôi xin thành thật để lời cảm tạ Quốc Trưởng, cái ơn đức của Quốc Trưởng đã gieo rải nơi đây, toàn thể nhơn sanh vùng Thánh Ðịa sẽ ghi nhớ mãi.

Là người giàu lòng đạo đức, nêu cao gương bác ái để phụng sự nhơn loại, Quốc Trưởng từ ngày cầm quyền lãnh đạo Quốc gia, đã để hết tâm lo cho nước, cho dân. Dù vậy, Quốc Trưởng không quên nghĩa vụ về tinh thần là nâng đỡ tất cả các Tôn giáo trong nước, vừa giúp cho mỗi Tôn giáo được có cơ thuận tiện tiến triển mạnh trên đường đạo đức, hầu thực hành tôn chỉ giải khổ cho nhơn loại.

Vì vậy sự viếng thăm của Quốc Trưởng hôm nay đem đến cho chúng tôi một niềm hân hoan êm dịu, một khích lệ lớn lao, làm cho chúng tôi càng thêm phấn khởi tiến bước trên đường phục vụ cho Ðạo và cho nhơn sanh.

Chẳng biết lấy chi để đáp lại cái thạnh tình của Quốc Trưởng đối với Hội Thánh. Chúng tôi xin thành tâm cầu chúc Quốc Trưởng được quí thể khang kiện để phụng sự quốc gia và hoàn thành nhiệm vụ tối cao mà Quốc Trưởng đã vì nước, vì dân nghiêng vai gánh vác.

Trước khi dứt lời, chúng tôi cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU ban phước lành cho Quốc Trưởng, chư Quý Bộ Trưởng và toàn thể Quý Quan chức Văn Võ.

VIỆT NAM CỘNG HÒA muôn năm!
PHAN QUỐC TRƯỞNG muôn năm!

T.M. HỘI THÁNH
THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN TỪ

LỄ BÃI TRƯỜNG và PHÁT THƯỞNG
tại ÐẠO ÐỨC HỌC ÐƯỜNG niên khóa 1964-1965 (Ất Tỵ)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Thiếu tướng TỈNH TRƯỞNG TÂY NINH,
Kính Quý Quan Khách,

Hôm nay tôi lấy làm hân hoan đến dự buổi lễ Bãi Trường và Phát Phần thưởng của ÐẠO ÐỨC HỌC ÐƯỜNG. Suốt một niên khóa học dài đăng đẳng, Ban Giám Ðốc và Chư Giáo viên đã cố gắng làm phận sự, đã lắm nhọc nhằn để dìu dắt, giáo hóa đoàn trẻ thơ học sinh, toàn là những con em trong cửa Ðạo. Phận sự giáo hóa trẻ thơ, dù là nơi mặt đời hay là trong cửa Ðạo vẫn là nhiệm vụ cao đẹp. Nhưng nơi cửa Ðạo, trách nhiệm của nhà giáo viên lại khó khăn hơn, vì phận sự bao hàm cả một nghĩa vụ thiêng liêng đối với Ðạo và một tinh thần hy sinh về mặt vật chất.

Cái công khó dạy dỗ trẻ em không phải đợi đổi một món thù lao tương đối như ở mặt đời, mà chỉ do nơi chí nhiệt thành phục vụ để góp phần công quả vào cuộc xây dựng về tinh thần đối với Ðại nghiệp của Ðạo.

Theo trào lưu tiến hóa của văn minh vật chất, chúng ta vẫn thấy nghề giáo huấn là một nghề vất vả, một nhiệm vụ vô ân, và dường như là một nghề bị đời khinh rẻ, so sánh với các phẩm bậc quan viên có quyền thế trong các ngạch khác.

Còn đâu là nề nếp lễ giáo thời xưa, còn đâu là cái danh dự riêng biệt của người có trọng trách giáo hóa theo thuyết QUÂN, SƯ, PHỤ, của Khổng Giáo?

Xưa kia, một ông Quan học thành tài dự chiếm khoa trường và được vinh qui bái tổ, thì bổn phận trước nhất là khăn áo chỉnh tề mang lễ vật đến viếng Ông Thầy dạy cũ để tỏ sự kính mến biết ơn, vì nhờ thầy mở trí lúc ban sơ mà ngày nay mình mới được đai vàng thẻ bạc.

Thời nay học sanh vừa đến lớp đệ lục hoặc đệ ngũ trung học, khi đi đâu gặp Ông Thầy cũ đã dạy mình ở Tiểu học thì đã vội tẻ ngã khác, hoặc đi qua mặt, hiên ngang coi Thầy cũ như kẻ đi đường.

Thử hỏi chúng ta há chẳng đau lòng mà chứng kiến những trường hợp như vậy sao?

May thay! Ðây là một trường trong cửa Ðạo, đặt dưới quyền Giám đốc của một Chức Sắc do Hội Thánh đề cử. Những giáo viên toàn là người đạo đức, xuất thân nơi cửa Ðạo.

Tôi tin rằng Ban Giám Ðốc và Giáo viên có thể nung đúc trí não của trẻ thơ theo đường lối đạo đức, thế nào cho chúng được hấp thụ một nề nếp lễ giáo thuần túy xứng đáng là những học sinh khuôn mẫu được đào tạo nơi một học đường của Hội Thánh.

Ðó thật là điều khó khăn, nhưng không phải là một sự khó khăn làm cho ta phải thúc thủ vô sách.

Các em giáo viên hiện giờ nên gắng công nung đúc những tâm hồn non nớt, ngày sau trở nên bậc hiền lương trong cửa Ðạo, hoặc những đấng nhơn tài trong xã hội. Cái công ấy không phải nhỏ. Trong cửa Ðạo, nhiệm vụ của mấy em không còn là vô ân nữa.

Chí hy sinh và lòng can đảm phục vụ của mấy em sẽ được sự ban thưởng của Hội Thánh và các em sẽ được hưởng ân huệ xứng đáng về mặt thiêng liêng.

Rồi đây các em sẽ trở nên những Chức sắc của Hội Thánh, có sứ mạng giáo hóa nhơn sanh và góp công xây dựng đại nghiệp của Ðức CHÍ TÔN tại thế.

Trên con đường lập vị, các em sẽ tạo nên công nghiệp phi thường, để ngày sau bia tạc danh thơm nơi Ðạo Sử. Tôi chỉ cầu xin mấy em thành công mỹ mãn.

Về bổn phận của mấy cháu học sinh, tôi xin có mấy lời nầy: Mấy cháu còn đương niên thiếu, đó là lúc tốt đẹp nhứt của đời người. Mấy cháu chỉ biết ăn học và chơi giỡn hoàn toàn vô ưu lự của buổi thiếu thời. Nhưng mấy cháu cũng ý thức được phần nào cha mẹ lắm chịu cực khổ lo cho mấy cháu ăn học đặng ngày sau trở nên người xứng đáng.

Cha mẹ thì ngày tháng cần cù lo cho có tiền nuôi mấy cháu, thầy dạy thì lao tâm tiêu tứ để nung đúc trí não của mấy cháu, cố gắng sao cho mấy cháu trở nên người khôn ngoan hữu dụng. Cái công ơn của thầy không kém gì cái công ơn của cha mẹ.Phải ghi nhớ mãi trong tâm trí, mấy cháu mới xứng đáng là con nhà lễ giáo.

Có nhiều hạng trẻ thơ phải chịu dốt nát chỉ vì cha mẹ quá nghèo cực, không có tiền cho con ăn học. Mấy cháu được có phước hơn những trẻ ấy, vì mấy cháu được cắp sách đến trường, lại nữa mấy cháu quá may mắn là được ở trong vùng đạo đức, sự học tập được dễ dàng, có Hội Thánh chăm lo, có thầy siêng năng dìu dắt chỉ dạy.

Vậy thì phận sự của mấy cháu chỉ có lo học, đừng để thua sút chúng bạn, đừng để cho cha mẹ phải buồn phiền, cho thầy dạy phải thất vọng.

Thì giờ thật quí báu, mấy cháu chớ bỏ ngày tháng trôi qua, vui chơi trong thói hoang đàng, phế công đèn sách thì sau nầy mấy cháu ăn năn rất muộn. Có câu ca dao rằng:

  "Cơm cha áo mẹ chữ thầy,
Khuyên con gắng học cho tày thế gian."

Mấy cháu khá ghi nhớ mãi trong tâm trí.

Trước khi dứt lời, tôi xin cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU ban ơn lành cho toàn thể Ban Giám Ðốc và toàn thể Giáo viên và nhơn viên ÐẠO ÐỨC HỌC ÐƯỜNG./.

THƯỢNG SANH

 


 

LUẬN VỀ
NGUỒN GỐC ÐAU KHỔ CỦA NHƠN SANH

tại ÐỀN THÁNH đêm 7/4/Ất Tỵ (1965) VÍA ÐỨC THÍCH CA

 

Phật gọi đời là bể khổ, nước mắt của chúng sanh trong ba nghìn thế giới đem chứa tích lại còn nhiều hơn nước trong bốn biển.

Cái khổ là một sự thực hiển nhiên, mỗi người không ai tránh khỏi. Dầu giàu nghèo sang hèn ai cũng có cái khổ riêng của mình nhưng người đời ít ai dám nhìn thẳng vào đó. Tựu trung cái tâm lý chung của người đời là sợ đau khổ và sợ cả sự nghĩ đến đau khổ, luôn luôn có thái độ lẫn tránh, che đậy hay muốn quên đi bằng cách ẩn mình trong những vui thú nhất thời. Do đó, người đời ít khi muốn bàn đến đau khổ, vì ai cũng muốn sống trong sự vui tươi và ai cũng mong cầu hạnh phúc.

Nhưng dầu người ta không dám nghĩ đến đau khổ và muốn tránh xa đau khổ, nó cũng cứ thung dung bước tới chụp bắt con người, chẳng khác chi thú dữ vồ lấy con mồi, không phương nào thoát khỏi được.

Không thoát khỏi được là chí lý, vì tự người ta vời nó đến thì cái nguyên nhân đau khổ chỉ nói ta tạo ra mà thôi.

Cái nguyên nhân ấy là dục tức là ham muốn. Con người khổ vì ham muốn cuộc đời, ham muốn hưởng thụ, ham muốn chiếm đoạt, ham muốn chế ngự, ham muốn phô trương, ham muốn khoái lạc về vật chất lẫn tinh thần, ham muốn tình cảm, nói tắt là ham muốn sống một cách huy hoàng dù là phải dấn thân vào vòng tội lỗi.

Dục vọng vô bờ bến của con người bao hàm sự quyến luyến ràng buộc với điều mình ham muốn. Nhưng một khi đã dính líu, người ta không còn tự do nữa, như cá phải mắc câu, chim sa lưới.

Khi muốn, muốn được rồi lại muốn nữa, muốn cái khác. Dục như ngọn lửa hồng càng cho thêm củi vào thì lửa càng to, cũng như dục càng lớn.

Con người khi thiếu thốn quá nên cho là khổ, bởi thiếu thốn nên muốn, muốn tất cả cái gì mình không có. Muốn mà không được là khổ, được rồi lại mất cũng khổ, mọi đau khổ ở đời dưới hình thức cá nhân cũng như dưới hình thức tập thể đều do nguyên nhân sâu xa là dục.

Vậy người đời dệt bằng nhiều đau khổ hơn là bằng vui sướng và chính những vui sướng đó lại làm cho đau khổ hơn khi không còn vui sướng nữa. Phật phân chia bể khổ làm 5 loại:

1/ Sinh lão bịnh tử khổ.

2/ Ái biệt ly khổ, nghĩa là sự phải ly biệt những người thân yêu là khổ.

3/ Oán tăng hội khổ, tức là ghét nhau mà phải chung sống là khổ.

4/ Cầu bất đắc khổ, tức là muốn mà không được là khổ.

5/ Ngủ uẩn thạnh khổ, tức là 5 yếu tố (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) làm cho người không thấy chân thực, đâm ra triền miên trong ngũ trược và tạo nên khổ.

Những đau khổ trên đều có tính cách công khai rõ ràng, ta cảm thấy hoặc nhận thấy nơi người khác, còn những đau khổ gián tiếp không xuất hiện một cách rõ ràng, ta phải suy nghĩ và chú ý lắm mới nhận định ra được.

Thân xác ta luôn luôn có những nhu cầu cần được thoả mãn như: ăn no, mặc ấm, nhà cao, cửa rộng là những điều kiện mà ta cho là hạnh phúc, rồi đến nhu cầu giải trí, ái tình danh vọng, chức tước.

Khi ta đi tìm hạnh phúc cá nhân, tất nhiên ta phải đụng chạm đến người khác cũng đi tìm như ta vậy. Thành thử có việc tranh giành, có đụng chạm, tranh chấp, mâu thuẫn giữa người và người để rồi đi đến chỗ thù oán, có khi giết hại lẫn nhau cũng chỉ vì ta làm nô lệ cho dục vọng.

Sự ham muốn làm cho ta mù quáng, chúng ta chỉ muốn hưởng thụ trên cái đau khổ của kẻ khác. Giành giựt được một cái gì của kẻ khác đang hưởng, ta hiu hiu tự đắc, lòng dục được thỏa mãn chớ không dè là sự thỏa mãn ấy chỉ được trong chốc lát, rồi nó phải nhường cho chỗ thất vọng. Sự công bình thiêng liêng đâu có cho ta hưởng như vậy được. Cái vui chưa được thỏa, cái buồn, cái khổ đã kề bên, không có cái gì chân thực vĩnh viễn.

Phật ví cái vui, khổ ở đời cũng như những cảm giác của người gánh nặng. Khi đổi vai thì vai không có gánh dễ chịu và vai có gánh thấy khổ cực; một lúc sau đổi vai nữa thì vai vừa mới dễ chịu lại thấy trở lại nặng nề khổ cực.

Thế thì cái vui vẫn đi liền với cái khổ chỉ khi nào bỏ gánh xuống thì mới chấm dứt hẳn được vui sướng và khổ đau. Bỏ gánh xuống nghĩa là diệt dục, tức là giải thoát vậy.

Nhận định được nguồn gốc đau khổ, con người cần tìm ra phương pháp để diệt khổ, mà diệt khổ tức là phải diệt dục, diệt nghiệp.

Phật giáo cho rằng điều kiện cần thiết của sự giải thoát là Tự lực nghĩa là phải có sự nổ lực cố gắng của chính con người muốn giải thoát, bằng không thì dụng phương pháp nào cũng chỉ là vô ích.

Như thế sự cứu rỗi của mỗi người hoàn toàn tùy thuộc nơi người đó.Ðức Phật không tham dự vào công cuộc cứu rỗi của ai khác hết. Ngài đã có công tìm ra con đường giải thoát và chỉ con đường đó lại cho ta cố gắng noi theo để tự giải thoát cũng như Ngài đã tự giải thoát.

Mỗi người đều phải tự liệu đảm nhiệm sự cứu rỗi chính mình đã tự trói buộc gây ra nghiệp nên chỉ chính mình mới cởi trói giải thoát cho mình mà thôi. Ngoài ra có cầu khẩn, cúng bái, dâng lễ cũng không được ơn phúc gì cả. Chính ta tự giúp cho ta không có một quyền lực thiêng liêng nào giúp cho ta được.

Về sự diệt dục, Ðức Phật có nói: "Chiến thắng mười vạn quân còn dễ hơn chiến thắng lòng mình, mình tự thắng được mình là chiến công oanh liệt nhứt."

Chúng ta, ai có trải qua những ngày đau khổ vì bị dục vọng lôi cuốn vì mình không tự quyết thắng mình.

Khá tua tỉnh giấc mộng trần, quay về với đạo đức chơn thật, để sống lại những ngày giác ngộ sống với ý nghĩa cao đẹp vị tha

Cây "giác ngộ" chỉ mọc giữa đám đất đau khổ (vì bị dục vọng lôi cuốn) lấy chúng sanh làm gốc, lấy lòng thương bao la làm nước tưới mới có hoa giữa trí tuệ.

Thánh giáo của Ðức CHí TÔN ngày 15/4/1927 có dạy rằng: "Thầy đã nói cho các con hay trước nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy là cái đời tạm của các con thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng. Ấy vậy, vấn đề tự lập là vấn đề các con phải lo đó. Thầy vì công lý mà khai Ðạo cho các con cũng là một hạnh phúc lớn cho các con. Nếu Thầy còn đưa tay bồng ẵm thì các con chẳng còn để ý chịu nhọc vì Ðạo."

Ấy vậy, theo lời Ðức CHÍ TÔN, nếu chúng ta không tự lo cứu lấy mình thì Ðức CHÍ TÔN cũng không làm sao trợ giúp chúng ta được.

Trong cuộc tiến hóa, mình làm mình hưởng, có nhân tất có quả, chúng ta đừng bao giờ bỏ dở cơ hội tốt nào. Hãy phấn đấu không ngừng, phấn đấu để thắng dục vọng, thực chứng sự lý giải thoát, để khỏi phải phụ lời dạy dỗ của Ðức CHÍ TÔN và thực hành lý tưởng của người tu chơn là giữ trọn cuộc đời cao thượng trong sạch sáng suốt, an vui, tự tại và giải thoát./.

THƯỢNG SANH

 


 

Lễ kỷ niệm ÐỨC HỘ PHÁP Qui Thiên

TẠI ÐỀN THÁNH, đêm mùng 9/4/Ất Tỵ (1965)

 

Kính Chư Chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Phước Thiện Nam Nữ,
Kính Chư Chức việc và Ðạo hữu lưỡng phái,

Hôm nay là ngày kỷ niệm Ðức HỘ PHÁP Qui Thiên, tôi xin nói về vấn đề đức chí thành và công nghiệp của Ðức Ngài trong Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Ðức Chí Thành là một đức tính mà con người sanh ra ở thế gian ai cũng cần phải có, để tự kềm chế mình được ngay thẳng thành thật trong đường đời cũng như đường Ðạo. Có chí thành con người mới có phẩm hạnh sáng tỏ, mới biết cân phân tà chánh, thị phi trong khi tiếp xúc với nhân quần xã hội, mới dám quyết định nên hư trong các công việc của mình và nhờ đó mà đi đến mức thành công mỹ mãn.

Người có đức chí thành không hề biết dối trá gạt gẫm ai, không biết a dua, bợ đỡ, không vì lợi bỏ nghĩa, không vì mình hại người, cứ thẳng thắn đường ngay tiến bước, thà là chịu thất bại còn hơn là dụng mưu mô bất chánh để dối người, lừa bạn.

Trên đường đời con người vì bị văn minh vật chất lôi cuốn làm cho điên đảo thần hồn, mịt mờ trí nảo nên không mấy ai còn giữ được đức chí thành.Vì đó mà người ta đối đãi nhau bằng những lừa dối, nghi kỵ xảo trá mưu mô khiến cho từ việc nhỏ đến việc lớn đều bị thất bại, nhứt là trong trường hợp có sự cộng tác của nhiều người hướng về một mục đích hay một chủ nghĩa nào.

Ðối với xã hội đức chí thành có một tầm quan trọng như thế, huống chi trong đường Ðạo, đối với tôn chỉ siêu việt cao cả của tôn giáo, đức chí thành lại còn quan trọng lớn lao hơn nữa.

Người hành Ðạo mà thiếu chí thành cũng chẳng khác chi người băng rừng lúc ban đêm mà trong tay không có ngọn đuốc để chỉ đường dẫn hướng, vì chí thành là căn bản của con người thuần túy. Có cái căn bản đó, người ta mới mong trau giồi hạnh đức chí quyết tự giác nhi giác tha, không thể lầm đường lạc nẻo.

Thiếu chí thành tức là mình tự dối với mình trước, sau là dối với bạn Ðạo, dối với người trên trước, dối với nhơn sanh. Cái lòng giả dối sẳn có ấy không thể nào thay đổi được. Một sự tầm thường dễ thấy hơn hết là khi tụng kinh hoặc khẩn vái, cầu nguyện với các Ðấng Thiêng Liêng mà lòng không được nét chí thành thì sự cầu nguyện chẳng qua là làm cho có vẻ bề ngoài chớ tựu trung không bổ ích gì hết. Vì có cảm mới có ứng, không chí thành thì không thể có hiệu nghiệm. Người hành Ðạo có đủ chí thành thì cốù gắng lập công vì nhiệm vụ, vì chủ nghĩa thương đời chớ không cầu danh chác lợi.

Không vì công lớn mà tỏ vẻ tự đắc, lập thế chuyên quyền làm điều trái đạo cho kẻ ăn oán nuốt hờn, người thở than đau khổ, biết lo chung cho sanh chúng, không cần tiếng bợ lời khen, tự khép mình vào khuôn viên đạo đức, treo tấm gương thanh bạch quyết thực hành tôn chỉ vì Ðạo cứu đời.

Theo thuyết Khổng giáo thì phải tu luyện ý chí cho đạt đến Chí Thành để rồi quyết định làm những điều hay lẽ phải để tiến tới Dũng. Dũng cảm đối với Ðức Khổng Tử không phải là cậy sức làm liều mạng, mà Dũng là giữ niềm hòa khí, lúc nào cũng sống với đạo lý của mình, ý chí không thể bị lay chuyển dù là lúc bình thường hay trong hồi nguy biến. Vậy luyện chí thành tức là:

1/ Thấy việc nghĩa nhứt định làm.

2/ Thiết tha với hoài bão của mình.

3/ Tìm mọi biện pháp để thực hiện hoài bão đó.

4/ Dầu là trong khó nhọc gian lao, chí thực hiện đó không sờn mẻ.

Ví dụ có điều mình chẳng học, nhưng đã học mà chẳng thành công thì chẳng thối; Có điều mình chẳng nghĩ, nhưng suy nghĩ mà chẳng ra thì cứ suy nghĩ mãi; Có điều mình không làm nhưng làm mà chưa hoàn tất thì không bỏ dở. Người ta ra công một lần mà được thành, mình dầu ra công một trăm lần mà chưa thành cũng cứ tiếp tục cho đến khi thành mới chịu.

Sự cường dũng là nơi đó vậy. Ðức HỘ PHÁP nếu chẳng phải là người đầy đủ đức chí thành thì ngày nay không có một sự nghiệp vĩ đại để lại cho toàn Ðạo chung hưởng. Ðức Ngài lãnh mạng lịnh với Ðức CHÍ TÔN quyết tạo lập Ðền Thánh thì cương quyết thế nào cũng phải làm tròn sứ mạng.

Lúc bấy giờ Ðạo đương hồi chia rẽ, người thì ra lập chi phái riêng, kẻ thì hô hào bất hợp tác, tìm phương phá rối nội bộ làm cho nhân tâm ly tán. Tài chánh lại eo hẹp, thêm chính quyền thực dân để ý nghi kỵ làm khó dễ đủ mọi phương diện, nhưng mặc cho đường Ðạo gay go, mặc tình đời khắc khổ. Ðức Ngài vẫn bình thản khởi công, quyết chí hy sinh, tận tâm vì nghĩa vụ.

Suốt 5 năm công khó, ăn ngủ thất thường, đem hết trí não điều khiển công cuộc xây dựng. Ðền Thánh vừa mới tạo xong mặt ngoài thì chánh phủ Pháp ra lệnh cho nhân công phải ngưng hết mọi công việc xây cất. Ðó là ngày 28/5/Tân Tỵ (1941).

Kế Ðức Ngài bị bắt và bị đưa đi sang MADAGASCAR vào ngày 27/7 năm 1941 cùng 5 vị Chức sắc. Cơ thử thách quá nặng nề, dầu cho ai lâm vào cảnh tang thương não nùng như vậy thì chí cương quyết cũng phải tiêu ma, nhưng Ðức Ngài nhờ có khối nhiệt thành trau luyện tột bực, nên Ðức Ngài đinh ninh là cái sứ mạng xây dựng Ðền Thánh do Ðức CHÍ TÔN giao phó, không vì cái bạo tàn của thực dân mà phải bỏ dở.

Vầng trăng đương soi sáng vũ trụ, bỗng nhiên một thoáng mây đen thoáng qua, tuy là làm cho lu mờ cảnh vật, nhưng đó chỉ là trong chốc lát. Một luồng thanh phong thổi tới, áng mây bị đẩy đi xa, ánh trăng cũng trở lại tỏ rạng khắp bốn phương trời

Thật vậy, sau 5 năm mấy tháng lưu đày. Ðức Ngài hồi hương với một tinh thần cao siêu hơn, một tâm linh cao đẹp hơn, một chí thành cứng rắn hơn. Chim bằng đã dưỡng sức từ bấy lâu nay chớp cánh bay tận bốn phương trời, mặc sức vẫy vùng giữa chốn ngàn mây dặm gió.

Về đến vùng Thánh địa, điều lo nghĩ trước nhứt của Ðức Ngài là tiếp tục công cuộc kiến thiết Ðền Thánh. Khích lệ đám nhân viên công thợ của Ðạo, Ðức Ngài chăm lo tiện tặn tài chánh, lo tô điểm ngôi Ðền Thờ cho đến khi hoàn thành mỹ mãn.

Xong công cuộc xây dựng Ðền Thánh, Ðức Ngài lo tu bổ các dinh thự mở mang đường sá, xây cất Trí Huệ Cung, tổ chức Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh. Nhờ uy tín và chí thành của Ðức Ngài, Ðạo lúc bấy giờ phát triển không ngừng.

Bàn tay của Ðức Ngài là bàn tay sáng tạo. Có Ðức Ngài đại nghiệp Ðạo mới được đồ sộ như ngày nay, thanh danh Ðạo mới được loan truyền khắp mặt địa cầu.

Ðức Ngài đã hy sinh trọn đời để lo cho sanh chúng, tạo cho đời một kỷ niệm tinh thần, nâng cao nền tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam ngang hàng với các nước Âu Á về mặt tôn giáo.

Sứ mạng hoàn thành, Ðức Ngài trở về Thiêng Liêng vị, bằng lòng với công cuộc của mình đã xây dựng để lưu lại cho bao nhiêu bạn đồng hành, bao nhiêu con em trong cửa Ðạo.

Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, thừa hưởng sự nghiệp của Ðức Ngài, mỗi Chức sắc, mỗi Ðạo hữu phải ghi nhớ công ơn của Ðức Ngài. Sự nhớ công ơn đó chẳng phải là bằng lời nói không, mà phải bằng những cử chỉ và hành động xây dựng, thế nào cho thanh danh Ðạo ngày càng thêm cao, thế nào cho Ðại nghiệp nầy được bành trướng và trường tồn mãi mãi.

Nhớ công ơn Ðức Ngài, chúng ta phải noi theo gương vị tha và đức chí thành của Ðức Ngài, tức là phải quên mình để phục vụ, cố gắng làm nên để cho nhơn sanh hưởng nhờ và cương quyết theo hoài bão xây dựng cho đến mức thành công.

Sau nữa, nhớ công ơn Ðức Ngài, chúng ta phải thành thật thương yêu nhau, không vì một lẽ nào mà chia rẽ nhau, thù nghịch lẫn nhau, vì Ðức Ngài cũng vì thương yêu, nên đã phí cả một kiếp sanh để gắng công lưu lại cho đời một tinh thần bất diệt.

Hướng về chốn ngàn mây động bích, chúng ta đồng cầu xin Ðức Ngài trợ giúp chúng ta vững tiến đường đạo đức và làm tròn nhiệm vụ.

Mong thay! Kính thay!

THƯỢNG SANH

 


 

DIỄN VĂN

LỄ ÐẶT VIÊN GẠCH ÐẦU TIÊN
KIẾN THIẾT CHÁNH MÔN TÒA THÁNH TÂY NINH

 

Kính Chư Chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện Nam nữ,
Kính Thiếu Tướng cựu Tỉnh Trưởng Tây Ninh và quý Quan khách,
Kính Chức việc và Ðạo hữu lưỡng phái,

Hôm nay là ngày lễ đặt viên gạch đầu tiên kiến thiết Chánh môn Tòa Thánh Tây Ninh.

Tôi để lời cám ơn Chư quý viên quan và quan khách đã sẵn lòng đến dự làm cho cuộc lễ tăng thêm phần long trọng. Tôi cũng để lời cám ơn toàn thể Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu Nam Nữ đến đông đảo để nâng cao tinh thần đoàn kết trong công cuộc kiến thiết nầy.

Ðã bao lâu rồi HỘI-THÁNH có ý định xây cất Chánh môn Tòa Thánh theo sự trù hoạch của Ðức Hộ Pháp từ trước. Nhưng vì tài chánh eo hẹp, lại nữa trong vùng nội ô có nhiều sự kiến trúc và tu bổ cấp bách cần phải lo trước, nên không thể thực hành ý định sớm hơn được. Mãi cho đến ngày hôm nay mới có thể khởi công xây dựng.

Theo sự thỏa thuận trước đây giữa HỘI-THÁNH và ông cựu Tỉnh Trưởng thì công cuộc vận động cho có đủ tài chánh mua vật liệu về phần ông cựu Tỉnh Trưởng đảm nhiệm, còn HỘI-THÁNH thì lo về chi phí công thợ.

Nhưng ngày 12 tháng sáu Ất Tỵ (nhằm 10/07/1965) thì chánh phủ bổ nhiệm ông Tỉnh Trưởng mới đến thay thế cho ông Lê Văn Tất được lãnh nhiệm vụ khác.

Lẽ dĩ nhiên, ông cựu Tỉnh Trưởng không còn lo nhiệm vụ kể trên nữa, và công cuộc xây dựng Chánh môn Tòa Thánh hiện nay đã chính thức trọn vẹn phần HỘI-THÁNH đảm nhiệm về phương diện tài chánh cũng như về phương diện kiến thiết.

Từ mấy chục năm qua, đại nghiệp của Ðức CHÍ-TÔN tại thế vẫn được bồi đắp lần hồi do nơi lòng trung thành và chí hy sinh của toàn Ðạo, tức là của Chức sắc và Thiện tín. Ðạo trải qua bao nhiêu nỗi thăng trầm, lướt qua bao phen bão bùng, giông tố gây nên bởi lòng tham hiểm của thế tình, nhưng chánh khí trung cang của con cái Ðức CHÍ-TÔN không bao giờ sờn mẻ. Trong những giờ phút khó khăn, điên đảo; trong những hồi đen tối khuynh nguy, nếu vạn đắc dĩ, HỘI-THÁNH phải để lời kêu gọi thì nhân sanh trong cửa Ðạo sẵn sàng hưởng ứng kẻ của người công xúm nhau đem khối nhiệt thành điểm tô cho cơ nghiệp Ðạo.

Ðó chính là một tinh thần phục vụ cao siêu mà cũng là cái năng lực hữu hiệu của Thiêng Liêng đã mầu nhiệm dành sẳn cho Thánh Thể Ðức CHÍ-TÔN tại thế. Cái tinh thần đó bất diệt cũng như cái năng lực đó vẫn mãi trường tồn và luôn luôn chực sẵn để phụng sự cho chánh nghĩa, nâng đỡ cho lẽ phải và giúp nên cho những bậc lãnh đạo chơn chánh, thiết tha hoài bão xây dựng cho nền Chánh giáo.

Những đấng đàn anh tiền bối trong cửa Ðạo ngày nay dù khuất bóng đã để lại biết bao công trình, bao nhiêu tâm huyết, lao tâm tiêu tứ có khi đến hơi thở cuối cùng, chỉ vì quyết phục vụ nhơn sanh, chỉ vì quá thương Thầy mến Ðạo, quyết lưu lại một chút sự nghiệp cho người sau chung hưởng, đó là những bậc vĩ nhân đạo đức đáng kính mến, đáng tôn thờ.

Lo làm để cho kẻ khác hưởng, cho người sau hưởng, đó là vị tha, đó là chánh nghĩa.

Lo làm để cho chính mình hưởng đó là vụ lợi, tức là bất chánh, việc làm dù thành công cũng không tồn tại được.

Công cuộc kiến thiết Chánh môn hôm nay bắt đầu thực hành, HỘI-THÁNH vui lòng nhận thấy không biết bao nhiêu người trong Ðạo sẳn lòng hổ trợ, hân hoan góp phần xây dựng.

Mặc dù cuộc sinh hoạt đương hồi khó khăn, đời sống của nhơn sanh quá chật vật, nhưng lòng háo nghĩa của bổn Ðạo quá nồng nàn, thật HỘI-THÁNH lấy làm cảm động.

Tô điểm cho đại nghiệp là bổn phận của mỗi Chức sắc, mỗi Ðạo hữu, chúng ta cùng chung lưng góp sức để vun đắp nền Ðạo càng ngày càng thêm đồ sộ vững bền, hầu tỏ tình đoàn kết chặc chẽ giữa các con cái của một đại gia đình, dưới sự dìu dắt chở che của Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ, đó là một điều quí báu vô giá mà Ðức CHÍ-TÔN hằng ước mong trông thấy trong cửa Ðạo. Sự đoàn kết đó là mối dây thiêng liêng tạo nên tình thương yêu đậm đà, một căn bản siêu nhiên trên bước đường giải khổ cho nhân loại.

Về việc xây dựng Chánh môn, mặc dù sự phỏng định tạo tác hơi lớn lao, nhưng đối với thanh danh của Ðạo, cuộc kiến thiết cũng phải có một giá trị xứng đáng để tượng trưng cái thể thống của một nền tôn giáo do Ðức Thượng Ðế sáng lập.

HỘI-THÁNH tin rằng với lòng sốt sắng hỗ trợ của toàn Ðạo với sự quyết tâm hưởng ứng của con cái Ðức CHÍ-TÔN, công cuộc kiến thiết Chánh môn Tòa Thánh sẽ được hoàn thành mỹ mãn trong một thời gian ngắn. "Một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao." Ðó là câu phương ngôn đúng xác ý nghĩa trong sự tạo tác nầy.

Với những nhà hảo tâm trong Ðạo cũng như ngoài mặt đời, để góp phần hỗ trợ cho HỘI-THÁNH, với những Ðạo hữu công thợ trung thành với nhiệm vụ, vui lòng hiến công vào cuộc xây dựng nầy, HỘI-THÁNH xin để lời thành thật cám ơn.

HỘI-THÁNH cũng không quên để lời cảm tạ ông cựu tỉnh trưởng Tây Ninh đã có lòng sốt sắng đảm nhiệm lúc ban sơ việc vận động cho có đủ tài chánh mua vật liệu. Mặc dù ông không còn phận sự hành chánh tại Tây Ninh để thực hành theo như ý muốn, song cái hảo ý của ông vẫn đáng khen và đáng ghi nhớ.

Trước khi dứt lời, tôi thành tâm cầu nguyện Ðức CHÍ-TÔN ban ơn cho toàn thể Chức sắc Ðạo hữu và Chư quí quan khách.

Nam Mô Cao-Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát
(16/06/Ất Tỵ) 1965
THƯỢNG SANH

 


 

DIỄN VĂN

CHÀO MỪNG THIẾU TƯỚNG
CHỦ TỊCH ỦY BAN HÀNH PHÁP TRUNG ƯƠNG
VÀ PHÁI ÐOÀN CHÁNH PHỦ

 

Kính thưa Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương,
Kính thưa Quý Tổng Ủy Viên - Ủy Viên và phái đoàn Chánh phủ,
Kính thưa qúi Quan khách,

Hôm nay HỘI-THÁNH Tòa Thánh Cao-Ðài Tây Ninh được có cái hân hạnh tiếp rước Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương và quý phái đoàn chánh phủ có lòng huệ cố ghé viếng HỘI-THÁNH chúng tôi, làm cho chúng tôi được một vinh hạnh quá lớn lao.

Sự hiện diện của Thiếu Tướng Chủ Tịch nơi vùng Thánh Ðịa hôm nay chứng tỏ lòng thiện cảm đặc biệt của Thiếu Tướng đối với Ðạo giáo chúng tôi. Thật chúng tôi lấy làm thậm cảm và toàn thể Chức sắc, Tín hữu dự cuộc tiếp rước nầy đều lộ nét hân hoan phấn chấn.

Vậy nhơn danh HỘI-THÁNH Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện Tòa Thánh Tây Ninh, thay mặt toàn thể Chức sắc, Tín hữu Nam Nữ và nhơn danh riêng tôi, chúng tôi xin để lời chào mừng Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương và quý Phái đoàn chánh phủ, xin Thiếu Tướng và Quý ngài nhận nơi đây sự thành thật tri ân của tôi.

Thưa Thiếu Tướng Chủ Tịch,

Ðược biết công tâm và đức tính thương người của Thiếu Tướng, chúng tôi để trọn niềm tin là dưới quyền lãnh đạo quốc gia của Thiếu Tướng, các tôn giáo trong nước sẽ được càng ngày càng thêm phát triển mạnh mẽ để thi hành sứ mạng thiêng liêng giáo dân độ thế, cứu khổ nâng nguy.

Sự bành trướng về mặt tinh thần nầy được thực hiện là nhờ nơi chủ trương tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo mà chánh phủ quyết theo đuổi từ khi Thiếu Tướng nắm quyền Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.

Chẳng những ban cho tôn giáo được quyền tự do hoạt động, Thiếu Tướng Chủ Tịch còn giúp cho có phương tiện thực hành chủ nghĩa bác ái, từ bi đối với bao nhiêu khổ đau của nhơn loại.

Vì đó, chúng tôi có thể nói rằng Thiếu Tướng Chủ Tịch là một đại ân, đại nghĩa, một cứu tinh của các tôn giáo thuần túy trong nước nhà vậy.

Ngoài ra chúng tôi nhận thức dưới quyền lãnh đạo của chánh phủ hiện tại, chánh sách Ðạo Ðời tương đắc được thực hiện khắp nơi, đó là một điều quan trọng và cần thiết mà chúng tôi ước mong sẽ tồn tại mãi mãi, vì Ðạo không Ðời, Ðạo cô thế, Ðời không Ðạo, Ðời hão huyền. Ðời Ðạo có tương đắc sự kiến thiết quốc gia về hình thức lẫn tinh thần mới có kết quả tốt đẹp.

Thưa Thiếu Tướng Chủ Tịch,

Sự thăm viếng của Thiếu Tướng hôm nay đem đến cho HỘI-THÁNH chúng tôi một khích lệ lớn lao. Chúng tôi coi đó là một kỷ niệm quý báu đáng cho chúng tôi ghi nhớ mãi.

HỘI-THÁNH chúng tôi xin thành tâm chúc Thiếu Tướng Chủ Tịch sức khỏe dồi dào, tinh thần tráng kiện để hoàn thành nhiêïm vụ tối cao đối với quốc gia và dân tộc, trong khi tình trạng nước nhà đương hồi cực kỳ nghiêm trọng.

Trước khi dứt lời, chúng tôi khẩn nguyện Ðức CHÍ-TÔN ban phước lành cho Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Quý vị trong phái đoàn chánh phủ và toàn thể Quý quan khách.

Nay kính,

TM. HỘI-THÁNH Tòa Thánh Tây Ninh
Thượng Sanh Cao Hoài Sang

 


 

HUẤN TỪ

NHƠN BỮA TIỆC ỦY LẠO
CHỨC SẮC TRUNG ƯƠNG VÀ ÐỊA PHƯƠNG
tại giảng đường ngày 22 tháng 8 năm Ất Tỵ (dl. 17/9/1965)

 

Kính chư Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu lưỡng phái,

Lễ Tết Trung Thu và cũng là Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung năm Ất Tỵ nơi Tòa Thánh đã kết thúc trong sự vui đẹp và trong niềm cảm hứng của toàn thể chức sắc, chức việc và đạo hữu nam nữ. Ðiều đó chứng tỏ một tinh thần đoàn kết mật thiết giữa HỘI-THÁNH và toàn thể chức sắc, chức việc nơi trung ương cũng như ở địa phương. Nhờ đó HỘI-THÁNH đã thành công mỹ mãn.

Hôm nay, ngày toàn thể chức sắc, chức việc hiện diện đông đủ trong bữa tiệc thanh đạm nầy là bữa tiệc của HỘI-THÁNH cố ý nhóm họp tất cả anh chị em trong đại gia đình chức sắc, chức việc cũng như nhơn viên các ban bộ, trước để ủy lạo, sau để tỏ tình cảm mến đối với những bạn Ðạo cùng chung chí hướng hầu thắt chặc dây thân ái, quyết hứa hẹn nắm tay nhau đi tận con đường giải khổ.

Ðây là một cuộc hội hiệp đầy thân ái, chân thành mà mỗi chức sắc đều có ý trông đợi, vì sau buổi hội, khi chia tay, kẻ ở lại vùng Thánh Ðịa, người tản mát nơi tứ phương, mỗi vị còn giữ lại một kỷ niệm tốt đẹp gọi là nỗi an ủi trong cuộc đời tan hiệp.

Trong dịp gặp gỡ nầy, HỘI-THÁNH nhận thấy và thông cảm những nỗi khó khăn của nhiều vị Khâm Châu, Ðầu Tộc từ chỗ xa xôi, diệu vợi cũng không nài cực nhọc, không quản đường sá gian lao quyết về với Tổ đình để chiêm bái Ðức PHẬT-MẪU cho tròn câu hiếu Ðạo.

Ðó là một nghĩa cử đáng khen. Người hành Ðạo được có chí thành vững chãi mới làm tròn sứ mạng.

Thánh Thể Ðức CHÍ-TÔN có được những chức sắc trung thành và tận tụy như vậy nền Ðạo mới càng ngày thêm vững bền, thanh danh Ðạo mới được nâng cao, HỘI-THÁNH mới đủ uy tín, vững lòng dìu dắt con vái Ðức CHÍ-TÔN và thực hành nhiệm vụ.

Như chư quý bạn đã rõ, trong mấy năm qua, HỘI-THÁNH đã trải qua nhiều cơ thử thách gay go. Cuộc ly gián đã xâm nhập vào cửa Ðạo làm cho rối loạn mối chánh truyền, rẻ chia tình thân ái. Nhưng quyền năng Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU vẫn vô biên. Cái tinh thần của con cái hai Ðấng Chí Linh ấy dầu bị xao xuyến đôi phen song còn đủ sáng suốt nhận định để kịp hướng về chánh nghĩa của Ðạo.

Một trận giông thoáng qua làm cho mặt nước trường giang phải xao động, nhưng tàn cơn gió lốc mặt sông vẫn trở về với sự phẳng lặng, yên tịnh của nó như bình thường

Cái lý trí của người tu sĩ cũng như thế.

Người khách lữ hành biết mình đi lạc hướng, nhìn xem chặng đường như lạ cảnh đáng ngờ thì tức khắc trở lại con đường cũ.

Ấy vậy, biết mình lầm lạc, tự chừa cải ăn năn, đó là điều quý báu, chứ biết lỗi mà cứ ngoan cố đi vào chỗ sai lầm, đó là tự chiêu kỳ họa. Người đã bước vào cửa Ðạo và quyết giữ tròn minh thệ không thể có hành động như vậy.

Ðã là người tu hành thì ai cũng có một chí hướng thiết thực, một hoài bão cao siêu là lánh giả tìm chơn, xả thân, diệt bản ngã để tiến tới hoàn thiện. Cái chí hướng ấy thật trong sạch, thật thanh cao. Chúng ta nên cương quyết giữ nó cho toàn vẹn dầu ở trong hoàn cảnh khó khăn thế nào cũng đừng thay đổi.

Gặp đặng mối Ðạo Trời như cầm trong tay một khối ngọc còn đang ẩn đá. Phải cố tâm mài giũa, gắng công tháng lụn năm chầy thì một ngày kia mới thấy lố hình ngọc quí. Ví bằng mới mài được nửa chừng lại thối chí ngả lòng, vội buông mồi bắt bóng bỏ chạy theo mối lới khác vô giá trị thì có phải là công phu lở dở, mình chịu thiệt thòi chăng?

Ví như người Ðạo sĩ mà còn bôn chôn thế sự, say đắm mùi trần, mê theo mồi danh bả lợi, cũng lăng xăng giành giựt, ích kỷ hại nhơn, gây ra chẳng biết bao nhiêu tội tình, thử hỏi Ðạo sĩ ấy có xứng đáng là bậc tu hành đạo đức chăng?

Nếu là người trong hàng Thánh Thể Ðức CHÍ-TÔN thì lại làm cho tổn thương thanh danh nền Ðại Ðạo hoen ố lây cho cả bạn đồng thuyền.

Toàn thể chức sắc đã nhìn thấy bao nhiêu giả dối của tuồng đời, đã thấm nhuần lời Thánh Huấn của Ðức CHÍ-TÔN, tôi tin chắc rằng không một ai để mình bị lôi cuốn vào nơi hiểm họa ấy.

Hôm nay trong sự hội hiệp của chúng ta, tôi nhận thấy một tinh thần đoàn kết, nồng đượm nét vui vẻ điều hòa. Ðiều đó chứng tỏ một giải đồng tâm đã buộc chặc con cái Ðức CHÍ-TÔN hòa hợp trong tình thương yêu chơn thật không thể nào sứt mẻ được nữa.

Với sự đồng tâm nhất trí để bồi đắp lại nghiệp chung, chúng ta có thể san bằng tất cả những khó khăn, làm cho danh Ðạo được sáng rở trên khắp mặt địa cầu.

Sau ngày lễ tiếp nhận Tư Cách Pháp Nhân Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ nơi Thánh Ðịa, nền Ðạo đã bước qua một giai đoạn mới, một giai đoạn xây dựng và phát triển có thể chóng đem hạnh phúc lại cho nhơn sanh và làm rạng danh cho xứ sở.

Từ bốn mươi năm nay, trải qua bao nhiêu thăng trầm biến chuyển, chịu biết bao sự bất công và áp bức của bạo quyền, mặc dù có lúc trực tiếp nhận lấy phần hy sinh để thể hiện sứ mạng Ðạo cứu Ðời, Ðạo Cao-Ðài hôm nay mới chính thức nở mặt với các tôn giáo miền Âu Á để đem giọt bác ái, từ bi chan rưới cho đồng bào chủng tộc.

Là người tận tụy với chủ nghĩa thương đời và đã lắm nhọc nhằn vì sứ mạng thiêng liêng, chúng ta nên phấn khởi và hân hoan đem hết khả năng phục vụ cho Ðạo để được xứng đáng với lòng thương vô tận của Ðức CHÍ-TÔN và với sự tin cậy của HỘI-THÁNH.

Hiển nhiên là mỗi Chức sắc phải gắng công hơn nữa, phải nhọc nhằn hơn nữa. Nhưng đã từ bỏ cảnh phồn hoa để sống về mặt Ðạo, đã quyết chí hy sinh để cứu vớt kẻ trầm luân nơi khổ hải thì dầu cực nhọc bao nhiêu, chúng ta dễ gì nản chí.

Sự nhọc nhằn và khổ hạnh là những nấc thang đưa chúng ta lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống để cùng hội hiệp với Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ vậy.

Nhớ đến cảnh đau buồn của Ðạo trong những giai đoạn đen tối mấy năm qua, HỘI-THÁNH không khỏi bồi hồi cảm xúc khi chứng nhận sự an ủi do nơi Chức sắc Khâm Châu, Ðầu Tộc, Ðầu Phận và Ðạo hữu nơi tứ phương thành tâm đem đến. Kẻ góp của, người góp công để chứng tỏ lòng can đảm chung chịu cảnh khó khăn sớt chia khổ nhọc với các bậc đàn anh trong đại gia đình và giúp cho HỘI-THÁNH xoay trở trong các việc cần thiết khẩn cấp.

Cái tình thân ái đậm đà đó đã đến mức siêu nhiên, nếu chí dũng cảm hy sinh không phải được gội nhuần trong cửa Ðạo, nếu tâm chân thành thương yêu không phải do đức háo sanh của Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ chan rưới thì trên cõi trần nầy không thể có những tấm lòng vàng quí báu đó được.

Thưa quí bạn, rồi sau bữa tiệc thân mật nầy, các Chức sắc địa phương Khâm Châu, Ðầu Tộc phải chuẩn bị lên đường trở về với phận sự.

Hiệp tan không mấy chốc, sự chung vui nơi cõi dinh hoàn nầy không mấy khi bền lâu được, duy có tình thương yêu chơn thật là vĩnh viễn trường tồn.

Ðưa nhau bằng lời nói, đó là phẩm cách của những bậc hiền triết ngày xưa. HỘI-THÁNH xin để lời khuyên nhủ quí bạn nên thận trọng gìn giữ phận sự.

Nơi chốn xa xôi, quý bạn là phương tiện của Ðạo thay mặt HỘI-THÁNH phổ hóa chơn truyền, dìu dắt nhơn sanh trên đường đạo đức. Phải giữ phép công, phải quên mình mới thực hành đúng đắn câu phổ độ.

Với những bạn Ðạo lỡ lầm, sái bước lạc đường nên lấy lời lẽ êm dịu của bậc đàn anh mà thức tỉnh đưa trở lại bước đường chơn chánh. Với những bạn yếu thế, đơn cô, phải lấy từ tâm hết lòng giúp đỡ, người dư dã, san sớt cho kẻ thiếu thốn, ai rủi vướng nạn phải chung nhau tận tình gở rối.

Ðối với mặt đời, dầu họ ở giai cấp nào, dầu giàu hay nghèo, quý hay tiện cũng phải nhã nhặn khiêm từ, gặp dịp thì nên sẵn sàng cứu khổ nâng nguy y như đối với người trong cửa Ðạo. Như thế chúng ta mới thực hành được câu: "Tạo Ðạo nơi cảnh đời, dìu đời nơi cửa Ðạo".

Trên đường đời đầy dẫy những chông gai hiểm trở trong lúc thiên hạ đua nhau tôn thờ tiền tài danh vọng để mặc tâm hồn dật dờ trong vòng tối tăm tội lỗi. Trong lúc người ta chực chờ cấu xé nhau, giết hại nhau đề tranh giành lợi lộc, chúng ta lại may mắn được che chở dưới bóng từ bi, được sống một đời an vui thanh đạm. Chúng ta nên coi đó là một ân huệ tối cao của Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU đã ban thưởng riêng biệt cho chúng ta.

Mỗi Chức sắc nên vui với nhiệm vụ thiêng liêng, khép mình vào khuôn viên đạo đức, để ngoài tai những lời quyến rũ bất lương, những giọng huyễn kèn xảo mị, coi lợi danh là miếng mồi xô đẩy con người vào vực thẳm thì may ra mới tránh khỏi vòng lửa đỏ đang thiêu đốt biết bao nhiêu tâm hồn sa đọa nơi cạm bẩy.

Ðức CHÍ-TÔN có dạy một bài thi tứ tuyệt như sau:

  "Nẻo chánh tìm theo mối Ðạo gìn,
Hay chi tuồng thế bước đua tranh,
Của nhiều đức ít sương trên cỏ,
Giành giựt mà chi phải lụy mình."

"Ðời đã tàn, thuyền từ sắp lìa bến tục", đó là lời của Ðức PHẬT-MẪU.

Trong cảnh tang thương, giữa đời gió bụi, chúng ta phải cùng nắm tay nhau, nương nhờ nhau, giúp đỡ lẫn nhau, chúng ta mới có đủ nghị lực vượt qua những nỗi gay go hiểm trở để nhặc tiến trên đường nhiệm vụ.

Nhơn buổi hội hiệp nầy, tôi xin cầu nguyện Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU ban ơn lành cho toàn thể Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu nam nữ Cửu Trùng Ðài cũng như Phước Thiện.

Riêng về chư vị Khâm Châu, Ðầu Tộc nam nữ ở địa phương, tôi cầu chúc quý vị lên đường được thuận tiện, an toàn và trong ngày tái ngộ năm sau, chúng ta được gặp nhau đông đủ y như buổi tiệc hôm nay.

Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

CAO THƯỢNG SANH

 


 

BÀI THUYẾT VỀ ÐỨC KHỔNG PHU TỬ

 

Hôm nay là ngày vía của Ðức Khổng Thánh, tôi xin nhắc sơ lược lịch sử của Ngài mà các dân tộc Á Ðông đều nhìn nhận là Thủy tổ của Nho Giáo.

Trước hết cần giải nghĩa hai chữ Nho Giáo. Thời xưa người học Ðạo của Thánh hiền gọi là Nho, tức là người tìm học để biết được lẽ trời đất và người hầu dạy bảo người ta ăn ở cho phải Ðạo luân thường.

Chữ Nho của Hán tự là bởi chữ "Nhân" đứng kế bên chữ "Nhu" mà thành ra. Nhân là người, Nhu là cần dùng, tức là một hạng người lúc nào cũng cần có để giúp cho nhân quần xã hội, biết cư xử và hành động cho hợp với lẽ Trời. Chữ "Nhu" lại có nghĩa là chờ đợi, tức là người học giỏi đợi người cần dùng đến, là đem tài trí mình ra hiến cho quốc gia để làm cho ích nước lợi dân.

Có biết rõ cái ý nghĩa ấy thì mới hiểu tại sao Ðức Khổng Tử cả đời cứ phải châu du thiên hạ để cầu ra xuất chính.

Ngài là người theo Ðạo Nho, bao nhiêu học hỏi và tư tưởng của Ngài, Ngài quyết đem ra thực hành trong xã hội để giáo hóa nhơn sanh và sửa đời được tận thiện tận mỹ.

Cái chí hướng của Ngài cũng là cái chí hướng chung của người Nho học từ đời Thượng cổ. Vì đó trước thời Xuân Thu những người Nho học gọi là "SĨ". Sĩ ở đây có nghĩa là làm quan, mà quan thời đó là làm việc nghĩa với đời.

Từ cuối thời Xuân Thu trở đi, Ðức Khổng Tử đem phát huy cái học thuyết chính thức của Nho gia và định rõ những điều đại khái như sau:

1/- Nói về cuộc biến hóa của võ tru, quan hệ đến vận mạng của Nhơn loại.

2/- Nói về mối luân thường đạo lý trong xã hội.

3/- Nói về các lễ nghi trong việc tế tự Trời Ðất, Thánh Thần.

Những điều ấy thành ra cái thuyết về "NHÂN SANH TRIẾT HỌC" có ảnh hưởng lớn lao đến tư tưởng và hành động của toàn cả nhơn quần xã hội, lại là những điều cốt yếu của một tôn giáo.

Cho nên từ Ðức Khổng Tử trở đi, cái học của Nho gia được gọi là Nho Giáo và Ðức Khổng Tử được tôn là thủy tổ của Nho Giáo.

LỊCH SỬ: Ðức Khổng Tử người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ thuộc tỉnh Sơn Ðông bên Trung Hoa. Dòng dõi Ngài ở nước Tống, nhưng ông Tổ ba đời của Ngài sang cư ngụ tại nước LỖ.

Thân phụ Ngài là Thúc Lương Ngột, làm quan võ, lấy người vợ trước sanh được chín người con gái, người vợ lẽ sanh được một trai là Mạnh Bì bị tật què chơn. Ðến lúc gần già mới lấy bà Nhan Thị sanh ra Ngài.

Ngài sanh vào mùa Ðông, tháng 10 năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Châu, tức là năm 551 trước Tây lịch kỷ nguyên. Bà Nhan Thị có cầu tự tại núi Ni Khâu, nên khi sanh Ngài mới đặt là Khâu tự là Trọng Ni. Dã sử chép rằng trước khi sanh, bà Nhan Thị có thấy một con kỳ lân nhả tờ Ngọc thơ có đề chữ: "Thủy Tinh chi tử, kế suy Châu vi Tố vương". Nghĩa là con của Thủy Tinh nối Nhà Châu đã suy mà làm vua không ngôi. Bà Nhan Thị lấy dây lụa buộc vào sừng con kỳ lân, được mấy ngày kỳ lân ấy đi mất.

Lại khi Ngài ra đời, có hai con rồng xuống quấn chung quanh nhà và có 5 ông Lão và 5 vì sao trên trời xuống đứng giữa sân.

Bà Nhan Thị lại nghe trên không có âm nhạc tiếng nói rằng: "Thiên cảm sanh Thánh Tử", nghĩa là Trời cảm lòng cầu nguyện cho sanh ra con Thánh.

Khi Ðức Khổng Tử được ba tuổi thì ông thân phụ mất, năm 19 tuổi Ngài thành gia thất, tuy còn trẻ tuổi, Ngài nổi tiếng là người học giỏi nên quan nước Lỗ là Trọng Tôn Cổ cho hai con là Hà Kỵ và Nam Cung Hoát theo Ngài học Lễ.

Ngài rất chú ý về việc lễ nghi và những phép tắc của các Ðế vương đời trước. Lúc Ngài được 29 tuổi nhờ Lỗ Hầu giúp cho xe ngựa và tiền lộ phí nên Ngài cùng một ít môn đệ sang qua Lạc Ấp là kinh sư nhà Châu để khảo cứu và xem xét những chế độ nơi miếu đường và nơi nào có việc gì quan hệ đến sự tế lễ là Ngài đến nghiên cứu cho tường tận. Ngài lại đến hỏi Nhạc nơi Trành Hoằng hỏi Lễ Ðức Lão Tử lúc ấy đương làm quan giữ Tàng thơ viện cho Nhà Châu.

Cuộc hội đàm giữa hai bậc Thỉ tổ Nho Giáo và Ðạo Giáo không được tương đắc, vì lẽ Ðức Lão Tử thiên về mặt vô vi, dùng sự thanh tịnh an nhiên, trầm tư mặc tưởng để sưu tầm một chơn lý cao siêu thoát tục, còn Ðức Khổng Tử thì đương chen lộn trong xã hội, đem thuyết "Hình Nhi Hạ" tức là Nhân Nghĩa và luân thường mà phổ cập trong thiên hạ, chớ Ngài chưa chiêm nghiệm về võ trụ, định mạng, sinh tử tức là về "Hình Nhi Thượng Học", một vấn đề mà 20 năm sau Ngài mới đề cập đến. Lẽ dĩ nhiên sở kiến của hai Ngài rất đối chọi nhau.

Sử ký chép rằng: Khi Ðức Khổng Tử đem thuyết Nhơn Ðạo để hỏi thì Ðức Lão Tử đáp rằng: "Người quân tử gặp thời thì đi xe, không gặp thời thì đội nón lá và đi chân. Ta nghe người buôn bán giỏi khéo chứa của mà không ai biết, người quân tử có đức tốt mà bề ngoài coi như người ngu dại. Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng ham muốn đi, những cái ấy đều vô ích cho ông".

Sau khi Ðức Khổng Tử ra về, Ngài bảo các đệ tử rằng: "Con chim có tài bay, con cá có tài lội, giống thú chạy giỏi, ta đều có thể biết được. Ðến khi con rồng thì nó cỡi gió lướt mây, vận chuyển một cách phi thường thì ta không biết đâu mà lường được. Hôm nay ta thấy Lão Tử như con rồng vậy".

Ðức Khổng Tử ở Lạc Ấp ít lâu rồi trở về nước Lỗ. Sự học hỏi của Ngài được mở rộng và học trò đến thọ giáo ngày càng đông.

Tuy nhiên vua nước Lỗ chưa dùng Ngài, Ngài lại sang nước Tề, bị quan Ðại phu là Yến Anh ngăn trở không cho Tề hầu dùng Ngài.

Ngài trở về nước dạy học cho đến năm 51 tuổi, vua nước Lỗ mới dùng ngài làm quan Trung Ðô Tể. Cách một năm Ngài được thăng Ðại Tư Khấu. Ngài đặt ra luật lệ cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc lớn nhỏ phân biệt, trai gái đều có bổn phận, ngoài đường không lượm của rơi, kẻ gian phi vắng bóng, hình pháp có đặt ra mà không dùng đến. Bốn năm sau Ngài được thăng lên đến bậc Nhiếp Tướng Sự, nghĩa là Ngài quyền nhiếp về việc chánh trị trong nước.

Ngài cầm quyền được bảy ngày thì giết quan Ðại phu Thiếu Chính Mão là một người xảo trá nham hiểm thời ấy. Ðược ba tháng thì quốc chánh rất hoàn toàn, trật tự được phân minh, cảnh tượng nước Lỗ thật là thạnh trị.

Nước Tề là lân bang của nước Lỗ, sợ nước Lỗ được cường thịnh nên dùng 80 mỹ nữ dâng cho vua nước Lỗ để làm kế phản gián. Vì vậy Lỗ hầu say mê tửu sắc, bỏ việc triều chánh. Ðức Khổng Tử can gián không được nên buồn lòng bỏ nước Lỗ mà đi.

Từ đó Ngài châu du khắp thiên hạ, Ngài sang nước Vệ, đến nước Khuông, nước Trần, bị thất bại Ngài trở về nước Vệ rồi qua nước Tống, nước Sở, nước Tần, nước Diệp, nước Thái.

Trên bước đường gió bụi, Ngài bị nguy khổn nhiều phen, như lúc bị vây ở đất Khuông vì dân nhận lầm Ngài là tên gian ác Dương Hổ, Ngài vẫn an nhiên lấy đàn ra khảy, họ biết lầm lạc nên xin lỗi Ngài. Kế đó Ngài bị tuyệt lương ở nước Sở, bị hăm dọa nơi nước Tống, nhưng nhờ tánh khí khái và điềm đạm của Ngài mà được vô sự.

Ngài ôm tài an bang tế thế, mà đi đến nước nào cũng bị quan Ðại phu nước ấy ganh tỵ nên Ngài không được đắc dụng. Thành thử Ðạo của Ngài không thi hành ra được. Lần sau cùng Ngài trở lại nước Vệ ở được sáu năm rồi được quan Ðại phu nước Lỗ là Quý Tôn Phi cho người sang rước Ngài về nước Lỗ. Ngài bỏ nước Lỗ đi đã 14 năm, lúc về Ngài đã 68 tuổi. Ngài thấy mình đã già yếu nên không cần ra làm quan nữa.

Ngài ở nhà dạy học trò khảo cứu và chú giải những kinh sách đời trước như các Kinh Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, và làm sách Xuân Thu để bày tỏ cái Ðạo của Ngài về đường chánh trị.

Ðến mùa xuân năm Canh Thân là năm thứ 39 đời vua Kinh Vương nhà Châu có người đi săn bắt được con kỳ lân què chân trước bên trái, ai cũng cho là điều không tốt nên đem ra thả ngoài đồng. Ngài đi xem trông thấy quá cảm động, bưng mặt mà khóc, khi trở về Ngài than: "Ngô Ðạo Cùng Hỷ" (Ðạo ta đã cùng rồi)

Hai năm sau, đến tháng tư năm Nhâm Tuất đời vua Kinh Vương tức là năm 478 trước Tây lịch kỷ nguyên, một hôm Ðức Khổng Tử dậy sớm, đi vẩn vơ trước cửa, tay kéo lê cây gậy mà hát rằng: "Núi Thái Sơn có lẽ đổ chăng? Người triết nhân có lẽ nguy chăng? Cây lương mộc có lẽ nát chăng?"

Thầy Tử Cống, học trò Ngài vừa đến nghe bài hát như thế vội hỏi thăm. Ngài nói khi đêm có nằm chiêm bao nên biết có lẽ sắp chết. Kế đó Ngài ngọa bịnh được bảy ngày thì mất, hưởng thọ 73 tuổi.

Ngài mất rồi, học trò ai bi thương khóc, cả thảy để tâm tang ba năm. Có hơn một trăm người làm nhà gần mộ Ngài để giữ mộ cho đến mãn tang. Riêng Thầy Tử Cống ở giữ mộ trọn 6 năm.

Ðức Khổng Tử là một bậc chí Thánh đã đem cái Ðạo của Thánh Hiền đời trước lập thành một học thuyết, lưu truyền về sau để làm kỷ cương cho các dân tộc Á Ðông.

Vì vậy đã hơn hai ngàn năm qua, nay kể có hằng 500 triệu người sùng bái tôn thờ Ngài. Ðời sống của Ngài là một đời hy sinh, chịu lắm vất vả, bình bồng chỉ vì một mục đích là làm cho đời loạn ra trị, xã hội được quang minh, con người được thuần túy.

Chủ Nghĩa thương đời hóa chúng của Ngài, tuy kiếp sanh không được toại, nhưng lý thuyết sách vở của Ngài được lưu truyền cho đời sau mấy ngàn năm hưởng nhờ thì công nghiệp ấy đáng được tôn thờ sùng bái.

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ đã thờ Ngài trong Tam Giáo. Chúng ta nên noi gương Ngài để hết tâm thực hành chủ nghĩa Nhân ái, Vị tha. Ðược vậy nhơn sanh trong cửa Ðạo lấy làm may mắn.

Cao Thượng Sanh

 


 

LỄ KỶ NIỆM ÐĂNG TIÊN
CỦA ÐỨC HỘ PHÁP

Ngày 10 tháng 4 BÍNH NGỌ (dl. 29/5/1966)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Trung Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh và Quý Quan Khách,
Chư Chức Việc và Ðạo Hữu Lưỡng Phái,

Hôm nay là ngày lễ kỷ niệm đăng tiên của Ðức Hộ Pháp Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh. Trước hết tôi để lời cám ơn toàn thể chức sắc, chức việc và Ðạo Hữu lưỡng phái đã sẳn lòng đến dự đông đảo làm cho cuộc lễ tăng thêm phần long trọng.

Ðây là một dịp để Hội Thánh nhắc lại công nghiệp vĩ đại của Ðức Ngài trong nền Ðại Ðạo và cũng là một dịp để cho các cơ quan Ðạo tỏ lời cảm tưởng đối với một đấng vĩ nhân đã phí một kiếp sanh đã dạy dỗ và dìu dắt con em trong Ðạo trên bước đường giải khổ.

Tiểu sử của Ðức Hộ Pháp và sự hy sinh cao cả của Ðức Ngài trong lúc bình thường cũng như trong hồi tai biến của nền Ðạo, Chúng tôi đã có dịp nói qua nhiều lần và toàn thể chức sắc, Ðạo hữu điều rõ biết.

Những lời cảm khái của chức sắc trong các cơ quan Ðạo vừa mới bày tỏ, chứa đầy sự thương tiếc, bộc lộ xiết bao nỗi tri ân nồng hậu đối với một Ðấng vĩ nhân mà cuộc đời phải trải qua biết bao sóng gió nguy nan, đòi phen thất thổ ly hương, lắm lúc ôm sầu nuốt hận cũng vì chủ nghĩa thương đời. Sự thương tiếc và sự tri ân đó thật chánh đáng.

Những ai đã từng mang vào mình bộ Thiên phục, đã từng được dự vào hàng chức sắc Thiên phong, được nói ra những lời đạo đức thuần túy, ra đối với mặt Ðời được người người kính nể, thì cũng đều nhìn nhận là đã nhờ nơi tay của Ðức Hộ Pháp đỡ nâng lập vị.

Không có Ðức Hộ Pháp thì không có Ðạo CAO ÐÀI ra đời.

Không có Ðức Hộ Pháp thì nơi đây vẫn còn là những đám rừng rậm sầm uất.

Ðành rằng tìm ra mối Ðạo là do nơi ba vị Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh. Nhưng nếu không có Ðức Hộ Pháp là người có sứ mạng đặc biệt về mặt bí pháp và có sẳn kiên tâm trì chí thì ÐẠO CAO ÐÀI cũng không thể lập thành.

Ðấng Chí Tôn đã cho ra đời nhà thông minh xuất chúng đó hầu sáng tạo cho đất nước Việt Nam một nền chánh giáo để nâng cao tinh thần của giòng giống Lạc Hồng ngang hàng với các nước trên mặt địa cầu về phương diện tín ngưỡng.

Ðiều đáng chú ý là Ðức Hộ Pháp được Ðấng Chí Tôn ban cho một ân huệ đặc biệt chưa từng có trong các lịch sử Ðạo Giáo trên toàn cầu. Vì từ xưa những bậc vĩ nhân tạo nên sự nghiệp đồ sộ về tinh thần, nhưng sự nghiệp đó chỉ lưu lại cho đời sau thừa hưởng mà thôi. Ðức Hộ Pháp lại may mắn hơn. Ðức ngài đã thành công mỹ mãn và dân tộc Việt Nam được hưởng liền sự nghiệp của Ðức Ngài trong khi Ðức Ngài còn tại thế.

Chí hướng làm nên của Ðức Ngài, công phu xây dựng của Ðức Ngài, toàn thể chức sắc và Ðạo hữu ghi nhớ ơn là một điều quí nhất.

Nhưng chẳng phải tỏ sự biết ơn bằng lời nói suông là đủ, phải biết quí mến, giữ gìn sự nghiệp của Ðức Ngài để lại, phải góp công bồi bổ xây dựng thêm cho nó được càng ngày càng thêm vẽ vang tốt đẹp hơn. Phải thận trọng trong cử chỉ cũng như trong việc làm và tự mình coi Ðức Ngài như còn tại thế vậy. Vì tuy Ðức Ngài về Thiêng Liêng vị, nhưng vẫn dùng huyền diệu, cơ bút đến hội hiệp với chúng ta, khi thì để lời giáo hóa, khi thì an ủi vỗ về và lẽ tất nhiên là Ðức Ngài hằng dòm ngó đến sự nghiệp của Ðức Ngài lưu lại nơi vùng Thánh địa, nơi mà Ðức ngài đã chan rưới biết bao nhiêu giọt mồ hôi, chịu biết bao nhiêu khổ tâm mới tạo thành được như ngày nay.

Chúng ta chẳng những phải giữ gìn và tô điểm thêm sự nghiệp hữu hình của Ðức Ngài, chúng ta còn phải quý trọng cái danh giá của Ðạo, vì Ðức ngài khi sanh tiền đã phải trải bước từ ÂU sang Á, đem hết tâm trí đặng làm cho danh giá ÐẠO CAO ÐÀI được nêu cao tột bực. Trong các nước văn minh tiên tiến, nơi nào Ðức Ngài có để chân đến thì những bậc thượng lưu trí thức sau khi nghe ngài thuyết pháp đều để lòng sùng bái bái Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, nhiều người đã xin nhập môn, xin Ðức Ngài đến nhà khai đàn thượng tượng và tôn trọng Ðức Ngài như một Ðấng Cứu Thế.

Ngày nay mặc dầu Ðức Ngài đã khuất bóng nhưng cái danh giá của Ðạo Cao Ðài vẫn còn được nguyên vẹn y như lúc Ðức Ngài còn tại thế.

Chúng ta phải chung sức nhau mười như một, một như mười để bảo tồn cái danh giá quí báu đó và làm thế nào cho nó được càng ngày càng thêm cao vọi, thì chúng ta mới thật là trung thành và thật biết ơn Ðức Ngài vậy.

Nếu vì một lẽ nào, vì một tham vọng hoặc vì tranh giành quyền lợi, người chức sắc hay tín hữu có manh tâm làm cho nền Ðạo phải mang tai tiếng, danh giá Ðạo bị tổn thương thì chính đó là hành động cố ý xô ngã công phu gầy dựng của Ðức Ngài. Cái tội đó Ðức Ngài và các Ðấng Thiêng Liêng không thể dung thứ được.

Biết tôn thờ Ðức Ngài, Biết ghi nhớ ơn của Ðức Ngài, chúng ta phải noi theo gương sáng của Ðức Ngài, cái gương nhẫn nại và vị tha, luôn luôn quên mình, sẳn sàng hy sinh để bảo thủ chơn truyền và giữ trọn hiếu trung đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Ngoài ra, chúng ta phải biết thương nhau, giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau, đừng vì một lẽ nào mà chia rẽ ganh ghét nhau hầu làm cho vui lòng Ðức Ngài là một bậc tiền bối đã phí một kiếp sanh cho đến hơi thở cuối cùng để thực hành chủ nghĩa từ bi bác ái và để phụng sự cho nhân sanh và cho Ðạo.

Ðược vậy thì cuộc lễ long trọng hôm nay mới có ý nghĩa thực tế. Mong Thay! Kính Thay!

CAO THƯỢNG SANH

 


 

Thuyết về
ÐỨC QUAN THÁNH ÐẾ QUÂN

Nhân ngày Vía của Ngài 24/6/BÍNH NGỌ (1966)

 

Kính chư Chức sắc Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện Nam Nữ,
Kính chư Chức việc và Ðạo Hữu lưỡng phái,

Hôm nay là ngày lễ vía Ðức Quan Thánh Ðế Quân, một đấng Thiêng liêng cầm quyền Tam Trấn oai nghiêm Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Tôi xin nhắc lại sơ lược Tiểu sử của Ðức ngài một bậc danh nhân tiền bối của Trung Hoa mà chẳng những hầu hết người Trung Hoa thờ phượng mà một phần đáng kể người Việt Nam cũng tôn thờ, chỉ vì nơi sùng bái cái tiết tháo của Ðức Ngài và muốn noi theo gương sáng của Ðức Ngài mà cư xử cho đúng bổn phận làm người.

Ðức Ngài họ Quan tên Vũ tự là Vân Trường, sanh nhằm đời nhà Hớn bên Trung Hoa, lúc đời Tam Quốc phân tranh trong thế kỷ thứ ba cách đây lối 1730 năm, lúc ấy Giao Châu tức là Việt Nam bị lệ thuộc của Ðông Ngô.

Ðức Ngài vốn người quận Hà Ðông, huyện Giải Lương, là một đấng anh hùng xuất chúng thời ấy cùng với Lưu Huyền Ðức và Trương Phi kết nghĩa tại Ðào viên thề đồng sống thác, quyết tâm khuôn phò nhà Hớn.

Ðời làm tướng của Ðức Ngài, bộ truyện Tam Quốc Chí đã có ghi rõ.

Ðây chúng tôi chỉ nhắc sơ lược những giai đoạn quan trọng và điều đáng quan tâm là Ðức Ngài không phải là người tu hành, không xuất thế, không trường chay giái sát mà khi bỏ xác trần Ðức Ngài đắc Thánh vị và sau thăng đến Phật Vị.

Chỉ vì khi còn tại thế Ðức ngài gồm cả bốn Ðức: Trung, Cang, Nghĩa, Khí. Một lời giao kết dù cho nát thân cũng không dời đổi. Trung thì bền lòng như sắt đá. Cang dũng thì coi sự chết như mảnh lông hồng, trọng nghĩa như Thái sơn, khí tiết thì chói lòa Nhựt Nguyệt. Ngài là một nhơn vật phi thường một vị Thánh nhơn tại thế vậy.

Ðời người làm tướng của Ðức ngài uy danh lừng lẫy dù cho kẻ thù nghịch của Ðức ngài cũng phải kiêng nể kính phục.

Khi Ðức Ngài thất thủ thành Hạ Bì vì binh cô tướng quả, bị Tào Tháo vây tại hòn Thổ Sơn thì có tướng Tào là Trương Liêu đến dụ hàng.

Ðức ngài thế cùng lực tận, muốn bảo hộ nhị tẩu được vẹn toàn nên vạn bất đắc dĩ Ðức Ngài phải chịu đầu Tào nhưng với ba điều giao ước. Một là Ðức Ngài chỉ qui hàng Hớn Ðế chớ không qui hàng Tào Công, hai là chỗ của nhị tẩu ở cấm bất kỳ quan chức nào cũng không cho đến cửa, ba là khi nghe tin Lưu Huyền Ðức ở nơi nào thì dù xa ngàn dặm, Ðức Ngài cũng từ giả ra đi.

Khi Trương Liêu về tâu lại với Tào Tháo thì Tháo nói rằng: Ðiều thứ nhứt thì ta chịu vì ta là thừa tướng nhà Hớn thì nhà Hớn tức là ta chứ ai, điều thứ nhì cũng được vì cấm người tới cửa hai vị phu nhân là việc lễ nghĩa chẳng khó chi. Duy có điều thứ ba là không thể nhận, vì nếu Vân Trường được tin Lưu Bị ở đâu thì tức tốc ra đi, như vậy ta nuôi Vân Trường có ích gì?

Trương Liêu thưa rằng: Lưu Huyền Ðức mà đãi Vân Trường chẳng qua là đầy ân hậu mà thôi.

Nay Thừa tướng lại ra ơn cho hậu hơn Huyền Ðức để mua lòng thì có lo gì Vân Trường không phục.

Tào Tháo bèn khứng chịu ba điều giao ước, khi rút binh về Hứa Xương Ðức Quan Thánh thỉnh nhị tẩu lên xe, bổn thân hộ tùng xe ấy mà đi.

Dọc đàng khi tạm nghỉ nơi quán dịch, Tào Tháo cố ý làm cho loạn lễ quân thần, để cho Ðức Ngài ở chung với nhị tẩu. Ðêm ấy Ðức Ngài cầm đuốc đứng ngoài cửa từ đầu hôm cho tới sáng, làm cho Tào Tháo càng thêm kính phục hơn nữa.

Về giai đoạn này, Vua Tự Ðức có hai câu thi như sau:

  "Ðuốc ngọc canh thâu trời một góc,
Vườn Ðào nguyện cũ ruột trăm chìu."

Về tới Hứa Xương, Tào Tháo tâu xin với Thánh Ðế phong cho Ngài chức Thiên Tướng quân và lấy vàng đúc ấn Hớn Thọ Ðinh Hầu mà ban cho Ðức Ngài.

Kể từ ngày ấy, Tào Tháo thết đãi Ðức Ngài rất trọng hậu, ba ngày thì đãi tiệc nhỏ, năm ngày thì đãi tiệc lớn lại ban cho gấm nhiễu vàng bạc vô số kể. Ngoài ra còn lựa những mỹ nữ tuyệt sắc đưa đến để hầu hạ Ðức Ngài.

Ðức Ngài liền đưa hết những mỹ nữ ấy vào nhà trong để phục sự cho nhị tẩu.

Tào Tháo nhơn thấy Ðức Ngài mặc áo chiến bào cũ quá bèn lấy gấm tốt may một cái chiến bào mới ban cho Ðức Ngài, Ðức Ngài lãnh lấy đem về mặc vào trong rồi cũng cứ mặc cái áo cũ ra ngoài. Tào Tháo thấy hỏi sao hỏi Ðức Ngài hà tiện như vậy, Ðức Ngài đáp: Không phải là tôi hà tiện, nhưng cái áo cũ này là của Lưu Hoàng Thúc ban cho, tôi mặc nó ra ngoài như là thấy anh tôi vậy. Tôi không dám trọng áo mới của Thừa Tướng mà quên cái cũ.

Tào Tháo tuy ngoài miệng khen Ðức Ngài nhưng trong lòng không vui.

Ngày kia nhơn mời ngài đi phó yến, Tào Tháo thấy ngựa cũa Ðức Ngài quá ốm, bèn khiến kẻ tùy tùng dắt đến một con ngựa sắc đỏ như than lửa, vóc cao sức lực mạnh mẽ, rồi sai thắng đủ yên lạc mà ban cho Ðức Ngài, Ðức Ngài nhìn ngựa rồi lật đật quì xuống lạy tạ.

Tào Tháo sững sốt nói rằng: "Tôi đã nhiều phen cho ông gái tốt, vàng bạc, gấm lụa, mà Ông chưa từng lạy tạ, nay sá chi một con ngựa mà ông phải lạy tạ?" Ðức Quan Thánh nói rằng: "Tôi biết ngựa này là ngựa xích thố của Lữ Phụng Tiên, một ngày đi ngàn dặm. Nay được nó rồi, nếu tôi biết anh tôi ở đâu thì nội trong một ngày tôi sẽ thấy mặt anh tôi được."

Tào Tháo nghe nói lấy làm hối tiếc vì sự cho.

Bửa sau Trương Liêu đến ra mắt Ðức Ngài và nói rằng: "Tôi tiến cử anh cho Thừa Tướng thì người vẫn kính trọng mà đãi anh rất hậu, dù cho Lưu Huyền Ðức đãi anh cách nào cũng không hơn thừa tướng, sao anh cứ mong lòng ra đi hoài, tức là không biệt phân khinh trọng đó."

Ðức ngài liền đáp: "Thừa Tướng thiệt đãi tôi rất trọng hậu nhưng tôi và Lưu Hoàng Thúc thề đồng sống thác, không lẽ nay lại phụ nhau. Tôi quyết không ở đây, nhưng tôi phải lập công để đền ơn cho thừa tướng rồi mới đi."

Tào Tháo nghe được than rằng: "Thờ chúa chẳng quên căn bổn, ấy thiệt là người nghĩa sĩ trong thiên hạ."

Từ đó Tào Tháo chí công mua lòng Ðức Ngài Quan Thánh hơn nữa: Như may đai gấm để bọc râu cho Ðức Ngài, khi hội yến thì nhường cho Ðức Ngài ngồi trên như bậc thượng khách, khi Ðức Ngài lên ngựa thì thưởng vàng, xuống ngựa lại thưởng bạc, cố ý làm cho Ðức Ngài cảm động hầu lưu Ðức Ngài ở luôn với mình.

Theo thế thường thì giàu đổi bạn sang đổi vợ, con người khi gặp nơi đắc dụng được kẻ biết trọng đãi kính nể mình, ban cho vàng bạc đủ đầy gái tốt hầu hạ sớm khuya, yến tiệc linh đình, tước cao lộc quí thì cho anh em ruột cũng quên được, vợ mình tấm mẳn cũng dứt tình, chúa cũ cũng không màng huống chi là kết nghĩa giao bằng hữu.

Nhưng mà đối với Ðức Ngài thì Ðức Ngài coi vàng bạc như củi mục, thị sắc đẹp như cây khô, tước lộc cũng không màng, một tấm lòng son thủy chung như nhứt.

Sau khi Ðức Ngài giải vây thành Bạch Mã giết hai tướng Nhan Lương, Văn Xủ để trả ơn cho Tào Tháo, Ðức Ngài được hay tin Lưu Huyền Ðức đang ở Hà Bắc, Ðức Ngài lật đật đến từ giả Tào Tháo đặng lên đường. Tháo biết trước nên lánh mặt, Ðức ngài tự đến dinh ba lần đều không gặp. Ðức Ngài biết ý Tào không muốn cho Ðức Ngài đi, nhưng Ðức Ngài đã nhứt quyết nên viết thư từ giả sai người dâng đến phủ thừa tướng. Rồi đó Ðức Ngài gom góp những vàng bạc, gấm lụa của Tào Tháo ban cho Ðức Ngài từ thử phong niêm kỷ lưỡng để lại, 12 mỹ nữ cũng để ở lại, đoạn Ðức Ngài treo Ấn Hớn Thọ Ðình Hầu trên trính nhà, thỉnh nhị tẩu lên xe, Ðức Ngài chỉ cởi ngựa xích thố, cầm Thanh Long Ðao, đốc xuất quân tùy tùng cũ ngày trước đẩy xe ra khỏi thành.

Dọc đường qua năm ải Ðức Ngài buộc lòng phải giết hết sáu tướng của Tào, vì cản trở không cho Ðức Ngài qua ải.

Ðến sau ba anh em Lưu, Quan, Trương đắc địa, chiếm cứ Du Giang khẩu hiệp binh với Ðông Ngô, làm cho Tào Tháo đại bại nơi sông Xích Bích.

Ðức Ngài được lịnh của quân sư Gia Cát ngăn đường Huê Dung để bắt Tào Tháo.

Mặc dầu Ðức Ngài có lập đoan văn với quân sư Gia Cát, hể tha Tào Tháo thì phải chịu tử hình chiếu theo quân lịnh. Nhưng khi Tào Tháo bại binh chạy qua Huê Dung Ðạo, Ðức ngài thấy binh mã của Tào xơ xác, người thiếu lương, ngựa thiếu cỏ, Tào Tháo thì áo giáp mất hết, xuống ngựa quì lạy cầu xin Ðức Ngài nhớ ơn ngày trước mà phóng thích.

Tánh Ðức Ngài trọng nghĩa như Thái Sơn, nay thấy kẻ yếu thế đã hạ mình, phần Tào Tháo thiết tha khẩn cầu, phần binh tướng Tào Tháo khép nép rơi lụy nên Ðức Ngài động lòng cảm niệm quay ngựa ra lịnh cho binh mã của mình dang ra để cho Tào Tháo và binh tướng đều chạy qua khỏi, không giết người dưới ngựa, mặc dù có lập sanh tử trạng, thà cam chịu chết để trả xong ơn nghĩa, từ cổ chí kim không có người thứ hai như vậy.

Khi trở về phục lịnh, Ðức Ngài trói mình nạp cho quân sư Gia Cát, nhưng nhờ Lưu Huyền Ðức xin tha thứ cho Ðức Ngài để lập công chuộc tội.

Ðến sau Ðức Ngài lầm gian kế của Lử Mông thất thủ kinh châu bị binh Ngô bắt được, Ðức Ngài tận trung với Hớn thất nên cam chịu chết chứ không chịu đầu.

Khi Ðức Ngài qui vị, cái khí phách còn nhiễm mối thù nên anh hồn hiển Thánh trên núi Ngọc Tuyền là nơi có một vi chơn sư pháp danh Phổ Tịnh đương tu luyện.

Một đêm kia bóng trăng sáng tỏ, sư Phổ Tịnh đang ngồi trước cửa am xãy nghe trên không có tiếng kêu "Trả đầu cho ta". Sư Phổ Tịnh ngước lên xem thì thấy trên không trung một vị tướng quân cởi ngựa xích thố, tay cầm thanh long đao, hai bên có hai vị theo hầu. Ba người sa lần xuống núi. Phổ Tịnh nhìn biết là Quan Hầu, bèn lấy cây phất chủ gõ trên mặt cửa mà gọi tên Ðức Ngài. Hồn Ðức Quan Thánh nghĩ biết, liền xuống ngựa nghiêng mình nơi trước am mà hỏi rằng: "Pháp danh thầy là chi?" Sư Phổ Tịnh đáp: "Tôi pháp danh là Phổ Tịnh, có gặp nhau tại chùa Trấn Quốc khi ngài quá ngủ quan, có lẽ ngài còn nhớ?".

Ðức Quan Thánh đáp: "Ngày trước nhờ ơn cứu nhau, nay tôi đã bị hại xin thầy chỉ điểm mê đồ tôi với." Sư Phổ Tịnh liền nói: "Trước quấy nay phải, tiền căn hậu quả một mãy không sai. Nay Quan Hầu bị Lữ Mông Gia hại, lại kêu mà bảo trả đầu. Vậy chớ những đầu của Nhan Lương, Văn Xủ và sáu tướng nơi năm cửa ải xưa kia thì biết đòi ai?"

Ðức Quan Thánh nghe nói liền tỉnh ngộ, cúi lạỵ chịu phép qui y mà thăng.

Ðến sau Ðức Ngài thường hiển Thánh nơi Ngọc Tuyền Sơn mà bảo hộ nhơn dân. Người trong làng cảm đức lập miếu trên núi mà thờ Ðức Ngài, bốn mùa hương khói không dứt.

Trong thời ấy có người làm bài thơ tặng Ðức Quan Thánh như vầy:

  "Tuy bậc tầm thường chốn Giải lương,
Người sau đều lạy Hớn Vân Trường.
Ðào viên một thuở vầy huynh đệ,
Tự hậu ngàn thu gọi đế vương.
Khí tợ phong lôi cao vòi vọi,
Lòng như nhựt nguyệt sạch chan chan.
Nếu nay miễu võ đầy thiên hạm
Thanh sử danh nêu đã rõ ràng."

Và đây là đôi liễn của phần đông người Trung Hoa thờ Ðức Ngài Quan Thánh Ðế Quân:

  "Chí tại XUÂN THU công tại HỚN
Trung đồng nhựt nguyệt nghĩa đồng thiên"

Cụ thủ khoa Nghĩa có bài thơ tặng cái tiết tháo của Ðức Ngài như sau:

  "Hạ bì ngày nọ chẳng màng nào,
Gương sáng chi lầm chước túng theo.
Chung rượu anh em keo gắn chặt,
Tâm son tôi chúa đuốc chong cao.
Theo rồng dốc nhóm may trời Hán,
Xuống ngựa đâu tham bạc đất Tào.
Hai mối cương thường gom đặng cả,
Ngàn năm thơm để miệng người rao."

Là người tu hành, chuộng cái hay, chê cái dở, hằng dọn mình cho được thanh khiết hầu lập nên thiên vị, chúng ta lại chẳng bắt chước lập nên một vài đức tốt của Ðức Quan Thánh để cho ra mặt phi thường trong cửa Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ hay sao?

Tôi mong ước toàn thể chức sắc đều lưu ý.

Nay Kính

CAO THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN DỤ

của ÐỨC THƯỢNG SANH
NHƠN DỊP LỄ ÂN PHONG PHẨM VỊ HIỀN TÀI
TẠI ÐỀN THÁNH NGÀY16/8/BÍNH NGỌ (DL. 30/9/1966)

 

Kính Chức Sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện Lưỡng phái,
Kính Chư quý vị Hiền Tài tân phong Nam Nữ,

Hôm nay HỘI THÁNH cử hành lễ ân phong chư quý vị Hiền Tài trong Ban Thế Ðạo, lẽ tất nhiên Chư Quí Vị tấn phong được mãn nguyện mà Hội Thánh HTÐ cũng vui lòng vì đã có dịp giúp cho bao nhiêu Ðạo Hữu và Ðạo Muội bước lên một địa vị trong nền Ðại Ðạo xứng với tài đức của mỗi người.

Mặc dầu ban cho phẩm vị nầy là do nơi quyết định của Hội Thánh HTÐ nhưng lập nên ngôi vị cho người tài đức là do nơi lượng từ bi của Ðức Hộ Pháp, một đấng cao minh đã từng đem chủ nghĩa vị tha làm căn bản cho đời sống tinh thần của Người.

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ có tôn chỉ tế độ toàn thể chúng sanh Hội Thánh phải mở rộng trường công quả tiếp đón các bậc nhơn tài còn ở mặt thế với nhã ý:

1/. Tạo nên dịp tốt cho họ nhập vào cửa Ðạo để được lần hồi thấm nhuần mùi Ðạo hầu sau này có thể trở nên chức sắc Thiên Phong ưu tú.

2/.Giúp cho họ có thể thi thố biệt tài để phụng sự Ðạo trong giới hạn địa vị hoặc tư cách của mỗi người.

Thưa chư quí vị,

Mặc dù còn vướng trong vòng nhân sự, chư quí vị đã có sẳn cái tinh thần hướng về Ðạo Ðức. Vì vậy cái may duyên được bước lên phẩm vị Hiền Tài không phải nhờ nơi Hội Thánh HTÐ mà chính là do nơi nguyện vọng của quí vị, cái nguyện vọng chánh đáng đó Hội Thánh có phận sự làm cho nó được thành đạt.

Giờ này chư quí vị đã nghiễm nhiên là chức sắc Ban Thế Ðạo Tòa Thánh Tây Ninh, lẽ dĩ nhiên là quí vị đã có ít nhiều nhiệm vụ đối với Ðạo.

Nhiệm vụ đó không phải bắt buộc, nhưng một khi quý vị đã mang nơi mình một phẩm vị đặc biệt, tiêu biểu cho cái chân giá trị của mình thì lẽ nào không đem tài đức để phục vụ cho lẽ phải theo chí hướng đã có sẳn.

Phẩm Hiền Tài tuy là phẩm sơ khởi trong cấp bậc Ban Thế Ðạo, nhưng nếu hiểu theo ý nghĩa của danh từ thì nó có một tầm quan trọng chẳng phải tầm thường.

Một đấng hiền tài tức là một nhơn vật xuất chúng ít ai sánh được, phải là người vừa Hiền đức vừa có chân tài.

Cái giá trị của người Hiền Tài lại thiên về đức tính nhiều hơn là về chân tài.

Cái giá trị đó, Ðức khổng tử có đề cao trong lời khen thầy Nhan hồi như sau:

"Hiền tài Hồi giả, nhứt đan tự, nhứt biểu ẩm, tai lâu hạng, nhân bất khan kỳ ưu, hồi giả bất cải kỳ lạc, Hiền tài hồi giả" Nghĩa là "Hiền thay gã Hồi, một giỏ cơm, một bầu nước, ở nơi ngõ hẹp, nghèo như thế mà không sắc lo, vẫn vui vẽ như thường, gã Hồi hiền vậy thay. Vì vậy cái Ðức quý hơn cái tài".

Nếu chỉ là người tài mà thôi, thì ngoài xã hội không thiếu gì. Có tài mà thiếu Ðức thì cái tài không dùng được.

Trong giới thượng lưu trí thức có nhiều người học rộng tài cao chiếm những địa vị quan trọng ngoài mặt đời, nhưng vì thiếu đức tính nên không làm được gì hữu ích cho xã hội. Trái lại, cái địa vị của họ chỉ gây nên tai họa cho họ mà thôi. Như vậy cũng chưa phải Hiền Tài.

Những bậc hiền thời xưa là những người tài kinh bang tế thế và có một tiết tháo đáng kính. Phần nhiều là những trang chán đời, có chí ẩn dật, nhưng nếu gặp vận hội được ra gánh vác việc đời thì làm nên sự việc phi thường, đổi loạn ra trị, đổi nguy thành an, như Trương Tử Phòng đời Hớn, Kiển Thúc, Phạm Lãi đời Xuân Thu, Ðịch Nhơn Kiệt đời Ðường, Châu Công Ðáng đời Châu, Triệu Phổ đời Tống...vv..vv. Ngoài ra còn có Trước Lâm Thất Hiền và 72 môn đệ giỏi nhứt của Ðức Khổng Tử gọi là Thất Thập Nhị Hiền như Thầy Tử Lộ, Tử Cống Nhan Hồi, Tăng Sâm, Nhiểm Hữu, Trọng Cung....v.v.

Nước Việt Nam cũng có những bậc hiền như quý ông Ðồ Chiểu, Phan Văn Trị, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Ðào Duy Từ...v.v... Nhắc ra đây chẳng phải để so sánh mà chỉ để cho chư quý vị noi theo gương người xưa hầu giữ gìn thể thống, giồi trau tâm đức đặng giúp đời và nâng đạo.

Trong thời kỳ cuối hạ ngươn này, thiên hạ bị lôi cuốn vào làn sóng văn minh vật chất, luân lý cổ truyền của Á Ðông đã bị luân lạc đến tám chín phần mười thì chẳng dễ gì đi ngược với trào lưu đặng xây dựng một sự nghiệp tinh thần đáng kể.

Tuy nhiên trong xã hội cũng còn rất nhiều phần tử tài hoa thoát khỏi mức thường tình, yêu chuộng công lý và nghĩa nhân, lánh xa vòng trụy lạc. Những phần tử đó, nếu gặp người dẫn bước theo về chánh đạo họ sẽ hấp thụ giáo lý cao siêu và sẽ trở nên những trang ưu tú cũa xã hội hữu dụng cho đời và cho Ðạo.

Chư quý vị chính là những sứ giả đưa đường cho những nhân vật đó.

Ðã thọ phẩm vị của Ðạo, nhưng chư quý vị còn vướng bận vai tuồng thế sự là vai tuồng mà mỗi người đều phải đãm nhiệm để làm tròn nhơn Ðạo, thì phương pháp hay nhất là quí vị nên lấy tinh thần Ðạo Ðức để xử kỷ tiếp nhân và dựa vào tinh thần đó mà làm cho êm dịu phần nào cái khổ nhọc của kiếp nhân sanh, đồng thời cũng dụng cái biệt tài hoặc chí kinh doanh của mình mà lập chút công chi đối với Ðạo.

Nếu vì thời thế, vì hoàn cảnh không thể tạo nên thành quả tốt đẹp như ý muốn, chư quý vị cũng giữ được cái tiết tháo của bậc hiền nhơn để soi gương cho đàn hậu tấn.

Trên đường đời gió bụi, con người phải phấn đấu gay go để làm xong nghĩa vụ đối với gia đình và xã hội. Ðó là một nhiệm vụ nặng nề không phải ai cũng đãm đương được toàn vẹn.

Có người được thời may, có kẻ gặp vận rủi và bởi nơi số kiếp nên biết bao nhiêu khách trần phải ngậm đắng nuốt cay, gian truân vất vã vì gánh nợ đời. Nhưng có lướt qua những nỗi khó khăn, có trải qua bước đường đau khổ, chịu trong cảnh thiên ma bách chiết người ta mới tự biết được sức mình và khi được thành công, cái giá trị con người trên thế gian mới thật cao quý. Trong một bài thi của Ðức Thanh Sơn tức là Ðức Trạng Trình giáng dạy có hai câu:

  "Trường đời đem thử gan anh tuấn,
Cửa Ðạo mới ra mặt Thánh Hiền."

Chư quý vị là người biết Ðạo, nên tưởng niệm hai câu thi đó hầu dùng làm phương châm xử trí của những trường hợp khắt khe thì chắc chắn quí vị sẽ giữ vững tinh thần để đối phó và lướt qua mọi cuộc thử thách.

Hôm nay nhơn dịp cử hành lễ ân phong phẩm vị Hiền Tài, tôi nhơn danh Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài xin để lời mừng cho chư quí vị tân phong và cầu nguyện Ðức Chí Tôn ban ân lành cho toàn thể quí vị. Riêng tôi, tôi xin cầu chúc quý vị được mọi sự may mắn trên bước đường đời cũng như trên đường Ðạo.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

NAY KÍNH

THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ÐÀI

 


 

LÒNG NHÂN ÁI

(Ðức Thượng Sanh thuyết tại Ðền Thánh
đêm 14 tháng 10 năm Bính Ngọ)

 

Hôm nay nhân dịp cúng Lễ Hạ Ngươn, tôi xin nói về "LÒNG NHÂN ÁI".

Những nhơn vật trong hàng trí thức nếu đã thâm nhiểm triết lý của Thánh Hiền và hiểu bổn phận làm người thì ai cũng cố gắng trau giồi học vấn và đức tính để kịp tiến hóa cho đến chí thiện, chí mỹ.

Muốn đạt đến cái mục đích ấy thì phải lấy chí vị tha, dụng công phu mà sáng tạo ra những sự vật có sức linh hoạt khả dĩ giúp ích cho đời về mặt tinh thần hay vật chất. Thí dụ: Nhà Tôn giáo tìm ra một lý thuyết giúp nhân loại tránh việc cạnh tranh sát phạt; nhà triết học phát huy cái tư tưởng cao xa; nhà văn chương làm ra quyển sách kiệt tác hay nhà khoa học tìm ra cái cơ khí tinh xảo, đều là hợp với cái đức sinh hóa của trời đất cả.

Vậy hợp với cái đức sinh hóa của Trời Ðất là Thiện, trái với cái đức sinh hóa là ác.

Người có học Ðạo thì ai cũng theo thiên lý mà bồi bổ cho sự sinh hóa thiên nhiên. Sự bồi bổ đó gốc ở Ðạo NHÂN mà ra vậy.

Thực hành được Ðạo NHÂN thì sự sống ở đời mới có ý nghĩa cao xa mà cái cảnh thú cuộc đời mới trở nên vui vẻ thanh thoát.

Sanh đứng làm người được có tánh linh hơn muôn vật là nhờ Trời phú cho có LƯƠNG TÂM, có trí xét đoán, biết phân biệt điều phải lẽ quấy, điều chánh, lẽ tà thì đáng lẽ ai cũng đều có LÒNG NHÂN mới phải.

Vả lại, con người khi mới sanh ra đều có tính thiện cả, vì cái thiên tính của Trời ban cho được còn nguyên vẹn chưa bị sự cám dỗ của mặt đời làm cho mất căn bản thiêng liêng của nó.

Nói như thế nghĩa là nếu con người từ nhỏ cho tới lớn được dạy dỗ trong khuôn viên đạo đức và chỉ có gần với kẻ thiện thì cái lòng nhân còn giữ y nguyên có lẽ còn được gia tăng thêm nữa.

Ngặt nỗi con người tùy theo hoàn cảnh gia đình, tùy theo địa vị xã hội của cha mẹ, tùy theo người lân la kết bạn, tùy theo sự hữu học hay vô học nên phần nhiều bị biến đổi, lôi cuốn trở nên khác hẳn với con người toàn thiện của Trời sanh.

Vì đó mới có kẻ hay, người dở, kẻ chánh, người tà, kẻ hiền người dữ, Thánh hiền mới phân biệt hạng người có nhân và hạng người bất nhân.

Chữ nhân vẫn hàm súc luôn cái nghĩa của chữ Ái, có nhân mới có ái, có ái mới có lòng thương người yêu vật, muốn cho vạn vật bao giờ cũng có sự yên vui trong kiếp sống.

Bởi có lòng nhân nên người ta mới kết nên đoàn thể với nhau, coi nhau như anh em một nhà, xem cả đoàn thể như một châu thân, cả võ trụ đồng nhứt thể. Hễ có một người đau khổ tức là một chỗ trong châu thân bị đau thì toàn thân nhận thấy khó chịu, phải tìm phương thế làm cho chỗ đau được êm dịu.

Trái lại, người bất nhân không có ích lợi gì cho ai, nho học cho rằng người bất nhân ở trong xã hội cũng như người có bệnh tê vậy, ai đau khổ mặc ai, ai bị tai nạn thế nào cũng cứ dửng dưng không hề có chút cảm động.

Hơn nữa họ vì từ tâm, từ tri, nghĩa là vì bản ngã mà thành ra mờ ám, mất hết trực giác rồi cứ chìu theo lòng ích kỷ mà làm những điều trái hẳn với lẽ phải và đạo đức.

Xưa Ðức KHỔNG TỬ chú ý nhất là về ÐẠO NHÂN. Ngài nói: "Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác, tiểu nhân phản thị" nghĩa là: Người quân tử gây thành cái hay cho người, không gây thành cái ác cho người, tiểu nhân thì không thế.

Lòng người quân tử vốn hậu mà cái sở kiến chỉ ở sự thiện cho nên thấy ai làm điều hay thì khuyến khích cho người ta cố gắng làm hay hơn nữa, hoặc thấy ai làm điều ác thì can ngăn không để cho làm điều ác được. Còn kẻ tiểu nhân thì cái sở kiến chỉ ở điều ác cho nên thấy ai làm ác thì xúi giục thêm hoặc thấy ai làm điều thiện thì lại ghen ghét, kiếm cách ngăn trở.

Theo ý của Ngài thì đạo nhân vô cùng, vô tận; học đạo nhân tức là phải sửa mình luôn và lập chí theo cho đến cùng dầu thấy chết cũng không bỏ. Ngài dạy rằng: "Chí sĩ nhân nhân vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát nhân dĩ thành nhân" nghĩa là: bậc chí sĩ thì ai cũng không ham sống để bỏ mất nhân, thà liều thác để giữ trọn đạo nhân.

Thầy NHAN TỬ hỏi về nhân, Ngài nói rằng: "Khắc kỷ phục lễ vi nhân": sửa mình theo lễ là nhân vì theo lễ tức là theo thiên lý bỏ hết lòng tư dục, mà bỏ lòng tư dục tức là biết thương người.

PHÀN TRÌ hỏi nhân, ngài nói rằng: Ái nhân tức là phải thương tất cả mọi người. Thầy Trọng Cung hỏi nhân, Ngài nói rằng: "Xuất môn như kiến đại tân, xử dân như thừa đại tế, kỷ sở bất dục vật thi ư nhân", nghĩa là: Ra cửa phải như tiếp khách lớn, trị dân phải làm tế lễ lớn, điều gì mình không muốn ai làm cho mình thì mình đừng làm cho ai. Chúng ta phải hiểu thêm rằng: mình nên làm cho kẻ khác điều gì mình muốn cho người ta làm cho mình. Thí dụ: nếu mình muốn có người giúp đỡ mình lúc đau khổ thì mình phải biết thương và giúp đỡ người khi cần đến.

Sau Ðức Khổng Tử, một nhà đại hiền triết là Thầy Mạnh Tử đem học thuyết Khổng Giáo làm cho sáng tỏ hơn nữa, theo thuyết của Thầy Mạnh thì Ðạo làm người quí nhất là NHƠN với NGHĨA; dầu đến bậc vua chúa mà thiếu Nhơn với Nghĩa cũng bị khinh thường. Cho nên kẻ nhân giả không thấy người sang giàu mà ham muốn, không thấy mình nghèo hèn mà sợ, vì kẻ kia cậy ở cái giàu của nó, ta đây cậy ở cái nghĩa của ta, ta có điều gì bất mãn đâu?

Thầy Mạnh Tử thường nói rằng: "Sinh diệc ngả sở dục giả, nghĩa diệc giả sở dục giả, nhị giả bất khả đắc kiêm xá sinh nhi thủ nghĩa giả giả". Nghĩa là cái sống ta cũng muốn, điều nghĩa ta cũng muốn, giá ta không thể giữ được cả hai thì ta bỏ cái sống mà giữ lấy điều nghĩa vậy.

Lão Giáo trọng thiên về chủ nghĩa Vô Vi, nhưng về mặt xử thế, Ðức Lão Tử cũng có cái chí vị tha, chung thân phụng sự cho Ðời cho đến lúc công thành sự toại rồi mới thối lui. Cái hay của thuyết Lão Tử là chỗ công toại thân thoái: công toại rồi lui bước.

Ngài nói: thân mình là một cái không đáng quí nhứt, vì nó thường là mối lo cho con người.

Ðáng yêu quí nhứt là lúc người ta đem thân phụng sự cho Thiên hạ.

Kinh Cảm Ứng của Ðức Thái Thượng có dạy: "Tích đức ủy công, từ tâm ư vật", chứa đức bồi công lòng thương cho đến súc vật, sao gọi là chứa đức bồi công?

Ðiều lành còn ở trong lòng thì gọi là Ðức, khi đem ra thi hành thì gọi là công. Thường tu đức, thường lập công thì Ðạo tâm mới vững, lòng nhân ái mới đầy đủ. Lập thành Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Chí Tôn muốn cứu vớt cả nhơn sanh thoát nơi khổ hải. Sự thương yêu là phương pháp duy nhất để độ đời, người hành Ðạo phải phô lòng nhân ái dìu dắt con cái Ðức Chí Tôn qui chánh cải tà để tiến bước trên đường thiện niệm.

Vì đó, lòng nhân ái là cái vốn vô hình của người hành Ðạo, cái vốn đó rất cần thiết, vì người tu hành mà thiếu cái vốn nhân ái thì cũng như người muốn đi buôn mà trong tay không có sẳn tiền, người muốn làm ruộng mà không có sẳn hạt giống, người muốn đi biển mà không có sẳn ghe...

Có cái vốn nhân ái rồi, người hành Ðạo mới khởi công làm phận sự, trước cho nhơn sanh trong cửa Ðạo hưởng nhờ, sau mới phô trương đạo đức nơi mặt đời để cứu nhân độ thế.

Ðức Chí Tôn có dạy: Thầy thường nói với các con rằng: "Thầy là cha của sự thương yêu. Do bởi thương yêu Thầy mới tạo thành thế giới và sanh dưỡng các con. Vậy thì các con sản xuất nơi sự thương yêu. Ðã sản xuất nơi sự thương yêu, các con tức là cơ thể của sự thương yêu.

Ấy vậy sự thương yêu là giềng bảo sanh của càn khôn thế giái. Bởi thương yêu mà vạn loại hòa bình, Càn khôn an tịnh mới không thù nghịch nhau, không thù nghịch nhau mới không tàn hại nhau, không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa.

Còn kẻ nghịch cơ sanh hóa là ai?

Là quỉ vương đó. Quỉ vương vốn là tay diệt hóa, cũng như có sống của Thầy ắt phải có chết của quỉ vương. Quỉ vương lấy cơ thể nào mà tàn hại các con?

Ấy là sự ghét.

Vì ghét nhau vạn loại mới nghịch lẫn nhau. Nghịch lẫn nhau mới tàn hại lẫn nhau, mà tàn hại lẫn nhau là cơ diệt thế.

Vậy Thầy cấm các con từ đây, nếu không đủ sức thương yêu nhau thì cũng chẳng đặng ghét nhau."

Ðức Chí Tôn đã phân tách rõ ràng sự thương và sự ghét: Hễ biết thương là con đường chánh của Trời, còn chứa sự oán ghét tức là làm tôi tớ cho Quỉ vương, mà làm tôi tớ cho Quỉ vương thì há còn trông mong làm con cái Ðấng Chí Tôn được sao?

Nếu con người trên thế gian thực thi đầy đủ nhân nghĩa, bỏ sự oán ghét tư hiềm, bỏ sự vì mình hại chúng, thương người khác thể thương thân, giúp đỡ lẫn nhau trong khi khốn khó thì trong xã hội đâu còn thấy cảnh ngang trái đau lòng, mạnh hiếp yếu, giàu hiếp nghèo, làm cho thế sự đầy dẫy tuồng đau khổ.

Có câu ca dao:

  "Nước còn quyện cát làm voi,
Huống chi ta chẳng tài bồi lẫn nhau."

Nếu ai ai cũng quan niệm con người sanh ra nơi cõi thế đều cùng một nguồn gốc siêu hình mà ra và Ðấng Thượng Ðế là Cha Thiêng Liêng chung của nhơn loại thì sự xử kỷ tiếp vật của mỗi cá nhân chắc hẳn sẽ được tốt đẹp hơn hiện tại bội phần. Sự đối đãi lẫn nhau cứ tiến triển mãi trong cảm tình chơn thật và trong niềm hòa khí thân yêu, con người sẽ đi lần tới mức Huynh Ðệ Ðại Ðồng không bao lâu. Ngày đó thiên hạ sẽ cùng nhau trong cảnh Thiên đàng tại thế vậy. Rất mong thay!

Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

 


 

HUẤN DỤ

Nhân Lễ Bế Mạc Khóa Huấn Luyện Lễ Sanh tại Hạnh Ðường
Năm Bính Ngọ (Ngày 25 tháng 10 năm 1966)

 

Kính HỘI-THÁNH,
Kính Chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ, Chư Ðạo Hữu, Ðạo Muội,

Khóa Huấn luyện Lễ Sanh nơi Hạnh Ðường đã chấm dứt. Hôm nay là buổi lễ Bế Mạc niên học Bính Ngọ để rồi một ngày gần đây các sinh viên sẽ dự cuộc thi lãnh cấp bằng Hạnh Ðường.

Một niên học đã qua, HỘI-THÁNH đã gắng lo đào tạo chức sắc cho hiểu thông Ðạo lý và khả năng hầu một ngày kia có thể thay mặt HỘI-THÁNH để dìu dắt tín hữu nơi các địa phương.

Ðó là một nhiệm vụ rất quan trọng mà mỗi chức sắc đều phải đảm đương để được thi thố trí tài hầu lập nên địa vị xứng đáng.

HỘI-THÁNH đã làm xong phận sự giáo hóa, Ban Giám Ðốc và quý Giảng Viên đã tận tâm với nhiệm vụ. Cái kết quả tốt đẹp hay không là tùy nơi sanh viên tự liệu. Nói cách khác là thầy đã gắng công dạy dỗ, học trò được nên người hay không là tự nơi nó.

Hôm nay khóa học đã chấm dứt, các em sinh viên thử cân nhắc lại sự hiểu biết của mình khi chưa học với sự hiểu biết khi mãn khóa học để coi sự khác biệt là thế nào và sự học trong năm có đem lại cho mình một sự tiến triển nào về mặt Ðạo đức cũng như về mặt trí dục hay không?

Nếu các em nhìn nhận sau khóa học, các em được hiểu thông Ðạo lý và kiến thức được mở rộng hơn thì đó mới thật là chẳng uổng công phu đèn sách.

Vả lại, cái chí hướng của người học Ðạo là trau mình cho được sáng hầu giúp cho kẻ khác cũng được sáng như mình, tức là tự giác nhi giác tha. Ðó là phương pháp độ mình và độ người của hạng tu sĩ.

Nếu thấy mình chưa được sáng tỏ, tức là sự học Ðạo còn nhiều thiếu sót, phải gắng công trau giồi thêm nữa, khoản nào chưa thông hiểu tột lý thì cứ việc trình hỏi cho rõ ràng, vì sự hiểu biết mập mờ chỉ có hại chớ không có ích lợi.

Ðời sống của người hành Ðạo là một đời học tập không ngừng. Không phải vì mãn khóa học mà các em sanh viên chấm dứt hẳn sự học, người ta chẳng những học nơi nhà trường mà còn phải học nơi kinh sách của Thánh Hiền, học theo gương sáng của đấng Vĩ nhân, học với bậc cao thấp của thế thái nhân tình, học theo đức tính ôn nhu của người thân hữu.

Các em sinh viên đã nương vào cửa Ðạo thì sẵn có Thánh giáo của Ðức CHÍ TÔN và các Ðấng Thiêng Liêng, sẵn có sách Ðạo của các bậc đàn anh ra công biên soạn, lại thêm có nhiều dịp nghe lời giảng dạy của cấp trên thì các em có đủ phương châm để ôn cố tri tân, trau giồi tâm trí.

Mỗi ngày các em phải dành ít lắm hai tiếng đồng hồ để học qua các kinh sách Ðạo. Ðức CHÍ-TÔN mở Ðạo để qui Tam Giáo hiệp Ngũ Chi thì sách nào thuộc về Tam Giáo các em đều phải xem qua và tìm hiểu ít nhiều triết lý căn bản của mỗi Ðạo giáo. Những tài liệu các em thu thập được sẽ giúp các em về mặt giáo hóa nhơn sanh khi các em lãnh phận sự Ðạo.

Lẽ tự nhiên là ngọc có giồi thì ngọc mới sáng, người có học mới rõ thông Ðạo lý. Trên đường Ðời cũng như trong cửa Ðạo, nhờ có sự bền chí kiên tâm, người hiếu học mới đi đến mức thành công mỹ mãn.

Nếu biết là sự học hỏi không có phạm vi giới hạn, trí huệ càng mở mang thì sự học càng tiến thêm mãi và nếu được lãnh hội mau chóng là nhờ có suy nghĩ nhiều. Có suy nghĩ nhiều người tự học mới đạt đến chỗ uyên thâm của vấn đề chuyên học.

Ðức Khổng có nói: "Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi", nghĩa là học mà chẳng suy nghĩ thì sự học chỉ lờ mờ, suy nghĩ mà không có công học thành ra suy nghĩ vẫn vơ không lấy gì làm căn bản. Thành thử phải đủ cả công học hành và suy nghĩ cái kết quả mới tốt đẹp.

Xưa kia Khổng Tử là người rất hiếu học, mặc dù Ðức Ngài là bậc Thánh bất cứ điều gì Ðức Ngài cũng cố ý nghe, suy nghĩ và tìm hiểu, Ðức Ngài nói rằng: "Ba người cùng đi với nhau tất có một người là thầy ta, ta chọn người thiện mà bắt chước, ngừơi bất thiện thì so sánh mà sửa mình".

Do theo gương của Ðức Ngài, những bậc trí thức ngày xưa mặc dù có tài học lỗi lạc, thường hay nhún nhường, khiêm tốn chớ không hề tỏ vẻ tự đắc.

Trong cửa Ðạo, người có sứ mạng nơi mình lại càng phải dè đặt, khiêm tốn nhiều hơn nữa, vì với thái độ ôn hòa nhã nhặn, người tu sĩ sẽ gây được nhiều thiện cảm đối với mặt đời và nhờ đó mà hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng, đem thắng lợi về cho Ðạo.

Quý anh em sinh viên Lễ Sanh nam nữ,

Rồi đây các em sẽ dự thí lãnh bằng tốt nghiệp Hạnh Ðường và sẽ lần lượt được giao phó phận sự Ðầu Tộc Ðạo nơi các địa phương. Các em sẽ thay mặt HỘI-THÁNH để giáo hóa nhơn sanh đem hạt Thánh cốc gieo rải trong vùng tộc Ðạo.

Ðó là một ân huệ thiêng liêng cao quí mà các em quá đổi may duyên mới được phần hưởng thụ. Có thể nói là một cơ hội thiên thu hạnh ngộ làm cho các em được rạng mày nở mặt đối với xã hội cũng như đối với gia đình và chủng tộc.

Phục vụ xứ sở quê hương cũng cho là một vinh hạnh quá đáng rồi, các em lại được cơ hội phục vụ cho Ðấng CHÍ-TÔN THƯỢNG ÐẾ đưa chiếc thuyền từ chực rước khách trầm luân nơi khổ hải đặng lập nên Thiên vị cho mình.

Thử hỏi có đem sự giàu sang danh vọng của trường đời để đổi lấy phẩm vị ấy được chăng?

Phải biết rõ chức vụ của mình quý trọng là thế nào các em mới thận trọng giữ gìn phẩm giá của mình mới tận tâm lo tròn phận sự.

Các em đừng sợ công việc quá khó khăn và không đủ tài để đảm đương nhiệm vụ. Nho giáo có câu: "Thế thượng vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên", nghĩa là trên đời không có việc gì khó mà chỉ tại lòng người không bền.

Các em cứ để tâm cầu nguyên Ðức CHÍ-TÔN và luôn luôn giữ dạ trung thành với HỘI-THÁNH, đừng để ai lung lạc tinh thần, đừng theo phe nầy phái nọ và luôn luôn lấy công bình hành sự. Việc chi không quyết đoán thì yêu cầu HỘI-THÁNH chỉ giáo. Ðối nội thì làm cho trên thuận dưới hòa, chia vui sớt nhọc, kết giải đồng tâm, nối dây thân ái. Ðối ngoại thì lấy lễ mà tiếp nhân, lấy khiêm từ mà phục chúng, sẵn sàng giúp đỡ người trong mọi việc đặng tạo cảnh hòa ái tương thân.

Ðược vậy thì trong ấm ngoài êm, ngọn cờ cứu khổ sẽ được nêu cao khắp chốn.

Nên để ý là người hành Ðạo cần phải có chí nhẫn nại, phải cố gắùng theo dõi mục đích mà mình đã đạt lấy không lúc nào chểnh mảng. Cái mục đích ấy là giúp đời tế chúng, đem ánh sáng vào cõi tối tăm, cải dữ nên lành, lấy chơn thay giả. Ðem công quả mà đổi lấy Thiên vị thì cái công quả đó phải dành trọn cho ích lợi của nhơn sanh chớ không phải dựa theo Ðạo đặng tạo riêng cho mình và cho gia đình mình. Nếu có tánh ích kỷ và ham lợi dụng thì người hành Ðạo có ý thức quá nông nổi. Thoảng như có ai đem một lợi lộc nào mua chuộc để sai khiến mình trong việc bất chánh thì chắc hẳn là họ sẽ bán đồ nhi phế, bỏ cả chức phận để chạy theo. Ðó có khác chi là buông mồi bắt bóng.

Vậy tôi xin các em sinh viên sau nầy có lãnh phận sự Ðạo thì nên dè dặt cho lắm.

Nếu các em biết thận trọng giữ gìn phẩm giá của mình và tận tâm vì Ðạo thì các em sẽ nắm chặc sự thành công trong tay.

Giờ đây các em hãy dọn mình đặng chờ ngày đảm đương phận sự, thi đua công quả hầu lập vị vẻ vang trong cửa Ðại Ðạo.

Tôi ước mong các em sẽ tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy của HỘI-THÁNH và xin cầu chúc các em vững bước trên đường nhiệm vụ.

Rất mong thay,

Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

Cao Thượng Sanh

 


 

Lễ Khánh Thành
Vuông Rào BÁO QUỐC TỪ

 

Kính HỘI-THÁNH,
Chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện Nam Nữ,
Trung Tá Tỉnh Trưởng,
Quý Quan khách,
Chư Chức việc và Ðạo hữu lưỡng phái,

Hôm nay là buổi khánh thành vuông rào Báo Quốc Từ, nhơn danh HỘI-THÁNH tôi xin để lời cảm ơn Trung Tá Tỉnh Trưởng, quý viên chức tỉnh Tây Ninh và quý quan khách sẵn lòng đến dự, giúp tinh thần cho buổi lễ được xán lạn và trang nghiêm trong khung cảnh huy hoàng long trọng.

Trên vùng Thánh Ðịa nầy, hôm nay Ðời và Ðạo đã gặp nhau và thông cảm nhau trong dịp tỏ lòng tôn kính và sùng bái những nhơn vật trong hàng vương giả, đã lấy chủ nghĩa quốc gia dân tộc làm chuẩn đích, đem thân thế điểm tô cho non sông Việt chủng được vững bền trên cõi Á Ðông, lắm khi phải trọn đời hy sinh vì giống nòi Hồng Lạc.

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một nền Quốc Ðạo được khai sáng trên đất Nam Phần Việt Nam, nơi mà tinh ba của đất nước đã nung đúc biết bao bậc anh phong chí sĩ, lẽ tất nhiên là Ðại Ðạo có phận sự bảo tồn quốc túy, giữ cho còn mãi những cái hay, cái đẹp riêng biệt của nước nhà hầu lưu truyền cho đời sau roi dấu.

Trong những cái hay, cái đẹp đó đáng treo gương nhất là tinh thần vị quốc xả thân dầu đến thác cũng không đổi dời tiết tháo.

Vì muốn tôn thờ cái tinh thần vị quốc ái dân đó, Ðức Hộ Pháp mới có sáng kiến xây dựng ngôi BÁO QUỐC TỪ để làm nơi hương hỏa phụng tự cho các Ðấng Tiên Vương và các nhà tôn thất có dày công với Tổ Quốc Việt Nam.

Cái sáng kiến của Ðức Hộ Pháp do nơi lòng ái quốc chơn chính của Ðức Ngài, đã làm cho toàn Ðạo vui lòng và mãn nguyện.

Ngày nay HỘI-THÁNH tiếp tục gìn giữ dấu tích của Ðức Ngài và tô điểm cho nó còn vẻ uy nghiêm mãi mãi.

Tuy nói rằng ngôi Báo Quốc Từ để tôn thờ những bậc vương giả hữu công với đất nước, nhưng nước Việt Nam đã thoát vòng lệ thuộc và chính thể hiện tại là chính thể Cộng Hòa thì từ đây ngôi miếu nầy sẽ dành chung để chiêm bái những vị lãnh đạo Quốc gia như Quốc Trưởng, Thủ Tướng chẳng hạn, đã hy sinh vì Tổ Quốc, đã có công đổi loạn ra trị, xây dựng thái bình cho nhơn sanh được hưởng an cư lạc nghiệp.

Ðó là những đấng Phụ Mẫu chi dân thật xứng đáng những ân nhân ngàn đời của dân tộc Việt Nam vậy.

Ngoài ra những đấng anh hùng tương lai của đất nước, những nhơn vật đã dám tuẫn tiết vì non sông, dám liều mình vì dân tộc đã đem thắng lợi cho quê hương và giữ danh dự chung cho nòi giống. Những đấng ấy đều đáng đem vào Báo Quốc Từ để được thiên thu phụng tự.

Vì mục đích tôn trọng hạng anh hùng chí sĩ nên nơi mặt tiền Báo Quốc Từ, HỘI-THÁNH có cho khắc hai câu đối, do Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức biên soạn và đã được sự chấp thuận của HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài như dưới đây:

  "Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách
Hộ trì quốc vận chí sĩ hiển uy linh"

Cái ý nghĩa hai câu nầy như thế nào, tôi chắc rằng quí vị đều biết rõ.

Thưa HỘI-THÁNH và chư Quí vị,

Từ xưa biết bao nhiêu bậc anh hùng chí sĩ Việt Nam đã lắm phen cứu vãn tình thế khuynh đảo của nước nhà, đánh đuổi kẻ xâm lăng, xây dựng nền độc lập.

Những bậc anh hùng dân tộc như: Phạm Ngũ Lão, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Ðạo.....những bậc anh thư như: Hai Bà Trưng, Trưng Trắc, Trưng Nhị, mặc dù ngày nay đã khuất bóng, nhưng uy danh vẫn còn ghi tạc sử xanh được muôn đời nhắc nhở ca tụng. Những đấng ấy há chẳng đáng cho nhơn dân sùng bái phụng thờ mãi mãi sao?

Cho hay dù trong cửa Ðạo hay nơi mặt đời, những bậc siêu phàm đều có giá trị hiển hách ngang nhau.

Ðạo thì dụng từ bi, bác ái, cứu khổ nâng nguy; Ðời thì dụng tiết tháo anh hùng, trung cang nghĩa khí.

Trải thân hữu dụng để phục vụ cho Ðạo và nhân sanh hay lấy chí anh phong để phụng sự quốc gia, giữ gìn biên cương lãnh thổ, khi nợ trần giũ sạch, nhục thể trả lại cho lòng đất thì dù Ðạo hay Ðời, những linh hồn bất diệt cũng đều được hưởng sự ban thưởng Thiêng Liêng, qui hồi cựu vị trong cõi Thần Thánh Tiên Phật.

Cái gương của Ðức Quan Thánh Ðế Quân ngày nay đắc phong Phật vị và Ðức Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm tức là Ðức Thanh Sơn được đứng vào hàng Tiên vị đã chứng cho chúng ta thấy sự công bình của Ðấng Chí Tôn cầm quyền thưởng phạt.

Một người thì đem tài bách chiến và khí phách anh hùng để phò vua vực nước, một người thì dụng văn chương bác lãm để giúp cho nước trị dân an, hai Ðấng ấy chẳng phải vì tu hành mà chỉ nhờ nơi tâm chí cao siêu nên thủ đắc Thiên vị.

Vậy tôi ước mong cho chư Ðạo hữu nam nữ nhận thức được cái ý nghĩa cao quí của buổi lễ hôm nay và trước khi dứt lời, tôi cầu xin Ðức CHÍ-TÔN ban ơn cho toàn thể chức sắc, đạo hữu và quí quan khách.

Nay kính,

Ngày 20 tháng 10 Bính Ngọ (dl. 01/12/1966)
Cao Thượng Sanh

 


 

LỄ AN VỊ ÐỨC PHẬT MẪU

NƠI ÐIỆN THỜ TRƯỜNG QUI THIỆN
Ngày 19/12/Bính Ngọ (dl. 29/01/1966)

 

Kính chư Chức sắc Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện Nam Nữ,
Kính Quý Quan khách,
Kính chư Chức việc và Ðạo hữu lưỡng phái,

Hôm nay cử hành Lễ An Vị Ðức PHẬT-MẪU tại Ðiện Thờ vùng Qui Thiện, tôi lấy làm vui lòng trông thấy tình Ðạo hữu nơi đây được nồng nàn khắn khít trong công việc bồi đấp cơ nghiệp Ðạo, hiệp sức nhau để chung lo xây dựng ngôi thờ làm nơi sùng bái Ðại Từ Mẫu, đó là lòng hiếu kỉnh của con cái chẳng quên ơn Ðức Mẹ Thiêng Liêng. Cái ơn thâm trọng đó là nhờ nơi đức háo sanh của Ðức Phật Mẫu chúng ta mới có hình hài tại thế và nhờ nơi Người ban cho khí Sanh Quang, chúng ta mới có kiếp sống nơi cõi trần nầy để lập thân hành Ðạo hầu diệt tiêu quả nghiệp tiền khiên trở về Thiêng Liêng vị.

Chư quý bạn Ðạo được có sự đồng tâm nhứt trí, đó là một điều quý báu vô giá, vì sự đồng tâm xuất phát nơi lòng thương yêu lẫn nhau, mà sự thương yêu là giọt nước Ma Ha có thể làm cho êm dịu tất cả những sự khổ đau trên trần thế.

Sanh đứng làm người tức phải hứng bao nỗi tang thương khốn đốn, phải chịu lắm phen nghịch cảnh đau lòng, dày vò lăn lóc hầu trả cho xong túc trái tiền oan cho đến ngày chung cuộc.

Ấy vậy, đời đã dẫy đầy đau khổ do nơi nguyên lý của kiếp sanh, và do nơi thiên tai địa ách, tại sao người ta còn tự tìm thêm đau khổ trong sự giành giựt tranh đua mưu hại lẫn nhau để đoạt cho được miếng đỉnh chung mùi phú quý.

Tại vì người ta quá lầm lạc, muốn cho mình được hoàn toàn hạnh phúc.

Thử hỏi tiền bạc có đem lại hạnh phúc thật sự cho đời người chăng? Ðiều đó người trong cửa Ðạo có hấp thụ Thánh giáo của Ðức CHÍ-TÔN đều có quan niệm xác đáng.

Những lợi lộc chính đáng nơi công trình lao lực, nếu ta biết tri túc, có thể đem lại cho ta một thư thái an vui nên cũng cho là được phần nào hạnh phúc.

Còn những của hoạnh tài, những món lợi phi pháp do nơi tội ác mà được vào tay, thay vì đem hạnh phúc cho con người lại là những nấc thang đưa họ xuống hang sâu vực thẳm, vì lưới Trời tuy thưa chớ một mảy lông cũng không lọt qua được.

Vậy cái hạnh phúc thật sự là hạnh phúc về tinh thần, hạnh phúc của người có lương tâm thơ thới, biết an phận thủ thường, có tư tưởng sạch trong nhiễm mùi đạo đức.

Trong gia đình mà được phu phụ hòa ái, huynh đệ tương thân, trên biết thương dưới, dưới biết kỉnh trên, cực khổ đồng chia, lạc hoan đồng hưởng, đó là một gia đình đầy hạnh phúc.

Trong cửa Ðạo, mối dây thân ái đã buộc chặc bạn đồng môn trên đường giải khổ thì sự hòa hợp thương yêu nhau trong khung cảnh êm ấm điều hòa, vui buồn chia sớt là điều quí báu nhứt. Dầu không mỹ vị cao lương, không vinh hoa phú quí, chúng ta cũng tự cho mình là đầy đủ hạnh phúc.

Như trong buổi lễ hôm nay, chư đạo hữu, đạo muội nơi đây đã chung lo tạo lập một nền tảng vững chắc, một ngôi thờ xứng đáng để lễ bái Ðức Mẹ Thiêng Liêng, thì sự thành công đã được sản xuất nơi lòng hiếu kỉnh, nơi mối dây thân ái và nơi chí hy sinh góp chung làm sức mạnh.

Cái kết quả được đạt thành, những bạn Ðạo cùng góp phần của và ra công, ngày nay tụ họp nhau để nhìn thấy cái sự nghiệp chung của mình, tôi đoán chắc là mỗi người đều có chí mãn nguyện và một sự vui mừng chánh đáng đó là một hạnh phúc vô giá vậy.

Tuy nhiên, cũng nên nhắc cho quí vị nhớ rằng: Ðã gắng công xây dựng về hình thức tức là ngôi thờ thì cũng phải gia tâm trau tria về mặt tinh thần tức là phần đạo đức.

Hình thức và tinh thần phải tương xứng, phải cùng tốt đẹp cùng nhau, đồng nhau thì trong và ngoài mới không có điều chênh lệch, đường tu hành mới được vững chắc.

Tinh thần lấn vật chất thì Ðạo và người cao siêu, vật chất lấn tinh thần thì Ðạo và người thấp kém.

Trong cửa Ðạo, chúng ta phải trau tria tinh thần hơn hình thức. Câu Chùa rách Phật vàng hiểu về nghĩa chánh là: ngôi chùa tuy bề ngoài không tốt đẹp, nhưng bên trong đượm nồng cái không khí từ bi, đạo đức và Ðức Phật đã bố hóa cho vị tu trụ trì được cái tâm tư hoàn toàn thoát tục, tha thiết với nhiệm vụ cứu khổ chúng sanh.

Hiểu rộng hơn nữa, câu ấy nói về con người bề ngoài tuy đơn giản, mộc mạc nhưng có tâm linh thanh khiết, trí não cao siêu. Ðó là tinh thần lấn vật chất vậy.

Ðức Hộ Pháp khi còn tại thế đã thường nhắc nhở cho Ðạo hữu phải giữ cho nguyên vẹn cái tinh thần tốt đẹp của phong hóa nước nhà, cái tinh ba của nền triết lý trong Ðạo Nhơn luân trót bốn ngàn năm do tổ tiên lưu lại.

Ðức Ngài nói: Vì xu hướng Việt Nam theo văn minh vật chất, chuộng cái tinh xảo bề ngoài của ngoại chủng nên ngày nay phong hóa suy đồi, cang thường đảo ngược. Chủ nghĩa duy vật đã thâm nhập vào não cân của dòng giống Lạc Hồng khiến cho quốc túy điêu tàn, nền NHÂN xiêu ngả và chính vì để cứu vãn tình trạng nguy hại đó mà Ðức CHÍ-TÔN giáng lập Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Thánh ý của Ðức CHÍ-TÔN là muốn cho chúng ta phục hồi cái phong hóa cổ truyền của nhà Nam mà NGƯỜI cho là quý báu nhứt trên mặt địa cầu. Cái phong hóa tốt đẹp đó đã bị bôi dơ, bị chà đạp: nào tình phụ tử, nào nghĩa phu thê, tình huynh đệ, mỗi mỗi đều mất hẳn tính cách thiêng liêng của nó. Trên xử dưới, dưới dối trên, người ta đều đóng vai tuồng như trên sân khấu, toàn là màu mè và giả dối.

Ðức CHÍ-TÔN dạy chúng ta lấy NHO TÔNG chuyển thế đặng xây dựng lại nền phong hóa ưu tú của nước nhà hầu tạo lập một nền Văn hóa tương lai cho toàn thể quốc gia trên thế giới. Vì vậy Ðại Từ Phụ mới có câu: "Nam phong thử nhựt biến Nhơn phong"

Thành thử về mặt Ðạo, trong việc bồi công chúng ta chẳng nên quên việc lập đức. Bồi công là phần hữu hình, lập đức là phần vô vi, hữu hình và vô vi phải tương xứng người tu sĩ mới thu thập kết quả trên đường lập vị.

Hôm nay trong việc xây dựng ngôi thờ Ðức PHẬT-MẪU, HỘI-THÁNH vui thấy tình cảm đoàn kết của quý bạn Ðạo nơi đây được chặc chẽ. Cái tình đoàn kết đó chẳng nên có giới hạn trong khuôn khổ địa phương. Nó phải được lan rộng cùng khắp trong Châu Thành Thánh Ðịa. Ðó là điều trước tiên, vì sau nầy nó phải được thực hành trên toàn cõi Việt Nam và trong đại gia đình bao la của con cái Ðức CHÍ-TÔN tại thế.

Ngoài sự đoàn kết, quý bạn còn phải tôn trọng trật tự và kỹ luật theo chơn truyền Ðại Ðạo.

Ðức CHÍ-TÔN lập nên Thánh thể của Người cốt để giữ gìn cái kỷ luật ấy được trường tồn mãi. Nó là khuôn vàng thước ngọc để cho chúng ta tùng theo cho khỏi sai bước lạc đường, nền Ðại Ðạo mới lưu truyền đến thất ức niên trên võ trụ, xin chư đạo hữu lưu ý.

Dự buổi lễ An Vị Ðức PHẬT-MẪU hôm nay, tôi ước mong sao cho tinh thần đạo đức của chư Ðạo hữu nam nữ nơi đây được càng ngày thêm tiến triển.

Nhơn danh HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài, tôi xin để lời ban khen và cầu chúc toàn thể quý bạn Ðạo được gội nhuần ân huệ của Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU.

Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

Cao Thượng Sanh

 


 

THUYẾT ÐẠO

Nhân LỄ VÍA ÐỨC CHÍ TÔN
ÐÊM MÙNG 8 THÁNG GIÊNG ÐINH MÙI
(DL. 16/02/1967)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Chư chức sắc, Chức việc và Ðạo-Hữu lưỡng phái,

Trăm hoa đua nở, cảnh vật tươi màu, TÂN XUÂN ÐINH MÙI đã đem đến cho mặt Ðời bao vẽ hân hoan, náo nức khiến cho con người dầu cơ cực thế nào cũng tạm quên nỗi khó đã vui hưởng ít nhiều cảnh thơ thới tưng bừng của ngày xuân quang đãng.

Ba ngày TẾT Nguyên Ðán đã thoát qua, hương vị của Tân Xuân còn phưởng phất trong cảnh ấm áp, đoàn tụ, gia đình thì đã đến ngày phần nhiều Chức sắc, Chức việc từ nơi tứ phương phải quay gót trở về nơi Thánh Ðịa Trung Ương để được hiện diện trong LỄ VÍA ÐỨC CHÍ TÔN ÐẠI TỪ PHỤ.

Mỗi bạn đạo đều có sắc diện vui tươi phấn khởi vì đây là ngày độc nhứt trong mỗi năm để cho Chức sắc cũng như tín hữu trình diện trước Ðức Cha Thiêng Liêng hầu dâng lên những lời cầu nguyện hướng về Tổ Quốc hoặc hướng về gia đình hoặc riêng về cá nhân mình.

Hội Thánh cũng lấy làm mãn nguyện, vì mặc dầu thời cuộc khó khăn trong năm qua Hội Thánh đã đồng tâm nhất trí lo bồi bổ các khuyết điểm về vật chất cũng như về tinh thần cố đem lại cho bổn Ðạo sự hòa nhã an vui, xa lánh những cạm bẩy hiểm nguy của cơ thử thách.

Ðiều đáng vui mừng là Hội Thánh đã thu thập một thắng lợi vẻ vang cho nền Ðạo. Nhờ sự tận tâm vận động của Hội Thánh ngày 8/9/1966, Chánh Phủ hiện tại đã ban cho Giáo Hội Cao Ðài Tây Ninh quyền sở hữu về bốn lô đất gồm 2.355 mẫu do Hội Thánh khai thác. Nguyện vọng tha thiết của Ðạo trên 20 năm, ngày nay mới đạt thành.

HỘI THÁNH đã khởi công chỉnh trang các vùng ngoại ô Thánh địa và một ngày không xa chúng ta sẽ có một Ðô thị Tôn giáo hoàn toàn xinh đẹp nhứt trong xứ VIỆT NAM này. Ðiều đáng cho toàn đạo ghi nhớ là trong lúc thời cuộc còn khó khăn, đất nước đang bị khép trong vòng binh lửa, Hội-Thánh phải thận trọng với nhiệm vụ và hết sức cẩn thận về mọi trường hợp để có thể lần hồi xây dựng Ðại Nghiệp của Chí Tôn tại thế.

Chậm rải từng bước một, nhưng đi được bước nào vững bước nấy, không ham tranh giành, không muốn phô trương, không la lối để khoe danh, không ham quyền chác lợi, không thấy việc làm của người rồi bắt chước chạy theo, vì HỘI THÁNH quan niệm sứ mạng cứu độ người nơi bể khổ là cao trọng hơn cả mọi việc khác. Việc cần yếu là phải tự tu, tự học cho được sáng suốt và đủ đức tài hầu dìu dắt bước đường cho nhơn sanh noi theo.

Trong khi lo xây dựng nghiệp Ðạo và lo độ người, chúng ta còn phải lo gìn giữ tiết tháo của người chơn tu, lo giữ phẩm giá của Hội Thánh.

Vì vậy Hội Thánh phải cam tâm chịu thiệt thòi về mặt hình thức, nhưng Hội Thánh đã tự hào là được hoàn toàn trong sạch, không một mảy bợn nhơ về tiền tài dầu là ở đâu đưa đến.

Nhờ sự trong sạch đó mà cái giá trị của TÒA THÁNH TÂY NINH được nêu cao, HỘI THÁNH được người kính nể vì hai chữ LIÊM - KHIẾT.

Có lời của Ðức Chí Tôn: "ÐẠO phải trong sạch, người cũng trong sạch thì tôn chỉ của mối chánh truyền mới được châu đáo. Các con đừng sợ nghèo, cái nghèo thanh đạm cao siêu thì đổi giá nào cũng không chịu đổi"

HỘI THÁNH đã từng nhắc cho bổn đạo ghi nhớ mấy lời nghiêm huấn này và mặc dầu ở trong hoàn cảnh bất túc, Hội Thánh chỉ nhờ nơi lòng trung hậu và sự hảo tâm của bổn đạo gần xa ra tay vùa giúp đở nâng.

Cho hay một miếng khi đói bằng một gói khi no, nhà nghiêng nghèo thì lòng con thảo thêm sáng tỏ.

Ðó là chí hy sinh tuyệt đối của con cái Ðức Chí Tôn đối với cơ nghiệp Ðạo.

Nhờ nơi sự hy sinh đó mà Hội Thánh vững lòng lo phần xây dựng, cố gắng tạo cho nền Ðạo một tinh thần cao siêu trên đường phục vụ Ðại chúng, và chính cái tinh thần phục vụ đó là nhịp cầu thông cảm để giúp cho nền Ðạo được phổ thông trên khắp hoàn cầu khi hòa bình được vãn hồi nơi cõi Ðông Á.

Thành thử lo bồi bổ về tinh thần nhiều hơn là lo về phần hình thức, đó là chí hướng của Hội Thánh, vì Hội Thánh vẫn quan niệm một nền Ðạo Giáo phải có một tinh thần thanh thoát cao siêu thì sự tồn tại mới được vững chắc và vĩnh viễn.

Chớ có cái hình thức rườm rà, nhảy múa lăng xăng, có khi được tiền rừng bạc bể mà hành động quá nông nổi, tinh thần lại quá kém suy, không có một phương hướng nhất định làm chuẩn đích, thử hỏi một nền Ðạo như thế có được vinh diệu và có đủ uy tín đối với đại chúng không?

Con người cũng vậy, nếu quá lo cho hình thức mà bỏ phế tinh thần thì con người sẽ trở nên xa hoa lãng mạn, vô đạo đức, vô nghĩa nhân và sẽ là một mối tai hại cho gia đình và xã hội.

Trong cửa Ðạo, người quyết chí tu hành phải chuyên lo trau dồi hạnh đức, bồi bổ tinh thần, lánh chốn cạnh tranh xa mồi phú quí.

Trò đời là giả cuộc, bả vinh hoa, mùi chung đỉnh chẳng qua như giọt sương trên cỏ, bọt nước ngoài sông. Nếu gọi đó là hạnh phúc của đời người thì hẳn là hạnh phúc của phái DUY VẬT, chỉ làm cho con người vướng đầy tội ác, mang lấy nghiệp căn phải chịu sa đọa đời đời kiếp kiếp vì:

  "Danh lợi lớn là giành với giựt,
Phú quí cao bởi mượn và xin."

Ðức Chí Tôn có dạy rằng sự vinh hoa phú quí ở cõi đời vẫn có tính cách phù du và trái với đạo đức, phải đủ chước quỉ mưu thần dụng nhiều xão trá mới đoạt được nó, nhưng không khi nào giữ được nó vĩnh viễn. Chúng ta phải tìm sự vinh hoa phú túc về mặt tinh thần, do nơi Ðức Chí Tôn ban cho thì mới giữ được trường tồn, không bao giờ mất được.

Ðã may duyên gặp Ðạo, quyết lánh dữ tầm chơn, nay gặp đạng ngọn suối trong để rửa lần bợn tục thì ai lại chịu vì một lẽ nào đem bỏ cái chơn đổi lấy cái giả?

Cái "CHƠN" tức là giá trị phẩm tước do Ðức Chí Tôn ban cho, cái "GIẢ" tức là miếng mồi nhữ câu của Tà quyền.

Biết bao nhiêu người trong cảnh giới tu hành vì lòng trần còn nặng, dục vọng chưa tan nên lắm khi vướng vào lưới tam độc, tức là THAM, SÂN, SI chạy theo bả lợi mồi danh tranh đua giành giựt. Rốt cuộc, tu hành bị lỡ dở mà danh lợi cũng mơ màng.

Cũng bởi con người hay trọng thể xác hơn tinh thần, thể xác đòi hỏi điều gì thì nôn nóng làm cho thỏa mãn, bất kể cái hậu quả là thế nào?

Còn cái tinh thần bị bỏ bê, không màng trau giồi nâng đỡ.

Thử hỏi cái tinh thần ấy là gì?

Tinh thần tức là phần thiêng liêng bất diệt. Cũng có thể gọi là tâm linh, thần linh hay là phần siêu hình hoặc là Lý Ðại Ðồng, Nho Giáo gọi phần thiêng liêng đó là MINH ÐỨC hay LƯƠNG TÂM, hay là TRỰC GIÁC tức là cái KHIẾU TRI GIÁC của Trời ban cho, cái thần minh làm chủ tể cả sự tư tưởng và hành vi của con người.

Về sự trau dồi cái TÂM, ÐỨC CHÍ TÔN có giáng dạy trong đêm Mùng 9 tháng Giêng năm TÂN MÙI (1931) một bài THÁNH GIÁO trích một đoạn sau đây:

"Thầy các con.

Các con có biết muốn rèn lòng đạo đức phải khởi nơi đâu cho chắc bước đường chăng?

Ðạo đức cần trau nơi tâm là chỗ chẳng ai thấy được. Rèn trau cho thuần tâm mỹ tánh rồi mới lần đến bề ngoài, trọn cả ngoài lẫn trong thì chừng ấy thân hình tâm trí chắc khư nào ai chuyển lay cho được.

Lo ngoài, quên trong, che bề trong trau bề ngoài cũng như có xác không hồn, chuộng hữu hình để cho cái chơn tâm phải mịt mờ dật lạc. Than ôi! Có hình thể xương thịt mà chơn hồn phưởng phất nơi xa thì cái thân vô dụng ấy trơ trơ như khối đá dựa đường, như khúc cây trên vực. Có đèn dầu đầy mà thiếu hơi lửa nhen lên thì cũng phải mờ mịt thâm u, trông chi soi sáng.

Ấy vậy các con nên biết mà răn mình. Cái tâm là vật người không thấy được, khá giồi trau nó trước.

Nếu bỏ tâm ra ngoài mà rèn hình thể thì chẳng khác chi quì đọc kinh, đèn đốt sáng hừng mà thiếu bức thiên nhãn trên điện vậy. Hồn ma bóng quế cũng lên ngồi, mà ngạ quỉ vô thường cũng xẩn bẩn. Ðó là phương đem đường cho quỉ vương chẳng thể nào tránh được.

Vì các con không rèn trau tâm trí cho đáng mặt phi thường nên lắm khi Thầy phải cậy kẻ khác trau giồi tánh đức của các con, để cho người hiếp đáp các con, mong cho các con vì đó mà tự tỉnh. Thầy tưởng khi là quá trí của các con mà lại cũng quá trí của Thầy đây nữa.

Nhưng vàng thau chung lộn phải cậy lửa trui rèn, Thầy đã đến cõi trần tục này để đem các con ra khỏi vòng tôi đòi xác thịt đồng thể với quỉ nhân và hóa nhân thì chính mình Thầy đây còn phải bị nhiễm trược khí thay huống chi là các con. Vì vậy các con phải tự cứu lấy mình, Thầy mới cứu các con được dễ dàng, chứ các con cứ đem mình làm tôi đòi cho sự ham muốn ích kỷ thì Thầy cũng không biết làm sao được... "

Hội Thánh ước mong mỗi con cái Ðức Chí Tôn gắng công trau giồi tâm đức theo lời dạy của Ðức Chí Tôn thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được thành quả tốt đẹp trên đường tu niệm. Nhơn dịp TÂN XUÂN ÐINH MÙI và nhân buổi lễ vía ÐỨC CHÍ TÔN ÐẠI TỪ PHỤ tôi thành tâm cầu nguyện cho toàn thể chức sắc, chức việc, đạo hữu lưỡng phái được đầy ân huệ thiêng liêng và xin chúc quý vị tinh thần tráng kiện để tiến bước trên đường lập vị.

NAY KÍNH.

THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN DỤ

ỦY LẠO CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC PHƯỚC THIỆN
LÚC ÐẦU NĂM ÐINH MÙI

 

Kính Chư chức sắc Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện Nam Nữ,
Kính Chức việc và Ðạo-Hữu lưỡng phái,

Hôm nay tôi lấy làm hân hoan đến dự chứng buổi tiệc đầu năm do Hội Thánh Phước Thiện tổ chức để ủy lạo toàn thể chức sắc, chức việc nơi Trung ương và các địa phương.

Sự hội hiệp của toàn cả Chức sắc Phước Thiện nơi Tổ Ðình vào đầu tiết xuân để bái lễ Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu là một điều quí báu do nơi lòng hiếu kỉnh của các con cái đối với hai đấng Chí Linh là Ðại Từ Phụ và Ðại Từ Mẫu.

Tôi không dấu được nỗi vui mừng khi được chứng kiến sự đoàn tụ đông đủ của anh chị em chức sắc, chức việc Phước Thiện rong tình thân yêu đầm ấm nơi bửa tiệc thân mật nầy.

Tôi ước mong sự đoàn kết và tình tương thân, tương ái được thắt chặc mãi giữa chức sắc Phước Thiện để cùng nhau chung tâm hiệp sức thực hành chủ nghĩa từ thiện, cứu khổ nâng nguy là một chủ nghĩa cao quí nhất của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Nếu Cửu Trùng Ðài là cơ quan hành chánh có nhiệm vụ đem Ðạo đến cho nhơn sanh, độ người cải tà qui chánh, thức tỉnh kẻ mê luyến hồng trần thì cơ quan Phước Thiện có sứ mạng cứu giúp những kẻ vô phước ở cõi đời, tức là những kẻ cô độc tật nguyền, những cô nhi quả phụ, những kẻ thất vận nhứt thời phải chịu vất vả lang thang bị mọi người ruồng bỏ. Những kẻ đau khổ chán chường, đó là những vết đen tối của bức tranh xã hội, những vai tuồng bẩn thỉu của sân khấu đời. Phải có một bàn tay từ thiện giúp đỡ cứu nguy cho họ bằng không họ chẳng khác chi những khách lữ hành vì thiếu nước mà phải phơi thây giữa bãi sa mạc.

Nhưng thử hỏi bàn tay tác phúc đó là ai, là người nào? Thưa rằng nếu tìm cho được người đó thì kẻ khổ đau chỉ còn là một cái xác không hồn. Thỏ chết, chồn rầu, nhưng người đối với người thì sự đạm bạc nói không cùng.

Trong xã hội kim tiền nầy, có người bỏ ra hàng mấy chục muôn đồng một đêm để thỏa thích trong sòng đổ bác, có kẻ phú túc kinh dinh dám phí cả trăm ngàn trong cuộc vui chơi trụy lạc, nhưng thí ra một số tiền cỏn con để giúp kẻ khổ đau thì chưa dễ gì họ chịu làm. Phải có những người giàu lòng bác ái, dẫy đầy huyết quản thương đời, chan chứa tính vị tha, nồng nàn tình đồng loại thì kẻ xấu số mới được gội nhuần ân huệ.

Những người ban ân huệ đó chính là những chức sắc Phước Thiện vậy.

Có người cho rằng việc cứu khổ giúp đời là một việc quá lớn lao thì cơ quan Phước Thiện thế nào lo kham được?

Xin thưa rằng HỘI-THÁNH PHƯỚC THIỆN có đủ thập nhị đẳng cấp thiêng liêng thì chức sắc Phước Thiện phải có cái sứ mạng cao quí đó mới đạt đến Tiên vị hay Phật vị. Nếu không có cơ quan Phước Thiện để hàn gắn những vết thương đau của xã hội thì Ðạo Cao-Ðài chưa phải là của Chí Tôn Thượng Ðế lập ra.

Ðức CHÍ-TÔN thường dạy, Người là Cha của sự thương yêu và bởi thương yêu Ðại Từ Phụ mới tạo thành thế giới và dùng đám lương sanh để cứu vớt quần sanh.

Sản xuất nơi sự thương yêu, chức sắc của Ðạo là cơ thể của thương yêu, phải vì thương yêu mà giải khổ cho nhơn loại.

Cửu Trùng Ðài có sứ mạng cứu người về phần linh hồn, Phước Thiện có sứ mạng cứu người về hình thể.

Gồm cả hai phương diện cứu nhơn độ chúng về hình thể lẫn linh hồn, Ðạo Cao-Ðài mới thật có tôn chỉ tận độ chúng sanh trong thời kỳ hạ nguơn mạt kiếp nầy.

Hiện thời Ðạo mới ra đời hơn bốn mươi năm, trong nước lại đương hồi bị nạn chiến tranh liên tiếp, chức sắc Phước Thiện vì thời cuộc mà chưa thực thi chính sách kinh doanh, khai thác kỹ nghệ, mở mang nông nghiệp sản điền.

Công cuộc chưa có thể làm được chớ không phải là không làm được nơi tương lai. Trong thời gian một trăm năm nữa hoặc hai hay ba trăm năm nữa, biết đâu cơ quan Phước Thiện sẽ được bành trướng mạnh mẽ, thâu thập lợi tức dồi dào, có thể nói là sẽ có tiền rừng bạc bể.

Ngày đó thực hành chủ nghĩa Phước Thiện không có điều trở ngại nữa, và ngày đó mục đích cứu đời của Ðạo Cao-Ðài mới đạt đến thực tế của nó.

Trong tình trạng đất nước hiện tại, sự mở mang cơ sở của cơ quan Phước Thiện thật rất khó khăn. Tuy nhiên, chẳng phải bởi sợ khó mà không làm. Có nhiều tư nhân vì đời sống cũng cần cù tạo lập trước nhỏ sau to và lần hồi họ cũng thành công mỹ mãn.

Với sự đoàn kết và sự tận tâm phục vụ của chức sắc Phước Thiện, tôi tin chắc rằng HỘI-THÁNH Phước Thiện có thể điều động việc lập cơ sở, mặc dù là có điều khó khăn, nhưng phải tận nhơn lực mới tri Thiên mạng. Có câu: "Thế thượng vô nan sự, nhơn tâm tự bất kiên", có nghĩa: trên đời không có việc gì khó cả, chỉ tại lòng người không bền.

Hồi tưởng lại cách đây 41 năm, vùng nội ô và ngoại ô Thánh địa toàn là những khu rừng rậm chứa đầy thú dữ. Biết bao điều nguy hiểm trong sự phá rừng và sự khai thác: nào lam sơn chướng khí, nào nước độc muỗi mòng, nào thú dữ chực hờ...lại thêm thiếu người công quả. Nếu chức sắc lúc ban sơ không có chí hy sinh và sụt sè vì những trở ngại, nếu Ðức Thượng Phẩm không có chí cương quyết điều khiển công quả, phần nhiều là người Tần Nhơn thì ngày nay đâu có vùng Nội ô Thánh Ðịa, đâu có một đô thị tôn giáo trang hoàng và xinh đẹp nhứt trong nước Việt Nam.

Nhắc đến dĩ vãng, tôi chỉ ước mong cho chư chức sắc Phước Thiện lưu tâm về sứ mạng cao quí của mình.

Hiện giờ HỘI-THÁNH Phước Thiện cũng đã tạo lập được trong nội ô một ít cơ sở về phương tiện y tế giúp ích cho người Ðạo trong cơn bệnh hoạn. Ðó cũng là một bước tiến triển khả quan.

Theo đà tiến triển đó, tôi ước mong những cơ sở về nông trang và kỹ nghệ sẽ được lần hồi lập thành đặng HỘI-THÁNH Phước Thiện có đủ thế lực tài chánh, giúp đỡ cho người Phước Thiện còn ở trong tình trạng quá thiếu thốn về vật chất.

Nhơn buổi hội diện đầu năm hôm nay, nhơn danh HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài và nhơn danh riêng tôi, tôi để lời chúc toàn thể chức sắc, chức việc Phước Thiện được dồi dào sức khỏe và hưởng đầy ân huệ của Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU.

Nay kính.

Ngày 20 tháng giêng năm Ðinh Mùi
Cao Thượng Sanh

 


 

HUẤN DỤ

NHƠN BUỔI TIỆC ỦY LẠO CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC CTÐ
Ðầu năm Ðinh Mùi (1967)

 

Kính thưa HỘI-THÁNH Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính thưa chức sắc, chức việc và đạo hữu lưỡng phái,

Hôm nay là buổi tiệc đầu năm thường lệ của HỘI-THÁNH ủy lạo toàn thể chức sắc, chức việc nam nữ và tất cả nhơn viên công quả nơi Cửu viện, nhơn dịp các Khâm Trấn, Khâm Châu và Ðầu Tộc Ðạo nơi các địa phương Nam Phần và Trung Phần tề tựu về nơi Tổ đình để bái lễ Ðức CHÍ-TÔN, Ðức PHẬT-MẪU và để hội diện với HỘI-THÁNH.

Mỗi độ xuân về là niềm hy vọng tràn ngập nơi cõi lòng con cái Ðức CHÍ-TÔN, hy vọng đó hướng về sự trùng phùng của các bạn Ðạo nơi Trung ương và nơi tứ phương cùng nhau hiệp mặt dưới mái gia đình ấm cúng của nền Ðại Ðạo.

Ðoàn tụ nhau trong năm chỉ có mấy lần, chức sắc HỘI-THÁNH và chức sắc nơi tứ phương đã tỏ ra nỗi hân hoan trong sự mãn nguyện chẳng khác chi cuộc tái ngộ của tình thủ túc trong gia đình sau một thời gian chia cách trông đợi.

Thực vậy, Ðức CHÍ-TÔN gầy dựng nền Ðạo lấy tôn chỉ thương người làm mối dây buộc chặc các môn đệ để cùng nắm tay nhau lên đường tìm phương cứu khổ cho nhân loại.

Sản xuất nơi sự thương yêu, các con cái của CHÍ-TÔN là cơ thể của thương yêu, có nhiệm vụ tạo nên giềng mối bảo sanh cho chủng tộc, gieo niềm hòa khí, kết mối tương liên hầu tiến tới mức huynh đệ đại đồng, hòa bình vạn loại. Ðó là mục đích cơ phổ độ của nền Ðại Ðạo.

Cùng nhau một chủ nghĩa thương đời, cùng chung một tín ngưỡng, một hoài bão vì Ðạo xã thân thì tấm nhiệt thành nơi tâm can của những bạn đồng hành còn nồng hậu nơi dòng huyết quản của tình huynh đệ thủ túc.

Tình thủ túc có khi phải chia lìa vì miếng đĩnh chung mồi phú quý, chớ tình đồng Ðạo mỗi khi đã kết thành để thực hành chí vị tha thì không thể nào bức tách được, trừ ra sự tử biệt cướp mất người bạn đồng hành của ta mà thôi.

Mầu nhiệm thay hai chữ vị tha, vị tha tức là vì người khác, bỏ cái ta ra ngoài. Hễ bỏ cái ta ra ngoài thì còn gì để tranh giành nhau, còn gì mà không siết chặt tay nhau để cùng hiệp sức độ nhơn, tế chúng theo lời dạy của Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ.

Tuy nói rằng vị tha là hướng về tha nhơn, là vì người khác chớ theo lẽ Ðạo thì vì người khác chính là vì mình đó. Nói cho rõ hơn là ta lo cho người khác tức thị lo cho ta vậy.

Một linh hồn đang sa ngã chốn sông mê, ta ra công khó dìu dắt cho y biết thức tỉnh vào đường tu hành, ăn năn sám hối. Ta phải phí công phu ngày dài tháng lụn, hao hơi mệt trí chỉ vì lo cho người đó quay về chánh đạo. Sự cứu rổi thật khó khăn, nhưng rốt cuộc ta thành công. Kẻ biết phục thiện đó ngày nay đã cải tà qui chánh, lo việc lập công bồi đức, ham chuộng nghĩa nhân, đáng mặt bậc tu sĩ. Cái công khó độ người của ta, tức nhiên ta được hưởng một công nghiệp thiêng liêng xứng đáng. Ðức CHÍ-TÔN có dạy rằng: "Các con nên rán công khổ hạnh, chịu khổ hạnh để độ người, chịu khổ hạnh vì bao nhiêu triệu sanh linh thì cái khổ hạnh ấy có nên tiếc chăng?"

"Thầy chỉ một lòng mong ước cho các con biết thương yêu trong Thánh Ðức của Thầy. Sự thương yêu là chìa khóa mở Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh. Kẻ nào thiếu sự thương yêu thì không qua khỏi cửa luân hồi. Mọi sự khó khăn Thầy gánh vác, chỉ cậy các con thương yêu và gắng công độ rỗi."

Nhắc lại lời dạy của Ðức CHÍ-TÔN Ðại Từ Phụ nêu lại cái tình tương thân, tương ái giữa bạn đồng Ðạo, tôi chỉ ước nguyện các bạn chức sắc nơi Trung ương cũng như địa phương cùng nhau thắt chặc giải đồng, đừng vì một tranh chấp, hoặc một tự ái nhỏ nhen mà làm cho mất niềm hòa khí, phạm nghĩa đồng môn.

Tình thương yêu phải ngập tràn trong cửa Ðạo rồi mới có thể loáng ra ngoài, nhân sanh mới được gội nhuần ân huệ, tôn chỉ độ đời mới được thực hiện.

Ðạo là tình thương, người đồng Ðạo phải sống trong tình thương vô tận, có khi phải nhường cơm chia áo cho nhau, tức là lá lành chở che lá rách, Ðạo mới được cao siêu, người Ðạo mới thoát tục.

Biết thương yêu nhau thì nhiệm vụ của mỗi người được thực thi dễ dàng, vì trên thương dưới, dưới kỉnh trên, nếu có lỗi thì thành thật chỉ bảo cho nhau, đỡ nâng nhau như tình thủ túc, xúm nhau vun bồi nghiệp cả thì tưởng lại cái hạnh phúc của người tu trong cửa Ðại Ðạo không còn hạnh phúc nào sánh kịp.

Ngoài ra người chức sắc phải quí trọng sứ mạng của bề trên giao phó. Ðạo nên hay hư và có giá trị cao hay thấp là do nơi sứ mạng của chức sắc được hoàn thành hay thất bại.

Sứ mạng hoàn thành tốt đẹp thì đem thắng lợi về cho Ðạo và Ðạo được vẻ vang.

Sứ mạng thất bại vì kém tinh thần phục vụ, vì coi mình trọng hơn nhơn sanh, hoặc vụ lợi hơn vụ nghĩa thì chẳng những người có sứ mạng phải gánh chịu trách nhiệm nặng nề về mặt thiêng liêng mà nền Ðạo lại bị tổn thương, cái giá trị của Ðạo lại thấp kém.

Theo sử lược của nước nhà thì xưa những vị anh hùng phò vua giúp nước coi sứ mạng và mạng sống cũng đồng nhứt thể.

Nếu sứ mạng được vẹn toàn thì triều đình ban thưởng xứng đáng. Còn sứ mạng bị thất bại thì kẻ trung thần phải diệt mạng sống cùng theo với sứ mạng.

Sứ mạng! Ôi sứ mạng! Vì sứ mạng mà hai vị Tổng Trấn Võ Tánh và Ngô Tùng Châu phải tuẫn tiết nơi thành Bình Ðịnh; cụ Phan Thanh Giản phải quyên sinh tại Vĩnh Long vì thất thủ thành trì. Ðó là gương cao đẹp nhứt của những đấng anh hùng vị quốc vong thân đáng để cho muôn đời ca tụng.

Cái sứ mạng của Ðạo không phải hiểm nguy và có tánh cách siêu việt như sứ mạng của người liệt sĩ phò vua giúp nước, nhưng cũng có phần quan trọng tương đương về tinh thần phục vụ, vì xây dựng nền Ðạo cũng chẳng khác chi xây dựng một nước.

Sứ mạng của Ðạo là đem sự yên tịnh lại cho tâm hồn, đem nhơn nghĩa và sự thương yêu lại cho Ðời, dìu dắt kẻ lầm lạc quay về đường ngay nẻo chánh.

Thành thử sứ mạng Ðạo là trị bịnh cho linh hồn cũng như bác sĩ trị bịnh cho thể xác. Trị bịnh cho linh hồn có phần khó khăn hơn trị bịnh cho thể xác, vì người có bịnh thể xác phải đến yêu cầu người thầy thuốc, về linh hồn phải chìu chuộng người bịnh, lấy lời ngọt dịu khuyên giải, phải nhẫn nại thuyết phục để trị bịnh cho họ mà họ khỏi phải tốn kém chi hết.

Vì vậy, nếu không có chí hy sinh, không vì người quên mình, không lấy đức làm căn bản, lấy bác ái làm phương châm và không đủ chí nhẫn nại thì không thể làm tròn sứ mạng.

Lúc ban sơ Ðức CHÍ-TÔN chịu nhọc nhằn và lấy nhẫn nại mà dìu dắt những chức sắc đầu tiên như thế nào, ngày nay chúng ta cũng phải chịu những khó nhọc y như vậy thì mới mong hoàn thành nhiệm vụ.

Nhiều khi phải thất vọng, phải buồn lòng, phải trải qua nhiều nỗi khổ đau vì cơ thử thách, nhưng nếu người chức sắc không vững tâm bền chí, buông xuôi sứ mạng thì lấy ai cứu vớt bao nhiêu ức sanh linh đang đắm chìm nơi bể khổ.

Có nhiều khó nhọc mới có sự thành công trong vinh hạnh mới xứng đáng vui hưởng ân huệ thiêng liêng ngày công viên quả mãn.

Các vị tiền bối đàn anh của chúng ta như Ðức Quyền Giáo Tông, Ðức Thượng Phẩm, Ðức Hộ Pháp ngày nay tuy về cõi Thiêng Liêng nhưng gương sáng vẫn còn lưu lại cho chúng ta ngày nay và cho đàn em ngày sẽ tới. Cái gương sáng đó là quí trọng sứ mạng cũng như kiếp sống.

Nhờ nơi chí cương quyết và sự hy sinh tuyệt đối của các bậc đàn anh mà sự nghiệp của Ðạo mới đồ sộ như ngày nay.

Chúng ta nên noi theo gương đó thì mới xứng đáng là người kế chí cho bậc đàn anh để vun bồi cơ nghiệp Ðạo.

Rồi đây quý vị chức sắc nam nữ nơi địa phương phải trở về với nhiệm vụ.

HỘI-THÁNH tiển quý vị lên đường bằng những lời dặn dò khuyến khích, bằng tiếng nói của tình huynh đệ, tiếng nói của quả tim cùng hòa một nhịp yêu đương và cùng chung một nguyện vọng là làm tròn sứ mạng.

Nơi chốn xa xôi, trên đường nhiệm vụ, nếu quí vị có đủ chí thành, quí vị nên tin tưởng là tiếng nói của Ðức CHÍ-TÔN và Ðức PHẬT-MẪU sẽ ở bên tai quí vị luôn luôn và các Ðấng Thiêng Liêng sẽ hộ trì quí vị theo lời cầu nguyện. Nhơn danh HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài và nhơn danh riêng tôi, tôi thành tâm chúc toàn thể Chức sắc Nam Nữ đầy đủ sức khỏe và gặp nhiều may mắn trên đường nhiệm vụ.

Nay Kính,

Ngày 21 tháng giêng năm Ðinh Mùi (dl. 1/3/1967)
Cao Thượng Sanh

 


 

HUẤN TỪ

TRONG CUỘC LỄ KHÁNH THÀNH
NHÀ THUYỀN BÁT NHÃ TRUNG ƯƠNG
Ngày 22 tháng 3 năm Ðinh Mùi (dl. 1/5/1967)

 

Kính HỘI-THÁNH Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài, và Phước Thiện,
Kính Chức sắc, Chức việc, nhơn viên nhà thuyền Bát Nhã và chư Ðạo hữu Nam Nữ,

Hôm nay tôi hân hạnh đến dự buổi lễ Khánh Thành nhà thuyền Bát Nhã Trung Ương, được chứng kiến một công tác cần thiết mà HỘI-THÁNH Phước Thiện đã hoàn thành để cho Ban Nhà Thuyền Tòa Thánh được có một ngôi nhà kiên cố đặng giữ gìn các thuyền Bát Nhã và cho nhân viên nhà thuyền có nơi trú ngụ xứng đáng.

Thời cuộc đương lúc khó khăn, nền tài chánh eo hẹp mà HỘI-THÁNH PhướcThiện đã cố gắng thành công trong việc kiến tạo nói trên thì thật là một công trình đáng khen ngợi.

Ðể tâm lo cho ích lợi chung, không quản cần cù mệt nhọc, quyết chí tìm phương cứu khổ giúp đời và biết quên mình để cho bao nhiêu người được hưởng sự vui vẻ, đó là chí hướng của bậc hoài bão chủ nghĩa thương đời.

Cái chí hướng cao quí đó đúng là chí hướng của người chức sắc Phước Thiện vậy.

Ðạo còn biết bao nhiêu điều cần phải thực hiện để hoàn thành sứ mạng đối với nhơn sanh, nhứt là HỘI-THÁNH Phước Thiện là tượng trưng hình ảnh của Ðức CHÍ-TÔN tại thế đặng cứu khổ cho con cái Ðức Ngài thì cái trách nhiệm thật quan trọng và nặng nhọc thế nào.

Nhưng lấy sự thành công trong một việc mà phỏng đoán và hy vọng trong bao nhiêu việc khác thì tưởng lại bước đường tuy khó khăn song cũng không đến nỗi không thể đi đến nơi đến chốn. Một việc đã thành đạt thì trăm việc khác cũng có thể thành đạt, nhà thuyền Bát Nhã đã cất xong thì bao nhiêu công tác khác cũng có thể thành tựu được...

Ðiều cốt yếu là phải nuôi chí thành cho vững chắc trong não cân đã phát hiện cái ý niệm tạo nên công nghiệp để giúp Ðạo, cứu đời thì cứ giữ mãi cái ý niệm đó và cương quyết không khi nào để cho lay chuyển, một tháng làm không rồi thì hai tháng, một năm không rồi thì hai năm và dẫu tới mười năm cũng phải đeo đuổi theo mãi cho tới khi hoàn thành mới chịu.

Tôi nhận thấy HỘI-THÁNH Phước Thiện có nhiều thiện chí xây dựng, nhứt là vị chưởng quản Phước Thiện từ mấy năm nay đã gắng sức thực hành công tác từ thiện để giúp ích cho người già cả và cho Ðạo hữu trong lúc ương yếu bịnh hoạn.

Với tinh thần phục vụ đó, tôi tin chắc HỘI-THÁNH Phước Thiện sẽ tiến tới sự thành lập các cơ sở kinh tế hầu có phương tiện cứu khổ nhơn sanh nhứt là trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc nầy.

Trở lại việc hoàn thành nhà thuyền Bát Nhã, tôi có lời khuyến khích toàn thể nhơn viên nhà thuyền rán tận tụy với phận sự, nhứt là chẳng nên có mặc cảm là công việc mình quá thấp hèn đối với các công việc khác.

Trong việc Ðạo, mỗi người đều có trách vụ riêng, và mỗi trách vụ đều có sự cần ích riêng biệt.

Không thể nói phận sự nầy cao quí, phận sự kia hạ tiện, vì cả thảy công việc đều hướng về chủ đích phụng sự cho Ðạo và cho nhơn sanh.

Sự công dụng của các cơ cấu trong Ðạo đều khác nhau, nhưng tất cả các cơ cấu đều có sự liên quan mật thiết với nhau cũng y như những bộ phận trong một động cơ nếu thiếu một món nào, dầu là một cái khoen hay một đinh ốc nhỏ thì động cơ phải bị tê liệt.

Sự sanh hoạt trong cửa Ðạo cũng chẳng khác chi sự sanh hoạt ngoài mặt đời, kẻ rành về nghề nầy, người chuyên môn về nghề khác, có nghề đòi hỏi sự lao tâm, có nghề cần nơi sự lao lực. Lao tâm hay lao lực, miễn nghề nghiệp tinh xảo thì người hành nghề luôn luôn được phần thưởng xứng đáng, vì vậy có câu: Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh thật là đúng như vậy.

Nhưng Ðạo khác hẳn với Ðời là người đời dùng sự lao tâm hay lao lực để đổi lấy món tiền thù lao và sự ban thưởng bằng vật chất, còn người Ðạo thì tình nguyện đem công quả để đổi lấy sự ban thưởng thiêng liêng chung cuộc.

Mấy em nhơn viên nhà thuyền đã ra công phục vụ mà không so hơn thiệt, cứ làm việc âm thầm, không cầu cạnh, không đòi hỏi, lấy chủ nghĩa vị tha làm chủ đích, chính là mấy em dành phúc quả cho mình đó.

Phần thưởng về hữu hình có khi không tương xứng với âm đức và công nghiệp, nhưng ân huệ thiêng liêng thì chắc hẳn là không thể mất mát dược.

Dự buổi lễ Khánh Thành Nhà Thuyền Bát Nhã hôm nay tôi để lời chia vui với HỘI-THÁNH Phước Thiện và mong ước quý chức sắc Phước Thiện hiệp đồng tâm chí để xây dựng nhiều cơ sở khác hầu có đủ phương tiện thật hành nhiệm vụ cao quí của cơ quan cứu khổ trong cửa Ðại Ðạo.

Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

Cao Thượng Sanh

 


 

Bài giảng của ÐỨC THƯỢNG SANH

trong dịp lễ Vía ÐỨC CHÍ TÔN
Ðêm mùng 8 tháng Giêng Tân Sửu (dl. 22/2/1961)

 

Kính thưa Chư Chức Sắc lưỡng phái,
Chư Chức Việc và Ðạo Hữu Nam Nữ,

Hôm nay, ngày lễ Vía Ðức CHÍ TÔN NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ, chúng ta Chức sắc và Thiện tín lưỡng phái tựu họp nhau nơi Tổ Ðình để lạy mừng ÐẠI TỪ PHỤ và kính cẩn dâng lên tấm lòng thành kính biết ơn thương Thầy mến Ðạo.

Nhơn lúc đầu Xuân Tân Sửu và nhơn buổi lễ nầy tôi thành tâm cầu nguyện cho Ðạo an ninh, cho Ðời thạnh trị, nhơn sanh bớt thống khổ, gió thuận mưa hòa, sông êm biển lặng.

Và cũng nhơn dịp có đông đủ Chức Sắc, Ðạo Hữu tôi xin đọc lại Thánh Giáo của Ðức CHÍ TÔN đã giáng dạy đêm mùng 10 tháng 2 Canh Tý (7/3/1960) tại Ðền Thánh.

"Hỉ Chư Chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Chư Môn đệ Nam Nữ,

Hôm nay Thầy vui lòng đến với các con để tỏ ý của Thầy đối với công việc Ðạo của các con Hiệp Thiên và Cửu Trùng Ðài. Từ mấy năm qua, các con đã chung tâm hiệp trí để sửa đường lối nền Chánh giáo cho đúng theo Chơn truyền, hiệp với Thiên Thơ, dìu dắt nhơn sanh trọn vẹn trong đường Thánh Ðức. Ðó là các con cứu vãn tình thế của Ðạo khỏi bước lạc lầm hướng về thế sự, làm cho mất vẻ trong sạch thiêng liêng của nó. Thầy lấy làm hài lòng và vẫn bố hóa tâm trí các con luôn. Thầy chỉ khuyên các con phải giữ thế nào cho Ðạo được trong sạch, phần cá nhơn của các con cũng phải được hoàn toàn trong sạch. Ðạo trong sạch, người trong sạch thì tôn chỉ của mối Chánh truyền mới thật hành châu đáo đúng theo lẽ huyền vi.

Các con đừng sợ nghèo, cái nghèo thanh đạm cao siêu thì đối với giá nào cũng không chịu đổi. Ðược vậy, các con mới xứng đáng là con yêu quí của Thầy. Ðạo phải trải qua lúc gay go là để trau giồi Chức sắc cho minh mẫn trong xét đoán cũng như nhận định và học hỏi, nâng cao trí thức, bỏ óc hẹp hòi, lánh đường xa hoa, ích kỷ. Nay các con đã thoát lối mê đồ. Thầy khuyên các con phải thận trọng đừng để cho ngoại vật chi phối nữa nghe."

Bài Thánh giáo nầy đã có đọc cho Chức sắc và Ðạo hữu nghe và có lẽ cũng đã phổ biến ít nhiều trong Ðạo. Nhưng nghe đọc hay xem Thánh giáo là một việc, còn làm theo lời dạy của Thánh giáo là một việc khác. Sự thật thì ai cũng muốn nghe, đọc Thánh giáo hoặc xem Thánh giáo, mà chừng tới lúc hành sự thì ít ai nhớ để làm y theo lời Thánh giáo. Vì vậy, hôm nay tôi cần phải nhắc lại bài Thánh giáo nầy.

Ðức CHÍ TÔN dạy phải giữ thế nào cho Ðạo được trong sạch, phần cá nhơn của người Ðạo cũng phải được hoàn toàn trong sạch. Ðạo trong sạch, người trong sạch thì tôn chỉ của mối Chánh truyền mới thật hành châu đáo đúng theo lẽ huyền vi.

Quí báu thay mấy lời dạy của Ðại Từ Phụ.

Sự giữ cho Ðạo được trong sạch, người cũng phải trong sạch ắt hẳn là một sự rất khó tự cổ chí kim, cho nên mới có lời của Ðức CHÍ TÔN dạy như vậy và nếu cố gắng làm y theo được thì nền Ðại Ðạo nầy mới xứng đáng là Ðạo của Trời lập thành, người môn đệ trong cửa Ðạo mới hân hoan tự xưng là học trò của Ông Thầy Trời. Ðạo được trong sạch là do hành vi và đức tánh của toàn thể Chức sắc Hội Thánh tức là Thánh Thể của Ðức CHÍ TÔN tại thế.

Hai chữ trong sạch có cái nghĩa rộng bao la, gồm hết những cái hay, cái quí, cái cao đẹp về hình thức lẫn tinh thần của những người điều khiển.

Chẳng những chỉ giữ liêm khiết về tiền bạc, không nhơ bợn đến tài chánh bất hợp pháp mà thôi, mà cũng phải trong sạch về hành vi, về ngôn ngữ, về tư tưởng, về cách cư xử với người trên kẻ dưới.

Nói tóm lại, trong cửa Ðạo, người hành Ðạo phải chính mình là hiện thân của Ðạo Ðức, của Từ bi, Bác ái, Công bình thì sự trong sạch mới hoàn toàn.

Khi ra ngoài xã hội, đối với người đời, về mặt xã giao cùng lúc xử sự, phần cá nhơn của người Chức sắc cũng phải được trong sạch trong mọi phương diện: không háo thắng, không khoe mình, lúc nào cũng lễ độ, khiêm tốn, hòa hưởn, nhún nhường, sẵn lòng thi ân, tế chúng, thế nào cho mọi người đều mến yêu, kính nể, như vậy mới thâu phục nhơn tâm, đem thắng lợi dễ dàng về cho mình khi thật hành nhiệm vụ trên đường phổ độ.

Thành thử, Chức sắc của Ðạo khi nhơn danh Hội Thánh mà làm phận sự Ðạo hay khi lấy tư cách cá nhân mà cư xử ngoài mặt xã hội thì trong trường hợp nào cũng phải hoàn toàn trong sạch.

Ðó là một việc khó khăn, như vậy cho nên những ai trau mình tu hạnh đúng theo lời của Ðức CHÍ TÔN thì những vị ấy chính là những Ðấng Thánh nhơn của Ðạo và nền Ðại Ðạo được gồm có những bậc Thánh nhơn trong hàng Chức sắc Thiên phong thì Hội Thánh mới thật xứng đáng là Thánh Thể của Ðức CHÍ TÔN tại thế.

Ðời của người hành Ðạo là một đời học hỏi tu tập không ngừng. Bởi vậy, mặc dầu đạt tới chỗ hoàn thiện là một việc quá khó, nhưng nếu muốn tự giải thoát, chúng ta phải rán sức, bền chí kiên tâm, chịu hy sinh cuộc đời vật chất xa hoa, lánh bả lợi danh, sống hoàn toàn trong mặt Ðạo, thì một ngày kia cũng đi đến kết quả, dầu không nên được bậc Chí thánh, cũng đứng vào bậc Chơn tu, đáng mặt phi thường. Chí ư gọi là khó rồi bỏ qua, không gắng công phu kềm chế cái vọng tâm, không vững chí sửa mình, đạt tới chỗ hoàn thiện thì người tu dựa vào căn bản nào mà đi cho cùng bước Ðạo, công viên quả mãn?

Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành tam nghiệp tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, phải bị chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi, chẳng khác chi tự mình trói buộc vào một cái bánh xe, cứ quay cuồng mãi mãi không biết bao giờ tháo mở được.

Vậy chúng ta phải tự tỉnh, phải chí công mài sắt, phải tự quyết đạt tới mức thành công là tự giải thoát và giải thoát cho nhơn sanh.

Sự thành công ấy chỉ do nơi ta mà thôi và chỉ có thể thực hiện nếu chính ta quyết tâm và nổ lực.

Không có một thế lực nào, một quyền năng nào dầu là quyền năng thiêng liêng, có thể giúp đỡ giải thoát cho ta được.

Ðức CHÍ TÔN có dạy rằng: "Thầy đã nói cho các con hay trước nếu các con không tự lập ở thế nầy là cái đời tạm của các con, thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đở lên cho đặng."

Theo lý thuyết của Phật giáo thì Ðức Thích Ca là vị sáng lập Ðạo Phật và chỉ vạch một con đường mà chính Ngài đã theo, một con đường có thể đem đến cho nhơn loại một lối giải thoát. Nhưng sự giải thoát của mỗi người hoàn toàn tùy thuộc vào người đó, Ðức Phật không giúp gì được trong công việc giải thoát của kẻ khác.

Sách Phật có chép một câu chuyện như sau đây: Một ngày nọ Ðức Phật Thích Ca chỉ mặt trăng mà bảo các đệ tử rằng: "Kìa là mặt trăng, các con cứ theo ngón tay ta chỉ mà nhìn thì thấy, nhưng nên nhớ rằng ngón tay ta không phải là mặt trăng. Cũng như những lời ta giảng về Ðạo, các con có thể theo lời ta giảng mà tìm thấy Ðạo, nhưng nên nhớ rằng lời giảng của ta không phải là Ðạo."

Hôm nay nhơn buổi Lễ Vía Ðức CHÍ TÔN, tôi có ý nhắc lại phận sự chung của người hành Ðạo là cố tâm thật hành lời giảng của Ðại Từ Phụ, gắng công trau giồi hạnh đức, rèn luyện tánh tình để được xứng đáng với lòng tin cậy của Ðại Từ Phụ và đáng mặt người hướng đạo của nhơn sanh trên đường giải khổ.

Nơi trường thi công quả, Ông Thầy đã tận tụy với chức vụ, đã cạn lời giảng dạy, nhưng học trò không có thiện chí làm theo thì Ông Thầy cũng phải buồn lòng chán nản, mà học trò dầu học bao nhiêu năm cũng chỉ là hoài công mà thôi.

Ðức Phật Mẫu có nói: "Ðời đã tàn, thuyền Ðạo sắp xa bến", chúng ta thấy cái hung bạo của đời vật chất cạnh tranh, thấy những con thiêu thân tự thiêu mình vì ham đáp theo ánh sáng, chúng ta nên xung xăng nhặc bước trên đường Ðạo Ðức, đừng bỏ mất thì giờ quí báu, đừng ngó ngoái lại cái bến mê mà chúng ta đã được may duyên xa lánh. Cứ an lòng giữ vững đời sống muối dưa thanh đạm, dưới bóng Từ Bi của Ðức CHÍ TÔN, lóng nghe hồi chuông cảnh tỉnh để lâng lâng giũ sạch bụi trần, ngày tháng công phu trau giồi tâm trí thế nào cho được thanh cao trong sạch.

Ðó là chúng ta đi trúng con đường để tự giải thoát và giải thoát cho nhơn sanh./.

THƯỢNG SANH

 


 

ÐIẾU VĂN

của ÐỨC THƯỢNG SANH đọc trước
Liên Ðài Ngài TIẾP PHÁP TRƯƠNG VĂN TRÀNG
Lúc 12 giờ trưa ngày 20 tháng Giêng năm Ất Tỵ (dl. 21/2/1965)

 

Kính Hội Thánh Cửu Trùng Ðài và Hội Thánh Phước Thiện Nam Nữ,
Kính Tỉnh Trưởng Tây Ninh và Chư Quý Quan Chức,
Kính toàn thể Chức Việc Ðạo Hữu lưỡng phái,
Kính Quý Ông, Quý Bà, thân bằng quyến thuộc,
Kính Tang quyến,

Trước Liên Ðài Ngài Tiếp Pháp Chơn Quân, thay mặt Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, tôi xin để mấy lời từ biệt một người bạn Ðạo đã cùng chúng tôi góp công xây dựng nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ trong khoản gần 40 năm trường.

Ngài Tiếp Pháp Chơn Quân qui liễu, một tin đau đớn bất ngờ, khiến cho toàn thể Chức Sắc và Ðạo hữu xa gần đều xúc động tiếc thương.

Thật vậy, vì mặc dù Ngài ngọa bịnh đã vài tháng trước đây, nhưng sau khi ra khỏi bịnh viện Sài Gòn, Ngài được Hội Thánh rước về dưỡng bịnh tại Hiệp Thiên Ðài. Trong những ngày đầu, thấy căn bịnh Ngài được nhiều thuyên giảm thì ai ai cũng có lòng mừng. Cũng tưởng nhờ sức Thiêng liêng ủng hộ, nhờ sự chăm sóc chu đáo của Hội Thánh, Ngài sẽ qua khỏi cơn nguy, sức khỏe lần hồi bình phục.

Nào hay mạng căn dĩ định, thiên số nan đào, Ngài trở bịnh không mấy ngày, bỗng chốc rời bỏ xác trần qui hồi Tiên cảnh.

Than ôi!

Một giấc thiên thu, ngàn năm vĩnh biệt, tiếng hơi lặng lẽ, hình bóng mờ xa, vó ký giục đường mây, giông đùa chia bóng nhạn.

Ðã hay sống ở thác về, đó là lẽ dĩ nhiên của khách phong trần nơi cõi thế.

Nhưng nền Ðạo đương hồi biến chuyển, bể khổ sóng chập chờn mà con thuyền tế độ lắm lúc ngửa nghiêng, đương thiếu tay chèo chống.

Sứ mạng của Ngài đã hoàn thành, Ngài đã dứt hết nỗi khổ đau, đã gạt hết bao nhiêu dòng lệ thảm, để rồi bỗng nhiên rời bỏ những bạn đồng hành và đàn em dại đang khao khát Ðạo mầu, nhờ tay dìu dắt.

Ðạo đã mất một tay rường cột, Hiệp Thiên Ðài phải mất thêm một bạn hiền lương đạo đức đã cùng chúng tôi chia vui sớt khổ trên những bước đường đen tối, chinh nghiêng của Ðạo.

Hồi nhớ lại những lúc cùng nhau hiệp mặt, Ngài thường than thở, tỏ ý bực tức, chỉ vì muốn rút hết ruột gan để phục vụ cho nền Ðạo, nhưng lại bị lối đố kỵ tài hiền, phải hứng chịu những lời cay đắng vô ân. Ðó là cái nguyên nhân làm cho Ngài âm thầm đau khổ.

Ðáng kính phục là, mặc dù bực tức, nhưng nghĩ lại thương nền Ðạo, thương bao nhiêu nhơn sanh còn chịu khổ nơi bể trần, Ngài cũng dần dần khuây lảng, để hết tâm trí, gắng công lo phận sự.

Ngài làm việc Ðạo khác hẳn hơn các bạn, vì Ngài thấy Ðạo thiếu người chung lo, nên Ngài muốn gồm hết một mình bao nhiêu nhiệm vụ, để rồi phải lao tâm tiêu tứ, chịu vất vả thân hình. Sức người có hạn định, sự tận tâm của Ngài có lẽ đã làm cho Ngài ngọa bịnh.

Lần chót hết, Ngài về tư gia tại Biên Hòa để dưỡng bịnh vào lúc cuối tháng mười Giáp Thìn (1964). Kể vài tuần sau, Chức Sắc Hội Thánh đến tận nơi mời Ngài về Tòa Thánh để nâng loan cho Ðức Lý Ðại Tiên phong thưởng Chức Sắc. Mặc dù Ngài chưa thật bình phục nhưng chẳng lẽ chối từ, Ngài phải chìu theo ý muốn của Hội Thánh, để cho bao nhiêu người khỏi nhọc lòng trông đợi.

Nào dè sức khỏe quá mỏng manh, Ngài về Tổ đình không mấy ngày, chưa kịp nâng loan phong Thánh thì bịnh cũ lại phát hiện, Ngài phải quay về tư gia, kế đó vào bệnh viện xin điều trị.

Than ôi! Ngài vào bệnh viện lần nầy là lần chót trong đời của Ngài.

Hôm nay, văn phòng Tiếp Pháp nơi Hiệp Thiên Ðài còn đó mà người chủ đã ngàn thu biệt dạng.

Mây bay hạc lánh, ngọc nát vàng chìm.

Chúng tôi không còn gặp Ngài được nữa, để cùng nhau thố lộ tâm tình, chia vui sớt nhọc.

Chẳng có lời nào xác đáng để tỏ hết nỗi tiếc thương của chúng tôi đối với một bạn đồng môn mà cả đời hành Ðạo chỉ biết tận tụy với nhiệm vụ. Không hay phô trương, không màng quyền lợi, sống trong cảnh chật vật với món tiền hưu bổng, Ngài Tiếp Pháp đã tượng trưng cho một tâm hồn cao siêu của nhà hiền triết. Tánh tình hòa nhã, lời nói khiêm cung, giàu chẳng bợ, khó chẳng khinh, thương kẻ bần hàn, giúp người cô quả. Suốt 30 năm lăn lóc trong quan trường, vì bản tánh thanh cao mà đến ngày hồi hưu Ngài chỉ còn lại hai bàn tay trắng với một chồng sách triết học và Ðạo lý mà Ngài vẫn thường dùng làm món ăn tinh thần trên bước đường hành Ðạo.

Nói đến công trình của Ngài đối với Ðạo thì Ngài chẳng khác chi thân tằm, cứ mãi rút ruột nhả tơ để trả ơn dâu đến ngày kiệt sức.

Nhập Ðạo vào đầu năm Bính Dần (1926) thọ phong Tiếp Pháp Hiệp Thiên Ðài cũng trong năm và mặc dầu còn vướng chơn trong vòng quan lại, Ngài đã lãnh lịnh nâng loan với Ông Khai Pháp, mỗi đêm lập Ðàn thâu phục tín đồ và dạy Ðạo trong nhiều tỉnh miền Ðông và các vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh.

Khi về Tòa Thánh đảm nhiệm phận sự chánh thức, dưới quyền của Ðức Hộ Pháp thì Ngài đã tỏ ra xứng đáng một tướng soái của Ðức CHÍ TÔN trong mọi phương diện. Ngoài nhiệm vụ đã được giao phó trong lúc rảnh rang thì Ngài cặm cuị, đem hết trí óc, não cân để sáng tác những sách Ðạo với mục đích là giúp cho Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu am hiểu rành rẽ giáo lý Ðại Ðạo và các Tôn giáo cõi Á Ðông.

Hỡi bạn Tiếp Pháp! Trong đời người chỉ có cuộc tử biệt là đau đớn nhứt. Nhưng về mặt Ðạo, chúng tôi nén lòng đau xót và mầng cho bạn ngày nay đã lánh vòng trần khổ, được trở về với Ðức CHÍ TÔN, Ðại Từ Phụ, sứ mạng hoàn thành công viên quả mãn.

Toàn Ðạo đã đặng thừa hưởng cái công nghiệp phi thường của bạn, vì tên tuổi bạn vẫn còn mãi trên những quyển sách, lưu lại nghìn đời cho đàn em trong cửa Ðạo. Rồi đây nhờ nơi huyền diệu cơ bút, chúng tôi có thể gặp lại bạn trong lời nói câu văn, để thố lộ tâm tình cũng như lúc trước, thế thì đối với bạn, sự mất như còn, chết mà vẫn sống.

Thật vậy, bạn vẫn sống mãi trong lòng của chúng tôi, và mỗi khi nhắc đến gương đạo đức, khiêm cung, từ tâm, bác ái thì dường như chúng tôi còn thấy bạn sờ sờ trước mắt.

Thôi! Chúng tôi xin từ giã bạn lần cuối cùng.

Trên chốn động biếc ngàn mây, nơi cõi hư linh hằng sống, chúng tôi thành tâm cầu nguyện bạn được tiêu diêu tự toại, hưởng hồng ân huệ của Ðức CHÍ TÔN. Và xin bạn hiển linh hộ trì Hội Thánh để chóng đem lại thanh bình cho nền Ðại Ðạo./.

CAO THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN TỪ

của Ðức THƯỢNG SANH nhân dịp
LỄ BẾ MẠC ÐẠI HỘI NHƠN SANH
Ngày 24 tháng 5 Ðinh Mùi (dl. 1/7/1967) tại TÒA THÁNH

 

Kính Hội Thánh Lưỡng Ðài HIỆP THIÊN và CỬU TRÙNG,
Kính Hội Thánh PHƯỚC THIỆN,
Kính Chư chức Sắc, Chức Việc Lưỡng Phái,
Kính Chư Nghị Viên và Phái Viên Nam, Nữ Hội Nhơn Sanh Ðinh Mùi,

Ðã hơn tháng nay Ðại Hội Nhơn Sanh nhóm họp để gom góp ý kiến và nguyện vọng của đại diện toàn Ðạo khắp nơi hầu giải quyết những vấn đề quan trọng do chương trình của Hội Thánh thành lập.

Nhờ Ðức CHÍ TÔN ban ơn nên từ ngày khai mạc cho đến nay Ðại Hội Nhơn Sanh đã làm việc trong không khí điều hòa êm ấm. Chức Sắc, Chức Việc, Phái Viên và Nghị Viên cùng một chí hướng xây dựng đã thông cảm nhau, đồng lấy công tâm tìm phương vun đấp nền Chánh Giáo.

Trong một vài buổi Hội, cũng có khi nóng lòng ưu tư cho Ðại Nghiệp chung mà có sự gay cấn sôi nổi trong sự thảo luận, nhưng chừng được lời giải thích rành mạch của Ban Chủ Tọa, bầu không khí, trở lại êm dịu không còn điều chi thắc mắc nữa.

Dù sao, Ðại Hội Nhơn Sanh cũng đem ít nhiều thoả mãn cho toàn Ðạo và đại diện nhơn sanh đã tỏ ra sốt sắng và đã làm tròn phận sự.

Toàn thể Ðại Hội, từ vị Chủ Tọa, Phó Chủ Tọa, Chư vị Chánh Phối Sư cho đến chư Nghị Viên, Phái Viên Nam Nữ đã hiệp nhau dâng lên cho Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU một lễ quí báu vô giá.

Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài lấy làm vui lòng được thấy Ðại Hội Nhơn Sanh thu thập kết quả mỹ mãn.

Thật vậy, trong cửa Ðạo có chi quí cho bằng tình thân ái và sự điều hòa. Ðức CHÍ TÔN lập Ðạo cốt yếu là đem tình thương vô lượng chan rưới cho nhân loại, làm cho nhơn loại nhìn nhau cùng một nguồn cội Thiêng Liêng để cùng nhau hòa hợp trong tình huynh đệ Ðại Ðồng hầu tạo hòa bình cho thế giới.

Thành thử tình thương rất cần thiết cho tâm hồn người Tu sĩ cũng như cơm gạo cần thiết cho mảnh xác thân và nếu thiếu hẳn nó đi thì dầu Ðạo có được số Tín đồ đông đến mức nào, người Ðạo cũng vẫn bị lẻ loi côi quạnh và cơ phổ độ cũng không còn bổ ích chi cho nhơn quần xã hội nữa.

Vì vậy sự thương yêu là nguồn hạnh phúc của người Tu sĩ và nhờ có thương yêu lẫn nhau, chúng ta mới có thể nương dựa nhau, đùm bọc lấy nhau mà lần bước trên đường phục vụ đại chúng.

Nơi trường đời người ta tranh giành nhau từ miếng ăn từ manh áo. Hơn nhau một lời nói là có sanh ra ấu ó tưng bừng, có khi đi đến kết cuộc thảm khốc. Thậm chí ở trong vòng thân tộc cùng chung huyết thống, người đời cũng không tránh khỏi lâm vào cảnh cốt nhục tương tàn chỉ vì phân tranh quyền lợi.

Lòng tham không bờ bến và tánh ích kỷ cực độ làm cho con người trở nên tàn ác, muốn cho cái gì cũng về phần mình còn ai...thì mặc kệ!

Trong cửa Ðạo, người tự nguyện hiến thân cho Ðức CHÍ TÔN tức nhiên phải khép mình vào khuôn khổ, không còn được hành động theo ý muốn cá nhơn nữa. Mỗi việc chi phải hợp theo lẽ Ðạo và có ích lợi cho nhơn sanh thì mới được thực hành. Thế thì còn chi mà tranh đua, còn chi mà giành giựt?

Tuy phải chịu thiệt thòi về mặt vật chất, phải khép mình vào khuôn luật để giồi trau hạnh đức, nung đúc tánh tình, nhưng người tu hành được có cái tinh thần thơ thới, lương tâm yên tịnh và điều chắc chắn hơn hết là được tránh xa luồng giông tố đang lôi cuốn khách trần vào chốn bùn lầy sa đọa, phải chịu tiêu diệt cả thể xác lẫn linh hồn.

Than ôi! Vì ham ánh sáng của ngọn lửa hồng, mà những con thiêu thân phải đem mình chịu chết!

Con người vì mồi danh bả lợi, vì miếng đỉnh chung, vì cảnh xa hoa phù phiếm mà lắm lúc phải đem thân vùi dập dưới vực thẳm ao tù. Ðến lúc hối hận, tỉnh giấc mộng trần thì ôi thôi quá muộn!

May duyên được che chở dưới bóng mát thương yêu của Ðại Từ Phụ, chúng ta được sống một đời thanh đạm an vui thoát vòng cương tỏa, đem thân giúp ích cho Ðạo cho Ðời, cùng bạn đồng thuyền nâng đỡ nhau trong khung cảnh điều hòa êm ấm, chính đó là một chân hạnh phúc mà thế nhân mấy ai rõ thấu?

Ðời sống như vậy mới gọi là đời sống có ý nghĩa, một đời sống đáng sống, vì ít ra kiếp sanh của ta cũng phải là một kiếp sanh hữu dụng chẳng phải như những kẻ chỉ biết có thân mình, cứ xẩn bẩn ở xó nhà, lo việc ích kỷ bổn nhơn để rồi, một ngày kia, chết mòn trong chỗ tối tăm, không ai màng biết đến, đúng theo hai câu thi cuả Ông Cử Phan Văn Trị:

  Hổ sanh cái phận trong trời đất,
Có có không không cũng chẳng cầu.

Sanh đứng làm người nơi cõi thế, mỗi cá nhân phải có nhiều bổn phận đối với nhơn quần xã hội, đối với đất nước quê hương chớ chẳng phải chỉ lo cho gia đình mình là đủ. Chúng ta chẳng nên quan niệm rằng hể có đồng tiền tung ra để mua những thức cần dùng cho kiếp sống là chúng ta đã xử xong ân nghĩa đối với đời.

Ta đã hưởng hột cơm, manh áo cùng trăm món vật liệu để cho đời sống ta có đủ tiện nghi, không thiếu thốn. Thử hỏi nếu bác nông phu, người thợ dệt vải, kẻ trồng rẩy, nhà kỹnghệ, giới thợ thuyền đều ngưng hẳn hoạt động thì đồng tiền của ta còn có ích gì cho ta nữa không, và đời sống của ta sẽ ra thế nào?

Thành thử cơm ăn, áo mặc, nhà ở cùng ngọn rau tấc đất là món nợ của con người. Chúng ta phải trả lại cho đời bằng một công cán gì, một phát minh gì để chứng rằng chúng ta cũng có góp phần hữu ích giúp lại cho xã hội, chớ chẳng phải là hạng vô dụng.

Loại thảo mộc cũng thế: Sanh ra như cây bá cây tùng, những cây danh mộc, hoặc kỳ hoa dị thảo mới thật có ích trên thế gian, dù ở chốn non cao rừng thẳm cũng có kẻ lặn lội đi tìm, chớ giống cỏ chạ lan mọc bên đường, ví có bị bước tục vầy bừa cũng không ai màng ngó tới.

Là người trong cửa Ðạo, chúng ta dù là Chức Sắc hay Tín đồ, mỗi người đều có bổn phận Thiêng Liêng đối với quần sanh chủng tộc.

Tìm đựơc mối Ðạo mầu tức là chúng ta đã nắm vào tay một báu vật vô giá. Cái báu vật đó không hề mất được vì nó vô hình vô ảnh và chúng ta có thể chia nó ra làm muôn ngàn phần mà không hề sứt mẻ. Ta lại có bổn phận đem nó trao lại cho tất cả mọi người để cho họ có món báu cũng như ta vậy.

Ðem Ðạo đến cho người đời tức là chúng ta đưa họ từ chỗ tối ra chỗ sáng, từ chỗ hư ra chỗ nên, từ chỗ thấp hèn ra chỗ cao quí. Cái công đó là công nghiệp tuyệt đối không có gì sánh được.

Về mặt Thiêng Liêng chúng ta lại được hưởng phần thưởng xứng đáng do Ðức CHÍ TÔN ân tứ ngày trở về phục lịnh.

Thế thì cái nhiệm vụ của người Ðạo quí trọng biết bao nhiêu, dù là phải lao tâm tiêu tứ, khổ hạnh vùi thân, Hội Thánh ước mong cho toàn thể con cái Ðức CHÍ TÔN đều gắng công tiến bước trên đường Thánh đức hầu đưa tay đánh thức khách trần ai tỉnh lần mộng điệp.

Cơ hội ngàn năm một thuở, ví như Ðấng CHÍ TÔN không khai mối Ðạo Trời, cái đà sống của mỗi người chúng ta trong thời loạn là cần cù mưa nắng vì manh áo bát cơm, nay di cư chỗ nầy, mai đổi dời chỗ khác, phải chịu cảnh lầu Tần quán Sở, cay đắng trăm bề, trong lúc loạn ly thì vàng thau chung chạ, ngọc đá bất phân, ngoài ra còn bận bịu gánh thê nhi, não nề tình ấm lạnh, rồi đến khi Thiên số nan đào, thân cát bụi không còn để lại một dấu vết chi cho người đời nhắc nhỡ.

Trở lại vấn đề hiện tại, Ðại Hội Nhơn Sanh kỳ nầy đã làm cho toàn Ðạo thỏa mãn, Hội Thánh hài lòng, nhơn sanh phỉ dạ, trên hoà dưới thuận, trong ấm ngoài êm.

Phải chăng Ðức CHÍ TÔN đã chan rưới giọt hồng ân để cho anh lớn em nhỏ trong Ðạo cùng nhau khắn khít trong niềm hòa ái tương thân hầu đem lại cho đời khổ hạnh của chúng ta phần nào an vui và khích lệ trên đường phục vụ nhơn loại.

Thâu thập được kết quả mỹ mãn, Hội Thánh không quên công khó nhọc của Chức Sắc, Chức Việc, Phái viên và Nghị viên Nam, Nữ từ nơi phương trời xa thẳm, không quản hành trình cực nhọc, hăng hái trở về Tổ Ðình để góp sức chung lo việc Ðạo theo lời kêu gọi của Hội Thánh.

Nhiều vị phải tốn kém tiền nhà, trong lúc cuộc sanh hoạt hằng ngày trở nên khó khăn chật vật.

Ngoài ra phải chịu xa gia đình một thời gian bất thường lo việc công phế việc tư, cố gắng làm tròn phận sự do quyền Ðạo địa phương giao phó.

Ðó là một hy sinh cao quí, nếu không có sẳn tấm lòng tha thiết hoài bão chủ nghĩa thương đời thì chưa chắc là ai cũng làm được.

Thưa quý vị,

Rồi đây quý vị phải lo thu xếp trở về nơi địa phương Hội Thánh xin để lời thành thật cám ơn và chúc quý vị hành trình yên ổn cùng mọi việc được may mắn.

Hội Thánh cũng cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU ban ơn lành cho toàn thể quý vị.

Hẹn cùng nhau hội hiệp trong ngày tái ngộ, Hội thánh chỉ ước mong quý vị vững bước trên đường tu tập, giồi trau đức tính hầu trở nên những Chức Sắc ưu tú trong cửa ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ.

Ðến đây tôi xin long trọng tuyên bố bế mạc Hội Nhơn Sanh năm Ðinh Mùi.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ÐÀI

 


 

HUẤN TỪ

Nhơn bữa tiệc ủy lạo CHỨC SẮC
TRUNG ƯƠNG và ÐỊA PHƯƠNG tại GIẢNG ÐƯỜNG
Ngày 22-8-MẬU THÂN (dl. 13/10/1968)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính quý Quan Khách,
Kính Chức Sắc, Chức Việc và Ðạo Hữu Nam Nữ,

Cũng như thường lệ gần đến Rằm Trung Thu thì toàn thể Chức Sắc nơi địa phương tựu về Tổ Ðình hiệp với Hội Thánh để cúng Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung. Ðây là cuộc lễ độc nhất trong năm mà các con cái Nam Nữ trong Ðại Gia Ðình chung nhau, dưng lên Ðức Mẹ Thiêng Liêng lòng chơn thành kính mến.

Năm nay thì thời cuộc bất an ninh, khói lửa lan tràn khắp nơi từ đầu năm Mậu Thân, vùng ngoại ô Thánh Ðịa cũng phải hứng chịu cảnh đau thương tang tóc nên cuộc lễ phải cử hành hết sức đơn giản hầu đỡ phần tốn kém cho nhơn sanh.

Tuy nhiên, về phần tinh thần thì cuộc lễ không kém phần long trọng. Mặc dù giờ giới nghiêm được áp dụng nhưng số Tín Hữu nôn nóng dự buổi lễ, đã tề tựu tấp nập nơi vùng Nội ô không kém gì mấy năm trước. Ngoài ra, Thủ Tướng Chánh Phủ cũng có cho vị Tổng Trưởng Bộ Chiêu Hồi đại diện đến dự lễ với một Phái đoàn tùy tùng.

Ðó là phần đặc biệt của cuộc lễ Hội Yến năm Mậu Thân.

Trong tình trạng khó khăn mà cuộc lễ được kết thúc trong sự êm ấm điều hòa và trong niềm vui vẻ của tất cả Chức Sắc và Ðạo Hữu, Hội Thánh lấy làm mãn nguyện.

Sự thành công nầy đã nêu cao tinh thần đoàn kết giữa Hội Thánh và Chức Sắc cũng như Ðạo hữu, Hội Thánh có quan niệm là Ðức PHẬT MẪU đã chứng lòng thành của tất cả con cái của Người và đã ban ơn huệ cho chúng ta vậy.

Hôm nay Hội Thánh tổ chức bữa tiệc thân mật nầy để ủy lạo toàn thể Chức Sắc Cửu Viện và ở Ðịa phương cùng nhơn viên công quả trong các cơ quan Ðạo. Nhơn dịp nầy Hội Thánh cũng tỏ tình thân mến đối với những bạn cùng chung hội đồng thuyền, cùng chung một chí hướng vị tha, đã từng cùng nhau chia vui sớt nhọc trong những lúc thăng trầm của nền Ðạo, không nao lòng nản chí, trước nhiều cơn thử thách gay go.

Vì vậy mà thì giờ vui hay buồn cứ trôi qua, nhưng tình yêu thương vô tận giữa bạn đồng hành vẫn tồn tại bất di bất dịch.

Sau bao nhiêu ngày xa cách, sau bao nhiêu cuộc biến loạn thảm khốc của chiến tranh mà mỗi người đều nôn nóng biết rõ tin tức kẻ ở phương xa, cuộc hội họp nồng đượm vẻ thân ái nầy là một nguồn an ủi quí báu của chúng ta.

Cuộc hội diện tuy ngắn ngủi, nhưng cõi lòng của người nặng gánh nhiệm vụ nơi chốn xa xăm cũng được sưởi ấm phần nào để trụ vững khối can đảm trong khi trở lại dặm đường lữ thứ.

Rồi đây Chức Sắc nơi Ðịa phương, các Khâm Trấn, Khâm Châu, Ðầu Tộc phải lên đường trở về với nhiệm vụ. Càng nghĩ nỗi khó khăn gay cấn mà Hội Thánh phải gánh chịu nơi Trung ương trong giai đoạn hiện tại, Hội Thánh càng thông cảm nỗi lo âu ngần ngại của quý vị nơi chốn xa xôi trong khi thi hành phận sự. Nhưng đã chịu mạng lịnh Thiêng liêng, đã hiến mình cho Ðức CHÍ TÔN để cầm ngọn Ðuốc quang minh soi đường cho nhơn loại đêm tăm tối thì dù trải qua bao nhiêu gian lao cực khổ chúng ta cũng phải vui lòng không nên thối thác.

Ðời là biển khổ, chúng ta nếu không gặp Ðạo thì cũng ở trong số người đương bị đẩy đưa giữa lượn sóng khổ. May duyên được Ðức CHÍ TÔN đưa đường dẫn lối, chúng ta đã nắm trong tay phương pháp nhiệm mầu để thoát khổ, thì sự khổ đau vì chúng sanh, vì Ðạo, chính là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh để bước vào cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Người Chức Sắc trong Thánh Thể Ðức CHÍ TÔN không phép sống ích kỷ mà phải sống cho mọi người, sống để thay Trời đem tình thương vô tận chan rưới cho nhân loại.

Ðời càng biến loạn, nhiệm vụ người hành Ðạo càng nặng nhọc. Phải vững chí tu thân, lập công bồi đức, dìu dắt kẻ lạc lầm, đỡ nâng người cô quả. Phải dám hy sinh, dám quên mình, dám chịu thiệt thòi thì hột Thánh cốc mới được gieo rải khắp cùng, sứ mạng Ðạo cứu đời mới trọn vẹn.

Ðược như vậy, tác phong của người Chức Sắc Cao Ðài mới vượt lên đến mức siêu nhiên và mới hẳn thật là tác phong của bậc Thánh nhơn tại thế vậy.

Ngọn lửa chiến tranh thảm khốc đã bao trùm khắp đất nước, đã lan tràn từ thành thị đến thôn quê gây nên cảnh chết chóc tang thương, nhà tan nghiệp nát.

Nạn nhơn sống sót phải chịu vất vả điêu linh, màn trời chiếu đất, lại còn phải bâng khuâng lo sợ không biết số phận mình ngày mai sẽ ra thế nào?

Một số Tín hữu trong Ðạo cũng chung chịu định mạng khắc khe của con người của thời kỳ ly loạn.

Than ôi! Cuộc dâu bể vẫn không lường, sự mất còn đâu biết trước, đời người qua thắm thoát như bọt nước giữa dòng sông, ngọn đèn xao dưới gió thì trong cửa Ðạo, dù ở hoàn cảnh nào, chúng ta phải cố tin nơi sự che chở Thiêng liêng và hơn lúc nào hết, phải giữ trọn nghĩa nhân Ðạo Ðức bền lòng thiện niệm để cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN cho tai qua nạn khỏi.

Quý vị cũng thấy rõ là ách nước nạn dân do Thiên điều chế ngự, kẻ bạo tàn phải bị diệt vong, người chơn chánh được hưởng ân huệ.

Thế mà người đời chưa thức tỉnh, vẫn còn say mê trong giấc mộng kim tiền, cũng hung hăng bạo ngược, cũng gian xảo trăm bề, cũng chước quỉ hại nhơn, tham vàng bỏ nghĩa. Có kẻ làm giàu trên xương máu của đồng bào, có kẻ mượn Ðạo tạo đời tư, cậy quyền toan hiếp chúng.

Chính mình đã dời tai họa đến cho mình mà chừng tai họa đến lại than van số phận, trách đất hờn Trời.

Chúng ta không nên có ác cảm với những kẻ ấy. Ðành rằng họ gieo nhân nào thì gặt quả nấy, họ phải chịu hậu quả của việc đã làm, nhưng là người có sứ mạng đem sự khoan hồng Thiêng liêng đến cho nhân loại, chúng ta phải thương hại xót xa giùm tội lỗi của họ. Phải lựa dịp để cảm hóa, thức tỉnh họ, đưa đường dẫn lối cho họ trở về với Thiên lương Ðạo Ðức.

Cứu được những linh hồn như vậy là một công nghiệp phi thường, khả dĩ nâng cao thinh danh của Ðạo đúng theo câu "Nhơn năng hoằng Ðạo" của Ðức Khổng Phu Tử.

Trong bữa tiệc thân mật hôm nay, những lời tôi tỏ bày với quý bạn Ðạo, là những lời tâm huyết chơn thành, những ý kiến xây dựng cố ý trấn an tinh thần của quý vị nhứt là Chức Sắc nơi Ðịa phương khi trở về với trách nhiệm.

Tình đời dù quá khắt khe, biến cuộc dù quá kinh khủng, nhưng chi chi cũng không qua được quyền năng vô đối của Ðấng CHÍ TÔN ÐẠI TỪ PHỤ.

Ðã mang nơi mình cái sứ mạng Thiêng liêng, quý vị nên an lòng vững chí mà bước tới phải luôn luôn tin tưởng nơi ÐẠI TỪ PHỤ, cầu nguyện với tấm lòng trong sạch và một đức tin kiên cố thì trong mọi việc quý vị sẽ được mãn nguyện, trừ phi quý vị có làm điều tội lỗi thì phải sám hối ăn năn tự nguyện cải hóa, với một tấm chơn thành quý vị sẽ được tha thứ.

Trước khi quý Khâm Trấn, Khâm Châu và Ðầu Tộc lên đường tôi xin để lời khuyên nhủ gồm trong ba điểm:

1. Dụng bác ái để xử kỷ tiếp vật:

Ðức CHÍ TÔN có dạy rằng: Ðức Ngài là Cha của sự yêu thương và bởi thương mới lập Ðạo cứu đời, đem 92 ức nguyên nhân trở về nguyên bổn. Sản xuất nơi sự thương yêu, Chức Sắc phải dụng lòng thương vô tận mà độ rỗi nhơn loại.

Dưới tiềm lực yêu thương, những gì đắng cay đều biến thành dịu ngọt, những sự đau khổ sẽ biến thể thành nguồn lạc hoan.

2. Nên giữ lời minh thệ tận trung với Ðạo:

Có câu phương ngôn: "Nhà nghèo biết con thảo, nước loạn rõ tôi trung".

Ðạo đã bao phen chịu thiệt thòi, chịu hiếp đáp, nhưng nhờ lòng trung thành của con cái Ðức CHÍ TÔN mà qua nhiều cơn giông tố rồi cũng đứng sựng và nêu cao ngọn cờ cứu khổ.

Quý vị đã thọ lãnh sứ mạng Thể Thiên Hành Hóa thì mỗi việc làm của Quý vị đều có Thánh Thần chứng kiến sự tận trung với Ðạo sẽ đem đến cho quý vị một phần thưởng Thiêng Liêng xứng đáng. Nếu vì một lẽ nào mà quý vị "bán đồ nhi phế" hoặc chịu làm dụng cụ cho kẻ khác phá Ðạo, tức là quý vị sẽ thất thệ và sự thất thệ là một trọng tội vô phương cứu chửa "hoạch tội ư thiên vô khả đảo giã".

3. Phải tận tâm với nhiệm vụ:

Dù nội Trung ương hay là ở các Ðịa phương một Chức Sắc thọ lãnh nhiệm vụ do Hội Thánh giao phó, đó là một dịp thuận tiện để cho mình đem công lập vị. Nền Ðạo được bành trướng vẻ vang, cơ phổ độ được nhiều thắng lợi, là nhờ nơi sự cố gắng và tinh thần phục vụ của toàn thể Chức Sắc.

Cơ quan Hành Chánh Ðạo ví như một động cơ, các bộ phận phải hoạt động đồng đều thì động cơ mới vận chuyển suông sẻ, nếu một bộ phận bị hỏng, tức nhiên động cơ phải ngưng hẳn, không vận chuyển được.

Về việc Ðạo, nếu một Chức Sắc vì một lẽ nào bỏ bê phận sự làm cho hỏng hết công việc dưới quyền điều khiển của mình thì sự thất bại đó, chẳng những làm hư hại nghiệp Ðạo mà còn làm tổn thương cho thinh danh nền Ðạo.

Dầu kẻ phạm tội dụng khôn lanh ngụy biện để khỏi tội hữu hình, nhưng không tránh được hình phạt Thiêng Liêng.

Thưa quý vị! Tôi ước mong những lời khuyên nhủ trên đây có thể giúp ích cho quý vị phần nào trong việc thi hành phận sự.

Trước khi dứt lời tôi cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU ban ơn cho toàn thể Chức Sắc, Chức Việc và Ðạo Hữu lưỡng phái.

Nay kính

TÒA THÁNH TÂY NINH, Ngày 22-8-Mậu Thân
(dl.13/10/1968)
THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ÐÀI

Sao y bản chánh

TÒA THÁNH, Ngày 24 tháng 8 Mậu Thân
(dl. 15/10/1968)

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ
NGỌC NHƯỢN THANH

Ký tên và đóng dấu

 

 


 

HUẤN TỪ

của ÐỨC THƯỢNG SANH
Nhân lễ khánh thành HỌC ÐƯỜNG BỘ NHẠC TRUNG ƯƠNG

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Hội Thánh Phước Thiện,
Kính Ðại Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh,
Kính Quý Quan Khách,
Kính Quý Chức sắc và Ðạo hữu Nam Nữ,

Hôm nay tôi lấy làm hân hạnh đến Chủ Tọa buổi lễ Khánh thành ngôi Học đường của Bộ Nhạc Trung Ương.

Nghĩ đến công cuộc kiến tạo mà Bộ Nhạc Trung Ương phải tự túc để hoàn thành, tôi ý thức đến nỗi khó khăn cũng như sự nổ lực của toàn thể Chức sắc Bộ Nhạc đã đồng tâm nhứt trí mới đi đến thành công mỹ mãn.

Nhơn danh Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, tôi xin để lời khen ngợi vị Chưởng Quản Bộ Nhạc Trung Ương và tất cả Chức sắc Bộ Nhạc.

Ðáng lẽ Hội Thánh Cửu Trùng Ðài và Hội Thánh Phước Thiện phải chia nhau đài thọ số phí tổn kiến tạo cơ sở cần thiết cho Bộ Nhạc, vì Nhạc và Lễ là hai môn phục vụ cho Ðạo, chung cả Hành Chánh và Phước Thiện.

Ở trong tình trạng phải tự túc, Chức sắc Bộ Nhạc cam lòng hy sinh đa thiểu tùy theo sức mình, ngoài ra còn nhờ sự đóng góp của các nhà hảo tâm trong Ðạo, cuộc kiến thiết mới được hoàn tất như chúng ta đã thấy.

Cho hay "Hữu chí cánh thành", sở nguyện và cương quyết của Chư Chức sắc Bộ Nhạc đã nung đúc thành khối kiên tâm cứng rắn thì dù khó khăn bao nhiêu cũng có thể san bằng để đi tới chỗ cứu cánh. Vì đó Nho học có câu: "Thế thượng vô nan sự, nhơn tâm tự bất kiên" có nghĩa trên đời không có việc nào khó, chỉ tại người không bền lòng.

Học đường của Bộ Nhạc đã hoàn thành đó là một công quả đáng ghi của Chức sắc Bộ Nhạc.

Giờ đây vị Chưởng Quản và Chức sắc Bộ Nhạc phải gắng công đào luyện đàn em cho thành tài, đồng thời trau luyện Nghệ Thuật mình cho đến chỗ tận thiện, tận mỹ, trước để phụng sự nền Ðạo sau để nâng cao phẩm giá của Âm nhạc là môn học rất trọng yếu của Khổng Giáo.

Khi mới khai sáng nền Ðạo, Ðức CHÍ TÔN rất chú trọng đến Nhạc và Lễ, vì cái hay của Lễ là giữ trật tự bên ngoài cái hay của Nhạc là tạo sự điều hòa để kềm chế tâm tình bên trong cho khỏi vọng niệm. Lễ và Nhạc cùng họp nhau và nếu giữ đúng nề nếp thì đàn cúng mới nghiêm chỉnh, được bao trùm một bầu không khí huyền diệu, Thiêng liêng khiến cho chúng ta cảm tưởng là có Ðức CHÍ TÔN và Chư Tiên Phật giáng ngự để ban ơn cho toàn Ðạo.

Trái lại nếu Lễ không nghiêm, Nhạc không hòa thì đàn cúng có cái trạng thái hỗn loạn khiến cho người đến Lễ bái có một tâm trạng xao xuyến, tinh thần bất định. Ðó là một sự thất Lễ đối với các Ðấng Thiêng liêng và như vậy Ðức CHÍ TÔN không khi nào giáng Ðàn, tà quái có thể thừa dịp xung nhập gây nên điều rắc rối.

Trong nhiều Ðàn cúng lúc ban sơ, Chức sắc thường bị Ðức Chí TÔN giáng cơ quở trách vì Ðàn không nghiêm, Lễ Nhạc còn khuyết điểm.

Trong năm Ất Tỵ (1965) Ðức Hộ Pháp cũng có giáng cơ tại Ðền Thánh dạy Chức sắc Bộ Nhạc nên trau luyện Nhạc điệu vì Nghệ thuật còn kém. Sự kém cỏi đó, có lẽ một phần Nhạc sĩ thiếu tập dượt, hoặc có thụ huấn mà chưa nhuần nhã. Tôi ước mong mỗi Chức sắc Bộ Nhạc nên lưu tâm để tự mình trau luyện cho đúng mức độ Nghệ Thuật.

Thưởng thức một bài đờn hay như nghe một bài thi sắc sảo, một câu đờn tao nhã có điêu luyện như một câu thi tuyệt bút có mãnh lực gợi cảm làm cho xúc động tâm hồn.

Vì vậy thời xưa các Ðấng Ðế Vương dùng Nhạc để cảm hóa lòng người trong Ðạo trị dân, Vì Nhạc có thể khiến dân trở nên thuần hậu và có thể di phong dịch tục.

Nhạc là món ăn tinh thần đứng đầu trong bốn thú phong lưu của Thánh hiền thời xưa là Cầm, Kỳ, Thi, Họa và các bậc Thánh hiền đã dùng Nhạc để đạt đến lý tưởng cao siêu, giúp ích cho sự kinh bang tế thế, xây dựng nước nhà.

Vì Nhạc có cái thế lực quan trọng như vậy nên Ðức Khổng Tử soạn ra bộ Kinh Nhạc và cho đứng vào hàng Ngũ kinh là Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc. Về sau Ngài làm ra bộ sách Xuân Thu, nhập với năm bộ sách trước gọi là Lục Kinh.

Sau khi Ðức Khổng Tử mất, kế nhà Tần có việc đốt sách thì những Kinh ấy bị thiêu hủy hoặc thất lạc ít nhiều.

Nhứt là Kinh Nhạc thì mất gần hết, chỉ còn lại có một thiên, sau đem nhập vào Bộ Lễ Ký đặt tên là Thiên Nhạc Ký. Thành thử trong sáu bộ kinh chỉ còn lại có Ngũ Kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

Tính của Ðức Khổng Tử hay ưa thích đàn và hát. Lúc Ngài ở nước Tề ham học Nhạc thiều, trong ba tháng say mê cho đến đổi ăn không biết mùi vị.

Ngài nói: Ta chẳng ngờ Học Nhạc vui đến được như thế (Bất đồ vi Nhạc chi chí ư tư giả).

Khi Ngài châu lưu khắp thiên hạ thì bên mình không khi nào rời cây đàn Ngũ Huyền Cầm.

Quan niệm của Ngài là tiếng đàn thanh nhã có thể nâng cao tinh thần và trụ vững tâm trí siêu nhân của người Quân tử. Lúc Ngài bị vây giữa khoản nước Tần và Sái, bảy ngày không nấu ăn, chỉ ăn rau luộc suông, các Ðệ tử như Tử Lộ, Nhan Hồi, Tử Cống v.v... đều băn khoăn lo sợ cho Ngài, nhưng Ngài vẫn ung dung ngồi đàn hát.

Chúng ta thấy rõ Thánh nhơn trọng dụng Âm nhạc như vậy vì Âm Nhạc là một bộ môn văn hóa cao đến tuyệt độ và Nhạc Thiều có cái mãnh lực huyền bí, cao siêu giúp dân trị nước, cải hoán xã hội.

Du Bá Nha đập nát Diêu Cầm thề không đờn nữa, người bạn tri âm là Chung Tử Kỳ đã mất thì không ai còn biết nghe tiếng đờn của mình.

Khổng Minh Gia Cát mượn tiếng đờn mà lui giặc Tư Mã Ý.

Trương Tử Phòng nhờ có giọng Tiêu ai oán mà trong một đêm giải tán tám ngàn đệ tử của Sở Bá Vương tại Cửu Lý San để cho Lưu Bang diệt được kẻ thù chung của thiên hạ, lập nên cơ nghiệp nhà Hớn hơn bốn trăm năm.

Công dụng của Nhạc Thiều thời xưa thì cao thượng như vậy. Ngày nay người ta dùng Âm Nhạc làm công cụ cho chủ nghĩa con buôn trên sân khấu, khiến nên nhà nhạc sĩ vì kế sinh nhai phải bán rẻ tài nghệ làm cho cái giá trị của Quốc nhạc phải bị hạ thấp đến cực điểm.

Trong cửa Ðại Ðạo, chúng ta phải nâng đỡ ngành Âm Nhạc, phải bảo tồn Âm Ðiệu cổ truyền để lưu lại cho Ðất Nước tinh hoa của một Nghệ Thuật thuần túy, mặc dù cái tinh hoa ấy nay chỉ còn phưởng phất chút dư hương do sự phế cựu hoán tân của giới Nhạc Sĩ trong nước.

Ði ngược lại với trào lưu thoái bộ đó, chúng ta không nên coi thường môn Âm Nhạc và phải cố tâm gìn giữ cái chơn giá trị của nó.

Dù Nhạc Lễ hay Nhạc Ðiệu Tài tử cổ truyền, mỗi môn đều có cái hay riêng đặc biệt. Nếu học Nhạc dù là môn nào, phải cố gắng học đến chỗ cùng cực uyên thâm, năng luyện tập trau giồi để càng ngày càng thêm tiến triển mới đáng gọi là biết yêu Nghệ thuật. Từ đây Bộ Nhạc Trung Ương đã có ngôi Học Ðường làm nơi đào tạo nhơn tài, Chức Sắc đàn Anh trong Bộ

Nhạc phải ra công dìu dắt các Nhạc Sĩ thế nào cho khỏi mang tiếng là "Hữu danh vô thực".

Với sự mong ước nói trên, tôi xin cầu chúc Vị Chưởng Quản và Chức Sắc Bộ Nhạc thành công mỹ mãn để phục vụ cho Nghệ Thuật và cho nền Ðại Ðạo.

NAY KÍNH

TÒA THÁNH, Ngày 25 tháng 10 năm Mậu Thân
(dl. 14/12/1968)
CAO THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN TỪ

ÐỨC THƯỢNG-SANH đọc trong buổi lễ Khánh thành
Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý (Ngày 16/1/Kỷ Dậu, dl. 4/3/1969)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Ngài Tổng Trưởng Thông Tin và Chiêu Hồi,
Kính Ðại Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh,
Kính Quý Quan Khách,
Kính Chức sắc và Ðạo hữu Nam Nữ,

Ðến chủ tọa buổi lễ Khánh Thành hôm nay, tôi không dấu được niềm hân hoan khi chứng kiến một công trình xây dựng đồ sộ được thực hiện để dùng làm văn phòng cho Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý Ðại Ðạo. Cơ Quan nầy thành lập từ đầu tháng 5 năm Ðinh Mùi (1967).

Lúc ban sơ Cơ quan phải tạm mượn vài căn phòng Hiệp Thiên Ðài làm nơi thu thanh và tập dượt văn nghệ, vì chỗ chật hẹp thiếu tiện nghi nên công việc của Cơ quan không thể phát triển theo ý muốn, nhờ sự tận tâm hoạt động của Ngài Khai Ðạo Hiệp Thiên Ðài, kiêm Giám Ðốc Cơ quan. Nhờ sự hưởng ứng của những bạn đạo giàu lòng háo nghĩa, ra tay trợ giúp về mặt tài chánh mà ngày nay Hội Thánh được có một ngôi biệt thự cao đẹp để làm cơ sở vĩnh viễn cho Ðài Phát Thanh tiếng nói của Ðại Ðạo.

Lễ đặt viên gạch đầu tiên xây cất cơ sở nầy khởi hành vào ngày 17 tháng 11 năm Ðinh Mùi (dl.18/12/1967), công cuộc kiến tạo tiếp đến cuối năm Ðinh Mùi thì một phần quan trọng đã được xây dựng. Nhưng qua đầu năm Mậu Thân lại bị nạn chiến tranh làm cho sụp đổ thành thử phải khởi công xây cất lại. Tài chánh đang eo hẹp mà lại gặp trường hợp phải chịu thêm một khoản tổn phí quan trọng, đó là điều khó khăn gần như nan giải. Nhưng ban Giám đốc với ý chí cương quyết đã cố gắng xoay chuyển cho có đủ tài chánh để bắt đầu tái kiến thiết, không vì cuộc thử thách vừa qua mà phải chịu thúc thủ vô sách.

Hôm nay, Văn phòng Cơ quan Phát thanh đã hoàn thành mỹ mãn, với sự trang trí các máy móc và dụng cụ cần thiết Ban Giám Ðốc Cơ quan đã lập được một đại công trong khi thi hành nhiệm vụ, mà các vị ân nhân đã hy sinh về phần tài chánh cũng góp một phần công quả xứng đáng trong cuộc xây dựng đại nghiệp chung của nền Ðạo.

Ngoài ra, để giúp về mặt tinh thần cho Cơ quan Phát thanh. Các bạn Ðạo Nhạc sĩ và Ca sĩ đã sẳn lòng đem hết khả năng và thiện chí hiến dâng công quả từ buổi ban sơ đến nay, giúp cho phần văn nghệ của mỗi buổi phát thanh được hào hứng. Nhờ đó, các thính giả tri âm ở bốn phương có dịp thưởng thức một thể điệu âm nhạc thuần túy của Ban văn nghệ Tòa Thánh Tây Ninh. Như vậy Hội Thánh thật hân hạnh được sự ủng hộ triệt để của bổn Ðạo về mọi phương diện, kẻ đem công, người giúp của, chia sớt nỗi âu lo, đắp bồi chỗ thiếu thốn. Cho nên công việc dầu khó khăn thế nào cũng có thể đi đến một cứu cánh tốt đẹp. Chí nhiệt thành và lòng háo nghĩa của con cái Ðức Chí Tôn đã được chứng tỏ đúng lúc cần yếu, đó chính là một tinh thần đoàn kết và tương trợ thật cao cả, mà đó cũng là cái năng lực hữu hiệu do quyền thiêng liêng đã mầu nhiệm dành sẳn cho Thánh thể hữu hình của Ðại Từ Phụ tại thế. Cái tinh thần đó, có thể nói bất diệt cũng như cái năng lực đó vẫn trường tồn và luôn luôn chực sẳn để phụng sự cho chánh nghĩa, trợ giúp cho lẽ công ứng tiếng hy sinh khi hữu sự.

Hội Thánh rất may mắn được có một hậu thuẩn tận tâm, trung thành như vậy mới có thể thực thi sứ mạng Thể Thiên Hành Hóa, đem đạo cứu đời, dìu dắt nhơn sanh nâng cao giá trị nền Chánh giáo. Công cuộc kiến tạo đã thành đạt, những bạn đạo đã giúp về vật chất cũng như về tinh thần và có mặt trong buổi lễ hôm nay chắc hẳn cũng lấy làm hân hoan khi nhìn thấy kết quả hữu hình mà trong đó mình có đóng góp một phần tô điểm và xây dựng. Ðể lưu niệm về sau, Ban Giám Ðốc Cơ Quan Phát Thanh cũng nên lập một quyển sổ vàng ghi tên quý vị hảo tâm trong Ðạo cũng như ngoài Ðời đã góp sức tạo nên ngôi biệt-thự này.

Nhơn dịp lễ Khánh Thành hôm nay, tôi xin nhắc lại, là Chức sắc Hội Thánh đã đi đến một giai đoạn mới, là giai đoạn thực hành giáo lý Ðại Ðạo. Thật vậy, Giáo Lý đã được Cơ Quan Phát Thanh phổ truyền sâu rộng từ quốc nội đến hải ngoại mà tiếng nói đó là tiếng nói của Hội Thánh. Lẽ dĩ nhiên là Chức Sắc Hội Thánh phải tích cực thi hành theo giáo lý trước khi phổ biến nó đi khắp nơi để giáo hóa tín hữu và truyền bá Ðạo Trời. Nếu tất cả Chức Sắc trọn tùng giáo lý mà tu tâm luyện tánh và xử kỷ tiếp vật, nhơn sanh trong cửa Ðạo được hưởng hoàn toàn hạnh phúc và vùng Thánh Ðịa nầy là một cõi thiên đàng tại thế vậy.

Mặt khác, tôi nhận thấy nhiệm vụ phát thanh giáo lý là một nhiệm vụ rất quan trọng mà riêng Ban Giám Ðốc Cơ Quan Phát Thanh không thể thực hành cho đến mức tận thiện, tận mỹ. Phải cần có sự cộng tác của Chức Sắc Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện mới chắc có thành quả tốt đẹp hơn, Giáo lý là căn bản của một Tôn Giáo, nền tảng của một mối Chánh truyền, phải cùng nhau chung tâm hiệp trí chúng ta mới tránh được điều sơ suất và công việc truyền bá Ðạo trong đại-chúng mới được thuận lợi.

Hôm nay dự buổi lễ Khánh thành văn phòng CƠ QUAN PHÁT THANH, tôi có lời khen ngợi Ban Giám Ðốc và toàn thể nhân viên cũng như những vị Nhạc sĩ, Ca sĩ của Cơ quan đã tận tâm làm việc hơn mười tám tháng nay để phụng sự cho nền Ðại Ðạo. Tôi ước mong cái tinh thần phục vụ đó được tồn tại mãi để cho cơ quan ngày càng thêm tiến triển hầu nâng cao thinh danh Ðạo Cao Ðài trên khắp mặt địa-cầu.

Trước khi dứt lời, nhơn danh Hội Thánh, tôi xin cầu nguyện Ðức Chí Tôn ban ơn cho toàn thể Chức Sắc, quý Quan khách và Ðạo hữu Nam, Nữ.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

THƯỢNG SANH
CAO HOÀI SANG

(Trích Thông Tin số 96, ngày 17/4/1974)

 


 

Bài Thuyết Ðạo Của Ðức Thượng Sanh

Trong buổi Lễ Chung Niên tại Ðền Thánh,
đêm 23 tháng Chạp Kỷ Dậu (dl. 30/1/1970)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Quý Chức Sắc, Chức Việc và Ðạo Hữu Nam Nữ,

Sen tàn cúc nở, đông mãn kế xuân về. Ngày tháng thoát qua chẳng khác chi nước chảy dưới gầm cầu, lật bật năm Kỷ Dậu sắp cáo chung, trăm họ nô nức đón chào Xuân mới.

Cứ Xuân mãn rồi Xuân về, nhựt nguyệt mãi vần xây mà bức tranh xã hội vẫn nhuộm màu chiết tỏa thê lương, khói lửa vẫn bao trùm non nước, gây biết bao tang thương ảm đạm cho kiếp con người sống trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc.

Ðức Chí Tôn có dạy là dân tộc Việt Thường đang ở trong vòng vay trả oan nghiệp, nhưng hơn 20 năm qua đã hứng chịu nạn binh đao thảm khốc, sự đau khổ đã chập chồng trên đất nước, dù là nơi an tịnh tu hành cũng không tránh khỏi thảm họa chết chóc, sự nghiệp tiêu tàn, cửa nhà đổ vỡ. Chúng ta trong cửa Ðạo, vì lòng bác ái đối với nhơn sanh, vì tình thương tổ quốc, phải luôn luôn để tâm cầu khẩn Ðấng Chí Tôn chan rưới hồng ân, xóa bớt tội tình cho Việt Chủng.

Cầu nguyện là phận sự đối với quyền Thiêng Liêng, song chúng ta chẳng nên quên nhiệm vụ về mặt hữu hình là gắng chí tu hành lập công bồi đức, khắc kỷ vị tha, hướng dân qui thiện, vì đó là con đường Ðại Từ Phụ đã vạch sẳn cho chúng ta noi theo để tự giải thoát cho mình và tiêu trừ nghiệp quả chung của nòi giống. Thành thử chúng ta phải dọn mình cho xứng đáng để phát ra lời cầu nguyện, tức là người cầu nguyện phải trong sạch, đạo tâm đầy đủ và hết sức tín thành thì lời cầu nguyện mới có hiệu quả.

Pháp văn có câu phương ngôn: "Cái áo không tạo thành người tu sĩ", tức là người mặc áo đạo không chắc là thầy tu. Nói rõ hơn: Cái áo đạo bên ngoài hay phản khắc với tâm hồn của người mặc áo. Áo thật là áo đạo mà tâm tánh của người thì xảo trá, gian dối đủ điều, thử hỏi người như vậy cầu nguyện có cảm động Trời Phật được chăng? Như thế câu: "Hữu cầu tắc ứng" là vô nghĩa đối với trường hợp nầy.

{ trang 2 thiếu }

là người ta gặp sự may hay sự rủi chỉ do nơi vận mạng, nghiệp căn của mình vậy. Vả lại của lớn tiền nhiều không phải là hạnh phúc, cái hạnh phúc về tinh thần mới đúng là chơn hạnh phúc. Ðó là cái hạnh phúc của người biết sống có lương tâm thơ thới, hay làm việc phải, không nhơ bợn bả lợi mồi danh hoặc tiền tài bất chánh.

Do cái chơn lý nhân sinh tự cổ chí kim, ai cũng nhìn nhận như thế. Dòng đời xuôi ngược cứ thay đổi theo thế hệ trào lưu, chỉ có chơn lý là bất di bất dịch. Người đã thấy hiểu cái chơn lý ấy vẫn điềm nhiên trước cảnh đua chen náo nức của thiên hạ khi ngày Xuân sắp đến, không bắt chước se sua lãng phí, cứ an phận thủ thường, tùy hoàn cảnh của mình mà lo liệu ổn thỏa việc gia đình.

Duy có hạng người có ý niệm nông nổi cho rằng ngày Tết thì phải ăn xài phủ phê, mặc dù không dư dả hoặc nghèo túng quanh năm, cũng học đòi theo nhà sẳn của, cũng sắm ăn sắm mặc lòe loẹt bề ngoài. Thành thử phải tiêu phí số tiền nhỏ nhen dành dụm bấy lâu hoặc vay mượn tứ phía để rồi xong ba ngày Tết phải cặm cụi lao nhọc mãn năm mà trả cũng chưa dứt nợ. Ðó là một điều sai lầm đáng thương hại, khổ nỗi cái tệ đoan ấy không biết bao giờ mới tiêu trừ được.

Cái ý nghĩa chánh của Xuân chỉ hướng về mặt tinh thần. Ngoài ra sự cúng Tổ Tiên, các giới Sĩ, Nông, Công, Thương dùng dịp tạm nghỉ để kiểm điểm việc làm đã qua hầu lo tính công việc sắp tới, tìm phương thế làm cho nghề nghiệp được tinh xảo hơn, sự sản xuất sung túc và tốt đẹp hơn, trước là đem thắng lợi cho mình sau giúp ích xã hội trong mọi phương diện.

Là người tu hành, chúng ta không nên so sánh với mặt đời, không nên se sua lãng phí, kiêu sa, cờ bạc. Phải vui Xuân với ý nghĩa thanh bai trong tinh thần Ðạo đức và trong mặc tưởng hướng về Tổ quốc đang lâm nguy và nhơn sanh đang quằn quại khổ đau khắp trên đất nước.

Xương máu của đồng bào đã hao nhiều vì chiến cuộc, hồn thiêng sông núi đang chờ đợi những đứa con thân yêu của quê hương đang xông pha ngoài chiến địa để cứu nguy cho dân tộc mà không biết ngày nào được trở về.

Chúng ta phải thành tâm cầu nguyện cho những bạn trẻ ấy, ngoài ra nếu có dư dả, nên giúp đỡ những quả phụ cô nhi của tử sĩ đang sống trong cảnh cơ hàn vất vả còn có ý nghĩa hơn là phung phí ăn chơi trong ngày Tết.

Một năm đã qua là một tuổi chồng chất, kiếp sống một hao mòn.

Chức sắc trong hàng Thánh Thể Ðức Chí Tôn phải tự xét mình lo trau giồi hạnh đức, tu luyện tánh tình thế nào cho xứng bậc Thể Thiên Hành Hóa.

Chức Sắc đã hiến thân cho Ðạo, quyết xả thân để phụng sự nhơn loại thì bản thân không còn là của mình nữa, phải chết về mặt đời, sống về mặt Ðạo, tận tụy với nhiệm vụ, không nệ khó khăn lao nhọc thì mới đúng với sự hiến thân của mình.

Ngoài ra, Chức Sắc phải tự giữ phẩm giá thế nào cho người trông vào tư cách và cử chỉ của mình mà đem lòng kính phục thì mới có thể gieo hột Thánh cốc khắp nơi để nhơn sanh được thấm nhuần đạo-đức.

Cũng như hoa sen mọc nơi bùn lầy nước đọng mà không nhiễm chút mùi bùn, người Chức Sắc bôn ba giữa chốn phồn hoa để chọn khách may duyên đưa vào cửa Ðạo, nhưng vẫn giữ vẹn thân danh không vướng vào tục lụy, sa ngã theo lượn sóng trần đó là đạt tới mức trí dũng của Thánh hiền thời xưa vậy.

Ðức Khổng Tử có nói: "Nhơn năng hoằng Ðạo, phi Ðạo hoằng nhơn", nghĩa là người có thể mở rộng Ðạo, Ðạo không mở rộng người.

Nhưng nếu người không hy sinh cho Ðạo, chỉ lo cho cá nhân mình thì chẳng những không mở rộng Ðạo mà còn làm cho danh Ðạo bị tổn thương, cái trách nhiệm ấy quá ư hệ trọng đối với quyền Thiêng Liêng!

Nho Giáo có câu: "Ðạo đại nhân tự tiểu chi, Ðạo công nhân tự tư chi, Ðạo quảng nhân tự hiệp chi", nghĩa là: Ðạo lớn tự người làm nó ra nhỏ, Ðạo công tự người làm nó ra tư, Ðạo rộng tự người làm nó ra hẹp.

Vùng Thánh Ðịa nầy dù là Nội-Ô hay Ngoại-Ô cũng đều sản xuất nơi lòng thương yêu vô biên của Ðức CHÍ TÔN và sự hy sinh tuyệt đối của các Ðấng tiền bối trong Ðạo. Thánh Ðịa phải xứng với danh từ của nó.

Người ở trong vùng Thánh Ðịa dù là Chức Sắc hay Tín hữu cũng đồng con cái của Ðức CHÍ TÔN, nên không thể thiếu lòng thương yêu được, mỗi cá nhân không nên chìu theo thị dục mà gây sự tranh chấp hơn thua với nhau, gây nên kiện tụng liên miên, tạo ra cảnh rối loạn như ở bến chợ đời.

Người của Thánh Ðịa phải hiền từ, mực thước, thành thật, công bằng thì hai chữ Thánh Ðịa mới khỏi bị mỉa mai, chê biếm.

Thế cuộc đang biến chuyển do Thiên Ðiều chế ngự, dữ đọa hiền thăng, chúng ta nên sáng suốt nhận thức cơ thưởng phạt Thiêng Liêng rất nên mầu nhiệm mà thận trọng kềm chế vô-minh, vun trồng cội đức để mong được gội nhuần ân-huệ của Ðấng Chí Linh trên đường giải thoát.

Trước thềm Tân Xuân Canh Tuất, nhơn danh Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài tôi có mấy lời nhắc nhở bạn đồng hành về mặt Ðạo, mong ước chúng ta cùng đồng tâm nhứt trí cải sửa đường lối, lập chí vị tha, quyết hy sinh vì sứ mạng hầu làm vẻ vang cho nền Ðạo và khỏi phụ lòng tin cậy của Ðức CHÍ TÔN ÐẠI TỪ PHỤ.

Tôi cũng xin để lời chúc toàn thể Chức Sắc cùng Tín hữu Nam Nữ ở quốc nội cũng như nơi hải ngoại được sức khỏe dồi dào, tinh thần mẫn huệ và cầu xin Ðức CHÍ TÔN, Ðức PHẬT MẪU ban ơn lành cho tất cả quí vị.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

TÒA THÁNH, ngày 24 tháng Chạp Kỷ Dậu (dl. 31/1/1970)
CAO THƯỢNG SANH

 


 

HUẤN TỪ

của Ðức THƯỢNG SANH
Nhân bữa tiệc HỘI THÁNH CỬU TRÙNG ÐÀI
Ủy lạo Chức Sắc và Nhân Viên công quả lúc đầu năm Canh Tuất (dl. 23/2/1970)

 

Kính Hội Thánh Lưỡng Ðài Hiệp Thiên và Cửu Trùng, Hội Thánh Phước Thiện, Chức Sắc, Chức Việc và Ðạo Hữu Nam Nữ.

Xuân Canh Tuất đã đến với chúng ta trong khi khói lửa còn lan tràn, vòm trời Việt Nam còn những ánh mây đen mịt mờ bao phủ. Nhưng mùa Xuân là mùa sinh hóa đem đến nguồn sống cho vạn vật, con người trước cái hiện tượng hoán cựu canh tân thiên nhiên cũng tạm dẹp nỗi lo âu thường ngày đón rước Xuân về với hy vọng ngày Xuân sẽ đem đến cho mình những gì vui tươi tốt đẹp theo như ý muốn. Ngày Xuân là ngày chung vui đoàn tụ của mỗi gia đình trong cửa Ðại Ðạo, một số Chức sắc Hội Thánh tản mát nơi bốn phương vì nhiệm vụ, dù là nơi cách trở xa xôi cũng tề tựu đông đủ về Tổ Ðình để trình diện với Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu. Lòng hiếu kính cũng như tình đoàn kết của quý vị thật nên quí báu, nếu ngoài hai bổn phận ấy, mỗi Chức sắc có thêm lòng nhân ái và chí vị tha thì quý vị toàn là Thánh nhơn tại thế.

Hôm nay chúng ta được hội diện trong bữa tiệc ủy lạo nầy để mừng nhau về cuộc tương phùng lúc đầu năm và cũng nhơn dịp này Hội Thánh để lời nhắc nhở Chức sắc nơi Trung ương cũng như ở địa phương trong việc tu thân hành đạo để quý vị làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng của mình.

Hơn mười hai năm qua, từ ngày chúng tôi về nắm quyền điều khiển Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, chúng tôi đã có dịp để lời khuyên nhủ không biết bao nhiêu lần, thấy sơ sót muốn bồi bổ, thấy sự tệ hại muốn ngăn ngừa, thấy sai lầm muốn chỉnh đốn, thấy thiếu học muốn giồi trau. Nói tóm lại: Không có điều nào mà chúng tôi không để ý khuyên bảo.

Ðối với bạn đồng hành cùng chung chí hướng, phận sự chúng ta, dù trên hay dưới là phải thương yêu nhau và dạy bảo lẫn nhau.

Chúng tôi không buồn là phải nói hoài, nói thật nhiều nói bằng lời tâm huyết với ước mong cải thiện phần nào tâm hồn của những bạn đạo kém cỏi, chúng tôi chỉ buồn là những lời nói không đem lại hiệu quả, dù là một hiệu quả nhỏ nhen có thể làm vui lòng cho những kẻ đàn anh cầm quyền Hội Thánh, bằng chứng là Chức sắc vẫn còn phạm luật, phạm pháp, Tòa Hiệp Thiên Ðài và Hội Công Ðồng còn hội xử liên miên, hồ sơ kiện tụng nhau ngày càng chồng chất, nhưng chẳng phải vì đó mà chúng tôi sờn lòng nản chí, dựa theo câu "Giáo đa thành oán" mà không làm tròn sứ mạng thiêng liêng.

Chúng tôi chỉ cầu xin ÐẠI TỪ PHỤ hoán cải tâm tánh của những bạn đạo còn quá nặng nề phần đời, mau thức tỉnh để khỏi sa vào vòng đọa lạc. Ðức CHÍ TÔN đã dạy rằng: Ðường tu nhiều nỗi gay go, trên trường thi công quả, số dự thí quá nhiều mà chấm đậu thật ít, chỉ vì cuộc thử thách nặng nề, người tu sĩ bởi chiều theo vọng tâm tức là vô minh mà không lướt qua khỏi.

Vả lại, tham dục hay thị dục đều có trong mỗi người dù Thánh hay Phàm, dù mê hay ngộ, nhưng giữa người mê và người ngộ, kết quả tác động của thị dục không giống nhau, người mê tức là người chưa có cái minh triết ngự trị nơi tâm linh (Sách Phật gọi là Dharma, Ðạt Ma) thì luôn luôn ý thức là mình còn thiếu mọi thứ về vật chất và đợi dịp để lấp bằng những chỗ thiếu thốn, đó là cơ thuận tiện cho thị dục hành động. Người ta nghe theo trong tim những tiếng nói nhỏ quyến rũ, mời mọc với ý nghĩa: "Người nên tự tiện, người phải thu thập tất cả những gì người còn thiếu và bằng mọi cách".

Con người trước khi nhúng tay vào tội lỗi, cũng phải sè sụt ngần ngại một đôi lần.

Nhưng sau cùng sự đòi hỏi của dục vọng quá thúc bách, họ không chống ngăn nổi, nên phải sa ngã, đó là một linh hồn nhập vào hàng tôi tớ của quỉ vương.

Ðối với người giác ngộ sự quyến rủ của thị dục cũng không khác chi trường hợp nói trên, nhưng người giác ngộ nhờ có cái tâm linh thanh bạch sáng suốt tức là Ðạt ma, nên họ vẫn bình thản trước sự xúi giục bất chánh. Họ xua đuổi sự quyến rủ bằng những lý lẽ đanh thép và những tư tưởng cao siêu.

Thị dục càng bức bách, họ càng cương quyết cự tuyệt, trước cái trực giác của tâm linh tức là sự tự tri, tự ngộ, uy lực của thị dục bị đánh đổ và tan rả như mây khói.

Người tu sĩ thắng cuộc trong trường hợp nầy, được tiếp dẫn đến chỗ chứng tâm, thành tựu vẻ vang đời sống đạo đức.

Xin nhắc lại là ai cũng có lòng ham muốn và có quyền ham muốn; nhưng phải phân biệt sự ham muốn nào chánh và ham muốn nào bất chánh. Muốn được hạnh phúc trong đời sống tinh thần, muốn được thông minh, muốn được an tịnh, muốn giúp kẻ khác trong công ăn việc làm thì không có hại chi hết. Có hại là khi những sự ta muốn, nếu ta đạt được thì sẽ có hại cho người khác, nghĩa là ta không tốn của hay ra công mà chỉ dùng mưu thần chước quỉ mà nên việc.

Thánh giáo có dạy chúng ta phải tự lập, tự cứu lấy mình, phải lấy đạo đức chiến thắng bầy hổ lang đang cắn xé chúng ta, chúng ta mới về hội hiệp với ÐỨC CHÍ TÔN được.

Trong một bài Thánh giáo, Ðại Từ Phụ có than: "Nếu biết ngộ, một đời tu các con đủ trở về cùng Thầy. Mà hại thay! Mắt Thầy chưa đặng hữu hạnh, hoan lạc thấy được kẻ ấy!!!"

Ðại Từ Phụ băn khoăn lo sợ cho bầy con cái thất bại trên đường lập vị mà phải sa ngã vào cạm bẩy quỉ vương, người mang phẩm vị Thiên phong phải cố gắng trau giồi hạnh đức, dưỡng tánh tu tâm để có thể đối phó với cơ khảo đảo, tỏ ra bậc giác ngộ, xứng đáng làm gương mẫu cho đàn em trông vào cửa Ðạo.

Sự giải thoát cho ta, ta phải tự lo lấy, không có quyền lực Thiêng liêng nào giúp sức cho ta, Cũng như một chiến sĩ xông pha ngoài tiền tuyến, ta phải tự lực tự cường mới có thể chống ngăn kẻ địch. Ta còn hay mất đều do nơi sức ta, không ai chen vào phụ giúp ta được.

Ðức Phật Thích Ca nói với các đệ tử rằng: "Ngươi hãy tự cứu lấy ngươi, ngươi hãy đứng dậy một mình".

Ðức Chí Tôn thì dạy rằng: "Nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy là cái đời tạm của các con thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đở lên cho đặng".

Ý thức đời sống của kẻ tu hành là đời sống tinh thần, chúng ta nên xem thường mùi phú quí, bả vinh hoa, lấy kinh sách làm món ăn cho tâm hồn, lấy tình thương làm chủ nghĩa, lấy công quả làm nấc thang, nâng tư tưởng vượt lên trên hết những khát vọng thấp hèn của phàm tục. Như vậy chúng ta sẽ thấy an vui, thanh thoát theo lẽ sống của Thánh Hiền thời xưa. Giá trị của người tu sĩ được nâng cao và vì đó danh thể của Ðạo lại vượt cao hơn nữa.

Chí như chúng ta nương nhờ trong cửa Ðạo, do Ðạo mà chúng ta được có phẩm vị, được người kính nể chiều chuộng, mà chúng ta còn hành động nông nổi, làm cho Ðạo phải chịu tai tiếng, thử hỏi chúng ta vào Ðạo với mục đích gì và đường tu sẽ đưa chúng ta đi đến đâu?.

Trên sân khấu đời, mỗi người đều có vai tuồng riêng biệt do mình tự chọn lựa và tác động. Nên hay hư thì tự mình gánh chịu trách nhiệm hay hậu quả, không liên hệ gì đến người khác.

Trên đường Ðạo thì không phải vậy: Chức sắc là một phần trong Thánh Thể Ðức Chí Tôn, vai tuồng của mỗi vị do Ðức Chí Tôn sắp đặt, hoặc Hội Thánh giao phó. Thành thử, cái danh dự của mỗi Chức sắc không phải riêng cho cá nhân mình mà là cái danh dự chung của toàn thể Chức sắc Hội Thánh.

Làm được một sự cao đẹp, không phải một vị Chức sắc được tiếng khen riêng cho mình mà toàn thể Chức sắc đều được chia hưởng tiếng khen ấy. Trái lại, một Chức sắc có hành động bỉ ổi, không phải riêng đương sự bị tiếng xấu, mà tất cả Chức sắc đều chung chịu lời chê biếm nhẽ.

Vì vậy, người Chức sắc không có quyền dấn thân vào đường bất chánh, trừ phi mình tự tách riêng ra khỏi cửa Ðạo, sống đời cô lập, không có liên hệ gì với Hội Thánh.

Trên bước đường hành đạo, phần trọng yếu của người tu thiên về hạnh đức và luân lý. Do cách ăn thói ở của mình, người ta đánh giá mình cao hay thấp. Vì đó, lẽ phải bắt buộc người tu sĩ phải tự hiểu biết lấy mình; bởi lẽ, nếu mình không biết gì đến hành lý của mình thì làm sao cân nhắc được sự học Ðạo của mình tấn hay thối, con người của mình mười năm về trước và con người mình hiện tại khác nhau ở chỗ nào? Những khách đăng sơn khi phải leo lên một đường núi thì trước khi phải kiểm điểm hành lý, bỏ bớt cái gì nặng nề vô ích, cái gì trở ngại, nhờ vậy mới lên tột đỉnh theo ý định của mình.

Người đi trên đường Ðạo cũng thế, cần phải tự lượng sức mình, nên đem theo những gì cần thiết và nhứt định bỏ những gì phải trừ bỏ. Nhứt là phải tự biết mình để dọn mình đối phó với những trở ngại sẽ gặp trên đường Ðạo.

Kính thưa quý vị,

Bữa tiệc hôm nay đem đến cho toàn thể Chức sắc một niềm hân hoan và một sự mãn nguyện trong cuộc hội diện đầy vẻ thân mật và tình lưu luyến trước khi các Chức sắc Nam, Nữ nơi địa phương lên đường trở về với nhiệm vụ.

Nhơn danh Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, tôi xin có lời chúc cho Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu Nam Nữ được an khang, gặp nhiều may mắn, mọi sự hanh thông trên đường phục vụ cho Ðạo và nhơn sanh.

Xin cầu nguyện Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu ban ơn cho toàn thể quí vị.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

TÒA THÁNH ngày 18 tháng Giêng năm CANH TUẤT
(dl. 23/02/1970)
THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ÐÀI

Sao y nguyên văn:

ÐÐHÐ, ngày 13-02-Canh Tuất (dl. 20/03/1970)
HIỆU TRƯỞNG
Giáo Hữu Ngọc Lương Thanh

 

 


 

HUẤN  TỪ

của Ðức THƯỢNG SANH Chưởng Quản HTÐ
Ðọc trong buổi Lễ Tấn Phong Hiền Tài khóa 3
Ngày mùng 8 tháng 2 Canh Tuất, (dl. 15/3/1970)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Quý Quan khách,
Kính Chư Chức sắc và Ðạo hữu Nam Nữ,
Kính Quý Hiền Tài Ban Thế Ðạo.

Trước hết nhơn danh Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, tôi xin để lời chào Quý Quan khách và toàn thể Chức Sắc Ban Thế Ðạo, trong đó có quý vị Hiền Tài mới được chấp nhận trong niên khóa Kỷ Dậu và hôm nay hiện diện trong buổi Lễ Tấn Phong, cũng là buổi lễ để quý vị trình diện với Hội Thánh đặng thọ lảnh phẩm vị Hiền Tài.

Thưa Quý vị,

Nho học có câu: "Lập thân hành Ðạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiến phụ mẫu, hiếu chi chung dã", có nghĩa: Lập thân hành Ðạo để tiếng lại đời sau, làm cho rạng chói danh thơm đến cha mẹ, đó là trọn Ðạo hiếu vậy.

Hai chữ hành đạo đây nói về đạo làm người, bao hàm các bổn phận đối với gia đình, đối với xã hội và đối với đất nước quê hương.

Sanh ra nơi trần thế, người hữu học có công thập niên đăng quả thì ai cũng muốn chen vào trường ốc, mong chiếm bảng vàng hầu lập nên sự nghiệp vẻ vang, làm đẹp mặt nở mày cho cha mẹ.

Quý vị Tân Hiền Tài đã có chí hướng như trên và phần đông đã có địa vị xứng đáng ngoài mặt đời, được kể vào hàng trí thức của xã hội.

Tuy nhiên, làm cho tròn bổn phận làm người tức là phần nhơn đạo, chẳng phải là một việc dễ, ai cũng có thể làm được.

Theo trào lưu tiến bộ của văn minh vật chất hiện tại nhứt là trước hiểm họa của lằn sóng vô thần quá khích, con người dù là hạng trí thức dễ bị lôi cuốn vào cảnh bê tha trụy lạc, hoặc bị đưa đẩy vào vòng lợi danh đen tối, làm tôi tớ cho thế lực kim tiền, bán rẻ lương tâm, không còn kể nghĩa nhân và lẽ phải nữa.

Chủ nghĩa duy vật đã lan tràn khắp trong đất nước và đầu độc hết chín phần mười dân tộc Việt Nam, nền luân lý cổ truyền đã đổ vở, người ta đã vứt bỏ hết mọi căn bản đạo đức và họ đã chơi vơi lưu lạc trong đêm dài mờ mịt, chỉ vì đời sống của họ thiếu hẳn quân bình giữa vật chất và tinh thần, tức là thiếu luồng điện hòa hợp, thiếu cái biết trí tri của tâm linh hay là ánh sáng dẫn đến trực giác.

Mặc dù quí vị có học thức hay được sinh trưởng trong gia đình đạo đức thuần túy mà quý vị không tu thân khắc kỷ thì trên bước đường đời chông gai hiểm trở, quý vị không thể tránh khỏi những cạm bẫy do thất tình lục dục luôn luôn đặt dưới chơn quý vị.

Nho Giáo dạy rằng: Mục đích của đời người là tu thân theo tiếng gọi của lương tâm, tiến tới hoàn thiện để kết hợp với THƯỢNG ÐẾ và giáo hóa người khác được hoàn thiện như mình. Vì vậy từ bậc vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng lấy sự sửa mình làm gốc (tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bản).

Không thực hành cái định luật nầy, con người chỉ là con người của vật chất, quá tầm thường sanh ra để gây rối cho gia đình và xã hội.

Thế nào gọi là tu thân? Tu thân là đem trật tự lại trong con người, sửa ngay ngắn lại những gì chênh lệch, chấn chỉnh lại những gì gian tà, đổi ra thành thật những gì giả dối.

Ðể hoàn thành những công việc đó, Ðức KHỔNG TỬ khuyên phải triệt để thực hiện tuần tự những điều mục: Thành ý, Chánh tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.

Quý vị may duyên sanh nhằm thời trên đất nước được có nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ do Ðấng CHÍ TÔN THƯỢNG ÐẾ khai sáng với tôn chỉ tận độ chúng sanh, cứu vớt 92 ức nguyên nhân đọa trần thoát vòng khổ hải.

Mở rộng trường thi công quả để tiếp đón nhơn tài, Hội Thánh chỉ mong ước quý vị thấm nhuần đạo đức, lập chí tu thân, trước thì lo tròn bổn phận làm người, sau nữa có thể thi thố tài năng giúp đời trợ Ðạo tùy theo địa vị hoàn cảnh của mỗi người.

Một đấng Hiền Tài là một nhơn vật có phẩm giá đặc biệt, đầy đủ đức độ và chân tài.

Cái tài thì do sự học mà có, cái đức thì do lập chí tu thân, theo Ðạo Thánh Hiền mà được.

Nếu có tài mà không đức thì cũng như đóa hoa có sắc mà không hương; cái tài đó cũng không phải là tài hữu dụng.

Thời xưa, Nho học sắp những bậc hiền nhân vào hạng người quân tử, tức là hạng người có đức hạnh tôn quí, trọng nghĩa ái nhân.

Những Ông Hiền được đời kính nể mến phục vì những đấng ấy có tư tưởng cao siêu, hành vi xuất chúng, lúc nào cũng cứ ngay thẳng mà làm điều lành, điều phải, không vì tư tâm tư lợi mà hại đạo lý. Giàu sang không thể làm cho đổi được cái lòng của mình, nghèo hèn không thể làm cho đổi được cái chí của mình, uy quyền võ lực không thể làm cho khuất được cái khí của mình (phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất).

Lúc nào bậc Hiền nhân cũng không tự dối với mình và dối với thiên hạ, cho nên ngưỡng đầu lên không xấu với Trời, cúi xuống không thẹn với người, cùng khổ không mất nghĩa, hiển đạt không lìa Ðạo (Ngưỡng bất quí ư Thiên, phủ bất tạc ư nhân; cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly Ðạo).

Khi gặp vận được một đấng minh quân thỉnh cầu ra giúp nước thì đem cái ân rãi khắp muôn dân, làm cho nhà an nước trị. Nếu không gặp thời thì chịu mai một, sống đời ẩn dật, vui thú lâm tuyền bạn với gió trăng, thi gan cùng tuế nguyệt, chớ không màng đến danh lợi đen tối.

Vì vậy chúng ta được thưởng thức những câu thơ xưa bất hủ, như:

  Triền cao hang thẩm, hiền mai tích,
Suối lặng khe êm, khách chịu nhàn.
Hoặc:  
  Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ hạc là người quen.

Các bậc hiền nhân thời xưa được có cái tiết tháo như vậy là nhờ biết phân biệt cái tước của Trời cho và cái tước của người cho.

Nhân nghĩa, trung tín, vui làm điều lành không mỏi là cái tước của Trời cho, tức là Thiên tước; công khanh đại phu là cái tước của người cho, tức là nhơn tước.

Người xưa lo sửa cái thiên tước thì cái nhơn tước theo sau và được bền bỉ. Người đời nay chỉ lòe mình có cái thiên tước để cầu lấy cái nhơn tước; khi đã được cái nhơn tước rồi, thì dẹp bỏ cái thiên tước không nói đến nữa. Như thế thì thật là quá nông nổi, rốt cuộc thành ra mất hết, cái nhơn tước cũng không giữ được bao lâu!

Thưa quý vị,

Mở rộng cửa Ban Thế Ðạo, Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài do theo nhã ý của Ðức HỘ PHÁP, ban phẩm Hiền Tài cho những bậc hữu học để khích lệ hạng trí thức nhập vào trường công quả hầu có dịp tiến đức, tu nhân theo chí hướng của mình. Mặc dù còn vướng bận vai tuồng thế sự, hoặc là sinh viên còn ở trong ngưỡng cửa Ðại học, quý vị đã có sẵn tinh thần đạo đức, nên có nguyện vọng bước lên địa vị Hiền Tài để đem khả năng phục vụ nền Chánh Giáo.

Giờ nầy nguyện vọng của quý vị đã được thỏa mãn, lẽ dĩ nhiên Hội Thánh có phận sự dìu dắt và giúp sức quý vị thực hành nhiệm vụ đối với Ðạo mỗi khi quý vị cần đến.

Thật ra, sự giúp đỡ của quý vị không có tánh cách bắt buộc. Hội Thánh để cho quý vị thư thả liệu định, tùy cơ hội, tùy dịp may mà thực hành.

Ðiều cần biết là từ đây quý vị đã chánh thức là Chức Sắc Ban Thế Ðạo Tòa Thánh Tây Ninh, quý vị nên để công học Ðạo trau giồi hạnh đức, tu luyện tánh tình để có thể tiêu biểu cho cái chân giá trị của phẩm vị Hiền Tài, và để khi gặp cơn bất trắc, quý vị có đủ sáng suốt mà đối phó với mọi trường hợp, nhứt là gìn giữ thân danh được toàn vẹn. Là Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài, chúng tôi cần có nhiều bậc nhơn tài để làm bạn đồng chí, giúp sức với chúng tôi trong việc thức tỉnh nhơn tâm quay về với thiên lương và đạo đức.

Chính quý vị là những bạn đồng chí đó, chính quý vị là những gạch nối liền, làm cho Ðạo Ðời tương đắc, tạo cảnh thuận tiện, cho Chức Sắc Hành Chánh Ðạo nêu cao ngọn cờ cứu khổ khắp trên đất nước.

Nếu quý vị thành công, quý vị sẽ tạo nên một sự nghiệp tinh thần quí báu, có thể đưa quý vị tới địa vị xứng đáng trong cửa ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ. Ðó là điều mong ước của Hội Thánh.

Nhơn buổi lễ Tấn Phong hôm nay, đại diện Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, tôi xin để lời mừng cho quý vị Tân Hiền Tài và cầu chúc cho toàn thể Chức Sắc Nam Nữ Ban Thế Ðạo được huởng hồng ân của Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

TÒA THÁNH, ngày mùng 8 tháng 2 Canh Tuất. (dl. 15/3/1970)
THƯỢNG SANH
CHƯỞNG QUẢN HIỆP THIÊN ÐÀI

(Trích Thông Tin số 1, tháng 3/1970)

 


 

HUẤN TỪ

của Ðức THƯỢNG SANH
Ðọc trong buổi Lễ CỨU TRỢ VIỆT KIỀU HỒI HƯƠNG
Tại trại tạm cư ấp NINH LỢI, ngày 15/5/Canh Tuất (dl. 18/6/1970)

 

Kính Hội Thánh,
Kính Trung Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh,
Kính Trung Tá Quận Trưởng Phú Khương,
Kính Quý vị Kiều bào Nam Nữ,

Ðược biết quý Ðồng bào từ Miên quốc hồi hương, được Chánh quyền Tỉnh, Chánh quyền Quận, tạm cho cư ngụ nơi vùng nầy thuộc về ngoại ô Thánh địa Tòa Thánh Tây Ninh.

Hội Thánh vẫn để tâm lo lắng trợ giúp, để quý vị đỡ phần nào vất vả trong thời gian lưu trú nơi đây.

Cuộc biến chuyển tại Cam Bốt từ mấy tháng nay làm cho đồng bào Việt Kiều nơi đó trải qua không biết bao nhiêu điều tai hại thảm khốc. Một phần đồng bào chúng ta, lớp bị tàn sát dã man, không phương trốn lánh, lớp bị bốc lột sản nghiệp, của tiền, chỉ còn mảnh áo che thân, may mắn lắm mới vượt qua khỏi tay của lũ bạo tàn trở về cố quốc.

Quý vị có phần may mắn là được chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa chiếu cố đưa về đất tổ quê cha, dù phải chịu bao vất vả điêu linh. Song cũng còn trông thấy lại chân trời tổ quán trên vùng đất thân yêu xứ sở, để mong tìm lại những thân nhân từ bấy lâu phải chia tay xa cách.

Vùng Thánh Ðịa Tây Ninh nầy là nhà chung của nhơn sanh, là nơi được Ðấng CHÍ TÔN che chở dưới bóng từ bi, họp tất cả những tâm hồn biết tin cậy nơi lượng háo sanh của Ðức Ngài, để gieo rắc tình thương yêu vô lượng, xoa dịu nỗi đau khổ của kẻ vô cùng bạc phước, dù ở trong cảnh ngộ nào, cũng là con cái chung của Ðại gia đình mà Ðức Ngài là Ðại Từ Phụ.

Cuộc biến chuyển nơi Miên Quốc là cái nạn chung của đồng bàoViệt Kiều nơi đó, cũng như cuộc chiến tranh tàn khốc trên đất nước Việt Nam trong hai mươi năm nay, là cái họa vô thường của nòi giống Hồng Lạc chúng ta cùng chung chịu một hoàn cảnh bi đát như nhau, nếu có khác nhau chăng là do nghiệp duyên cá nhân người chịu nhiều, kẻ chịu ít mà thôi.

Quý vị nên tự an ủi, nên can đảm chìu theo số phận không may của mình, nếu quý vị hiểu Ðạo tức là hiểu cuộc đời dinh hư tiêu trưởng vẫn là dĩ nhiên do Thiên cơ định liệu. Sản nghiệp, của tiền đều là những món phù du, thoạt còn thoạt mất, cái thân còn tồn tại là điều quí báu, vì còn người tức còn của vậy.

Trên cõi tạm nầy, những nỗi buồn, vui, đau khổ, nhục vinh, là những đoạn trường mà khách trần, ai cũng phải trải qua từ thanh mi chí bạch phát để nung đúc tâm hồn cho tới mức siêu nhiên và những ai đã vượt qua những cảnh bất thường ấy mà lòng vẫn minh chánh, chí vẫn thanh cao đó là những người biết sống, đáng sống và đã tìm ra con đường trở về với Ðấng CHÍ TÔN THƯỢNG ÐẾ.

Ðã trải qua con đường thử thách, quý vị nên bền tâm ẩn nhẫn chờ qua khỏi khúc quanh nguy hiểm tức nhiên con đường sẽ trở nên ngay thẳng thuận tiện hơn.

Hôm nay Hội Thánh đến đây để thăm viếng quý vị trong tình huynh đệ đồng bào, có ý đem lại cho quý vị một niềm an ủi chân thành, sau để hiến cho quý vị vài món quà cần thiết tuy có tánh cách tượng trưng, nhưng sự tương trợ có quí, chẳng phải ở nơi cho nhiều, mà ở nơi lòng thành ưu ái và cách thức tương trợ.

Rồi đây, Chánh quyền mà người đại diện là Trung Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh và Trung Tá Quận Trưởng Phú Khương hiện diện nơi đây, sẽ hết lòng lo lắng cho quý vị chu đáo hơn.

Trước khi dứt lời, nhân danh Hội Thánh, tôi cầu nguyện

Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU ban ơn cho toàn thể quý vị Nam Nữ./.

 

(Trích Thông Tin số 7, ngày 28/06/1970)

 


 

HUẤN TỪ

của Ðức THƯỢNG SANH
Nhân dịp Lễ Khai Giảng khóa Huấn Luyện Chức Việc Bàn Trị Sự
Châu Thành Thánh Ðịa nơi Hạnh Ðường
Ngày 4 tháng 6 năm Canh Tuất (dl. 8/7/1970)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên và Cửu Trùng,
Kính Hội Thánh Phước Thiện,
Kính chư Chức Sắc lưỡng phái,
Kính chư Chức Việc Bàn Trị Sự Nam Nữ Châu Thành Thánh Ðịa,

Hôm nay tôi không giấu được niềm hân hoan khi đến chủ toạ buổi lễ khai giảng khóa huấn luyện Chức Việc Bàn Trị Sự Nam Nữ Châu Thành Thánh Ðịa nơi Hạnh Ðường năm Canh Tuất (1970).

Sự hiện diện đông đủ của toàn thể Chức Việc Nam Nữ trong buổi lễ nầy làm cho Hội Thánh thấy rõ cái thiện chí của quý vị là dốc lòng học hỏi cho thông hiểu luật pháp và các nghi lễ về Quan, Hôn, Tang, Tế của nền Ðại Ðạo hầu dìu dắt nhơn sanh cho khỏi sai đường lạc lối, tránh điều đổ vỡ tai hại vô phương cứu vãn tức là sự thất kỳ truyền nơi ngày mai hậu.

Từ trước đến giờ quý vị vẫn được các bậc đàn anh như: chư Ðầu Phận Ðạo hoặc vị Khâm Thành Thánh Ðịa, nhắc nhở và chỉ dẫn trong việc thừa hành phận sự về mặt hành chánh cũng như về các nghi lễ của Ðạo, nhưng trong những cuộc hành lễ nơi nhiều Phận Ðạo cũng còn có sự sai biệt nhau, không đồng một nghi thức duy nhất theo lời chỉ dạy của Hội Thánh.

Nhiều vị chưa am hiểu tường tận Luật pháp chơn truyền, nên lúc thi hành nhiệm vụ có lắm điều sơ xuất đáng tiếc trong việc đối nội cũng như đối ngoại.

Vì vậy, Ngài Ngọc Chánh Phối Sư có sáng kiến đề nghị lên Hội Thánh dành khóa Hạnh Ðường năm nay để huấn luyện chư Chức Việc Bàn Trị Sự Châu Thành Thánh Ðịa để cho quý vị lãnh hội các phương pháp hành quyền và có đủ khả năng thực thi nhiệm vụ được chu đáo.

Ðề nghị nói trên đã được Hội Thánh chấp thuận và hôm nay quý vị hiện diện trong buổi lễ khai giảng nầy, đó là cái kết quả tốt đẹp do sáng kiến của Ngài Ngọc Chánh Phối Sư vậy.

Thưa quý Chức việc Bàn Trị Sự Nam Nữ,

Hội Thánh hằng để ý chăm nom dìu dắt quý vị, Chức Sắc giảng viên không nài khó nhọc ra công chỉ dẫn, dạy dỗ đàn em cho có đủ tài, đủ hạnh hầu phục vụ đắc lực nhơn sanh trên đường tu hành thì quý vị nên gắng lo trau giồi trí thức cho được minh mẫn sáng suốt để ngày sau có thể lập vị xứng đáng cho mình trong cửa Ðại Ðạo.

Thiết tưởng dầu trong giới nào, từ cổ chí kim ai cũng lấy sự học tập làm phương pháp đào tạo nhân tài, nhứt là trong các tôn giáo, sự học hỏi lại càng cần thiết cho người tu sĩ do câu: "Tự giác nhi giác tha". Phải đủ sáng suốt mới có thể dìu đường cho kẻ khác, nếu mình không sáng suốt hoặc thông hiểu một cách mù mờ, tức nhiên tránh không khỏi sự lạc đường sai hướng và trên bước lạc lầm của mình, mình sẽ kéo theo cả một đoàn người do mình làm hướng đạo.

Ðức CHÍ TÔN có dạy: "Dầu làm Vua, làm Thầy, làm Công nghệ, làm Ðạo sĩ cũng cần phải có cái chí lớn mới thành tựu đặng".

Chúng ta nên quan niệm rằng trước khi lập chí, chúng ta cần phải lo học hỏi để trở nên sáng suốt tức là đem cái trí não ra khỏi vòng mê tối vậy.

Hội Thánh hằng để tâm lo lắng, muốn cho quý vị trở nên những nhơn vật xứng đáng đối với mặt Ðạo cũng như mặt Ðời, vì quý vị là những cộng sự viên cần yếu của Hội Thánh, đại diện cho Hội Thánh nơi địa phận mình trấn nhậm, tuy ở vào địa vị hạ cấp của guồng máy Hành Chánh Ðạo, nhưng quý vị có nhiệm vụ trọng yếu không kém gì các Chức Sắc cao cấp của Hội Thánh. Hơn nữa, quý vị là những người thân cận hằng ngày với tín đồ, hòa mình với nhơn sanh chia vui sớt nhọc với Bổn Ðạo trong mọi trường hợp thì quý vị chẳng nên khinh thường cái trách vụ cao đẹp của mình.

Cũng như ngoài mặt Ðời, nền tảng chính trị của quốc gia ở nơi Ấp, Xã, trong Ðạo Cao Ðài nền tảng Hành chánh Ðạo ở nơi Ấp và Hương Ðạo, rồi kế đến là Tộc Ðạo hay là Phận Ðạo.

Mặc dù ở vào hạ tầng cơ sở, nhưng nếu trong Ấp hoặc Hương Ðạo có điều xáo trộn trên dưới thiếu sự điều hòa, tín hữu có điều bất mãn, nhơn tâm ly tán, mất hẳn tình đoàn kết tương thân thì ở nơi cấp trên Hội Thánh cũng chịu ảnh hưởng không ít hay khó giữ uy tín đối với mặt Ðời và Bổn Ðạo.

Bởi thế đem thắng lợi vẻ vang về cho Ðạo hay làm cho Ðạo thất bại, mang tai tiếng cũng đều do nơi hành vi của quý vị.

Ðã mang danh là Hội Thánh em, quý vị nên thận trọng giữ gìn tư cách đứng đắn, làm cho người đời kính nể, người Ðạo tin cậy, đối đãi với toàn thể Tín hữu nơi địa phận mình như tình huynh đệ trong gia đình, đem tình thương chan rưới khắp cả Bổn đạo, giúp đỡ, nương nhờ lẫn nhau, thực hành câu: Nhứt gia hữu sự bá gia ưu.

Ðược như vậy dù cuộc đời chua cay bi đát đến mức nào, quý vị cũng không đến nỗi lâm vào cảnh khó khăn nan giải.

Ðiều cần nhứt là phải trọn hiếu với Ðức CHÍ TÔN Ðại Từ Phụ, giữ trọn trung thành với Hội Thánh, ngoài ra gắng công học hỏi, noi gương Thánh trước Hiền xưa mà rèn luyện đức tốt tánh lành. Tiền tài châu báu có nhiều giá trị ở đời, nhưng đức tốt tánh lành có giá trị hơn nữa. Tiền tài châu báu có thể bị chúng cướp giựt chớ đức tốt tánh lành không thể nào mất được và khi xác thân ta trở về với cát bụi, những đức tốt tánh lành sẽ theo linh hồn ta để nâng cao địa vị ta nơi cõi Thiêng liêng. Ðức CHÍ TÔN có cho bài thi dạy rằng:

  Ðược vàng chớ khá gọi là may,
Vàng hết tội kia chất dẫy đầy.
Bỏ đức bỏ nhân bao kiếp đọa,
Khuyên con giữ Ðạọ đến cùng Thầy.

Phân biệt đựơc lẽ cao thấp giữa tinh thần và vật chất, quý vị nên quí trọng cái thiên chức ấy.

Muốn làm tròn thiên chức, quý vị nên thực thi mấy điều sau đây:

1/- Thực hành trọn vẹn Tứ đại Ðiều qui ấn định nơi chương V Tân Luật.

2/- Phải giữ dạ vô tư mà cư xử với Bổn Ðạo, không vì ai giàu mà trọng đãi, ai nghèo mà khinh khi.

3/- Chỉ thi hành những việc do Hội Thánh ra lịnh bằng văn kiện chính thức, không nên chia phe phân nhóm làm mất sự đoàn kết thân mật trong Bổn Ðạo và gây sự khó khăn cho Hội Thánh.

4/- Nếu có điều khó khăn không giải quyết được phải thỉnh giáo bề trên, không nên phán định sơ xuất.

5/- Trong trường hợp nào cũng phải giữ uy tín của mình và nâng cao uy quyền của Hội Thánh.

Nếu quý vị tuân hành đúng theo lề lối ghi trên đây, tôi tin chắc quý vị sẽ thành công mỹ mãn và sẽ được người Ðạo cũng như người Ðời kính phục.

Ðã dấn thân vào trường thi công quả, quý vị phải chịu khó nhọc làm cho cái vốn đạo đức của mình ngày càng tăng lên mãi, phải biết ưa thích công việc mình làm thì việc làm mới có thành quả tốt đẹp và sẽ đem hạnh phúc đến cho mình, vì hạnh phúc không cốt làm việc gì ta thích mà thích việc gì ta làm.

Cái vốn Ðạo Ðức mà quý vị cố gắng góp nhặt và dành dụm, ngày sau sẽ giúp cho quý vị được mãn nguyện, vì quý vị sẽ đạt đến địa vị trọng yếu trong hàng Thánh Thể Ðức CHÍ TÔN và ngày đó quý vị sẽ không tiếc công học hỏi cần cù nơi Hạnh Ðường mà quý vị đang hiện diện trong cuộc Lễ Khai Giảng hôm nay.

Thưa quý vị, trước khi dứt lời, nhơn danh Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, tôi xin chúc quý vị tiến triển khả quan trên đường học vấn và cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU ban ơn cho toàn thể quý vị Nam Nữ.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

 

(Trích Thông Tin số 9, ngày 27/07/1970)

 


 

CON ÐƯỜNG GIẢI THOÁT

(Bài Thuyết Ðạo của Ðức Thượng Sanh)

 

Kính Thưa Quý Vị,

Mỗi Tôn Giáo, dầu Thích giáo, Lão giáo hay Nho giáo đều có tôn chỉ khuyên người lánh dữ làm lành, dưỡng tánh tu tâm để đi đến con đường giải thoát.

Phật giáo gọi Ðời là bể khổ, nước mắt chúng sanh trong ba nghìn thế giới, đem chứa tích lại còn nhiều hơn nước trong bốn biển.

Ðức CHÍ TÔN NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ dạy rằng: Cõi Ðời là nơi con người bị đày đọa, đặng trả cho xong nợ tiền khiên. Nếu trả chưa dứt nợ, thì phải chịu trầm luân mãi cho đến khi vay trả vẹn toàn mới được giải thoát.

Muốn được giải thoát, con người phải lo tu hành, phải sống một đời thanh bạch, tránh chốn cạnh tranh giành giựt, trau giồi hạnh đức và lập công quả để làm nấc thang bước lên khỏi chốn mê đồ, thoát vòng tục lụy.

Dìu dắt con người đi trọn vẹn trên đường Thánh đức, là mục đích chung của các Ðạo giáo.

Mục đích đó, người theo Ðạo có thể quên đi, nhưng nó vẫn có sẳn trong kinh điển.

Muốn vạch con đường cho nhơn sanh thoát nơi biển khổ, tránh đọa luân hồi, Ðức Phật THÍCH CA dạy phải diệt cái bản ngã, dứt hết mọi tình lưu luyến, coi sự đời là mộng ảo, đoạn tuyệt sự ham muốn, trừ khử vô minh để về với chân như bất sanh bất diệt.

Ðức LÃO TỬ thì coi thường mọi việc thế tình, cho công danh phú quí là phù vân, nên chủ trương cái thái độ hờ hững lãnh đạm với ngoại giới.

Ðức Ngài quan niệm cái nguyên lý sinh tồn tự thể của con người, với cái nguyên tắc sinh tồn bản thể của vũ trụ, có những mối tương quan vô hình nhưng chặc chẽ, làm nhân duyên sinh khởi tồn tại cho nhau, nên muốn thanh tịnh vô vi để hòa mình cùng Ðạo, hầu tìm phương trường sanh bất tử.

Chúa JÉSUS thì long trọng phán truyền cho nhân loại: "Các con hãy trở nên hoàn thiện như Cha các con trên trời".

Ðức KHỔNG TỬ thì áp dụng triệt để khẩu hiệu: "Thành chi" tức là tiến tới hoàn thiện. Thuyết 'Thành chi của Ðức Ngài chia ra làm hai giai đoạn: Thành kỷ và Thành nhân, tức là hoàn thiện mình trước, rồi giúp người hoàn thiện như mình, để phối hiệp cùng Ðấng THƯỢNG ÐẾ.

Vì hiểu thấu con người tuy hèn mọn đối với võ trụ, nhưng được ban cho một định luật linh diệu là có thể tu tâm dưỡng tánh, để phối hợp với Trời, và Trời bao giờ cũng ở trong tâm hồn chúng ta, nên Ðức KHỔNG TỬ cảm thấy mình tràn ngập vui sướng mới dám nói lên: "Triêu văn Ðạo, tịch tử khả hỷ", có nghĩa: Sáng nghe biết Ðạo, chiều chết cũng vui.

Ðể hoàn thiện mình, Ðức Ngài áp dụng định luật "Trật tự" và "Hòa hợp" của Trời đất.

Quan niệm của Ðức Ngài là phải đem trật tự lại trong con người, tức là phải sửa ngay ngắn lại những gì chêch lệch, phải chấn chỉnh lại những gì gian tà, phải đem thành thực lại thế cho những gì giả dối. Ðể thực hành việc đó, Ðức Ngài dùng những phương pháp: Ý thành, Tâm chánh, Thân tu, Gia tề, Quốc trị, Thiên hạ bình.

Trật tự tu tỉnh lại bản thân đó gọi là Trung. Kế đó đem trật tự gieo lại cho người khác, cho họ hoàn thiện như mình gọi là Thứ.

Trung và Thứ hòa hợp với nhau, để đem công bình, bác ái lại cho thiên hạ, cùng nhau góp sức chung vai nâng đỡ nhau về cùng Thượng Ðế toàn thiện toàn mỹ.

Như vậy bản thân mình sẽ là khúc nhạc, gia đình mình là khúc nhạc và quốc gia, xã hội cũng là khúc nhạc.

Khúc nhạc nhơn quần đó sẽ hòa tấu cùng khúc nhạc võ trụ.

Huyền diệu thay! Hòa bình vĩnh cửu, hạnh phúc trường tồn sẽ do đó mà phát sinh.

Tánh ích kỷ của phàm phu, lòng ganh tỵ của tục tử không còn có nữa.

Nơi bến chợ đời, người ta không còn trông thấy sự cấu xé giết hại nhau vì một miếng ăn hay mảnh áo. Lễ nghĩa ngập tràn trong xã hội, trẻ biết kính già, lớn biết thương nhỏ, đi đường nhường bước, của rơi không mất. Kẻ nghèo khó được đỡ nâng, thì đạo tặc phải vắng bóng.

Cái đời thái bình thịnh trị đó là đời Thánh đức của nhà Châu dưới quyền thống trị của vua Văn Vương ở vào năm 1120 trước Tây lịch.

Nhơn dân được vui hưởng hạnh phúc, gia vô bế hộ, lộ bất thập di, trong nước không có nhà tù, vì không có tội nhơn. Nếu vạn bất đắc dĩ phải răn phạt người sái phép, thì nhà cầm quyền chỉ vẽ một vòng tròn nơi một khoản đất nào, rồi bắt người phạm tội vào ngồi trong đó một hay là nhiều ngày, gọi là cách giam phạt tội nhơn. Mặc dù không cắt người canh giữ, nhưng tội nhơn không khi nào dám bước ra khỏi cái vòng vẽ đó và đợi đến mãn giờ phạt, có lịnh cho đi mới dám đi.

Ðời Thánh Ðức đó Ðức KHỔNG TỬ muốn đem Ðạo của Ðức Ngài mà tạo trở lại trên nước Trung Hoa.

Ðó cũng là cơ giải thoát hữu hình do thuyết Trung Hòa mà Ðức Ngài hằng lập tâm thực hiện.

Nhưng Ðức Ngài đã thất bại, vì gặp nhằm Xuân Thu thời đại, loạn lạc bốn phương, dân tình khổ sở, Vua thì yếu đuối, mất hết quyền hành, các chư hầu thì đua nhau tranh bá xưng hùng, không ai thiết gì đến nhơn nghĩa.

Ngày nay từ Âu sang Á, làn sóng văn minh tràn ngập khắp nơi, vật chất lấn áp tinh thần khiến cho nền luân lý cổ truyền cõi Á đông phải luân lạc.

Bởi Hạ ngươn hầu mãn, nên Ðức CHÍ TÔN NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ dùng huyền diệu cơ bút lập ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ với tôn chỉ qui nguyên Tam giáo, hiệp nhứt Ngũ chi.

Lấy Nho tông chuyển thế, lấy sự thương yêu là phương pháp thực hành chánh Ðạo. Ðức CHÍ TÔN quyết cứu vớt những kẻ hữu căn thoát vòng khổ hải, tránh đọa luân hồi hầu vui hưởng một hạnh phúc vĩnh cửu.

Cơ giải thoát chúng sanh lần nầy là lần cuối cùng, Ðức CHÍ TÔN phải ra công dạy dỗ cho toàn thể tín hữu biết hồi tâm hướng thiện, quay về đường chánh giáo tu tâm dưỡng tánh, lập công bồi đức hầu ngày chung qui được hội hiệp với Người nơi cõi Thiêng Liêng hằng sống.

Mở rộng trường thi công quả, Ðức CHÍ TÔN quyết lòng chỉ bảo cho các môn đệ có thể lập vị cho mình và độ rỗi nhơn sanh còn sa ngã trong vòng tục lụy.

Ðại Từ Phụ lại sợ cơ thử thách quá cay nghiệt, nên có dạy rằng: "Ngày nào Ðạo đã khai tức là tà khởi. Các con phải hết sức mà gìn giữ lấy mình. Chẳng những giữ mình các con mà thôi, lại còn phải giữ gìn cả môn đệ Thầy nữa. Những mưu chước của tà mỵ làm ngăn trở bước đường Thánh đạo của các con, đó là do Thầy dùng để thử các con. Vì vậy, Thầy đã thả một lủ hổ lang ở lộn cùng các con, chúng nó hằng thừa dịp cắn xé các con. Song trước, Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp chúng nó chẳng hề thấy đặng, đó là đạo đức của các con. Thầy lại khuyên các con gìn giữ bộ thiết giáp cho đến ngày hội hiệp cùng Thầy.

Ấy vậy, Ðạo rất hữu ích cho con người như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lổ, còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép tà thần".

Ðức CHÍ TÔN lo lắng cho môn sinh như thế, là vì trên trường đời đầy dẩy những cạm bẩy hiểm nguy. Lòng ham muốn của con người lại vô bờ bến: Nào lợi, nào danh, nào tiền tài, nào tửu sắc.

Trước bao nhiêu cuộc quyến rũ, con người mất hết huệ khí thiên lương nên phải sa ngã vào đường tội lỗi.

Nhưng, người đã quyết chí tu hành, quyết lánh giả tầm chơn, đã xả thân cầu Ðạo, xả phú cầu bần thì sự quyến rũ nào lôi cuốn được?

May duyên gặp thời kỳ đại ân xá nầy, đó là cơ hội "Ngàn năm một thuở" Ðức CHÍ TÔN ÐẠI TỪ PHỤ, lại tha thiết nhủ khuyên, ân cần dìu dắt, thì hỡi ai, còn tiếc chi tuồng đời mộng ảo mà phải để cho công phu lở dở?

Ðời người qua thấm thoát như cửa sổ thoát vó câu, như ngọn đèn treo trước gió, người tu hành chẳng nên bỏ mất thì giờ, phải mau chơn tiến bước trên đường nghĩa vụ.

Giữa trường đời gió bụi, mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết, người Tín hữu CAO ÐÀI lại may mắn được che chở dưới bóng từ bi của Ðức THƯỢNG ÐẾ, lại được Ơn Trên ban cho một món báu mầu nhiệm riêng biệt mà từ ngàn xưa chưa hề có trên thế gian.

Ðó là cơ giải thoát, mà muốn đạt được, người hành đạo duy có trải tâm chơn thành, giồi trau hạnh đức hầu tế độ nhơn sanh quay về chánh giác.

Các ân huệ đó lớn lao biết bao nhiêu!

Hội Thánh trông mong mỗi Tín hữu nên lưu tâm và đừng để mất cơ hội./.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

 

(Trích Thông Tin số 7, ngày 28/06/1970)

 


 

LIÊM KHIẾT

(Bài Thuyết Ðạo của Ðức THƯỢNG SANH)

 

Trong xã hội, phần nhiều những người có tinh thần Nho học và có nhiểm mùi đạo đức, đều gồm có những đức tính cao quí như Trung, Hiếu, Nghĩa Liêm, Chính.

Liêm là một đức tính ít người được có và những ai đã thực hành được chữ Liêm cũng cho là bậc phi thường trong thiên hạ.

Liêm là gì?

Liêm tức là thanh liêm, liêm khiết, hay khiết kỷ, là bản tánh trong sạch, không nhơ bợn một mảy gì, một vật gì, một món tiền của nào bất chánh, không phải do nơi công lao của mình làm ra.

Có người chịu lao lực vất vả suốt ngày, đầu tắt mặt tối để được hưởng một món tiền vừa đủ nuôi thân, nhưng vẫn bằng lòng với số phận. Nếu có ai đem cho một số tiền lớn và xúi giục làm một việc bất công, thì nhất định không nhận, thà chịu ở trong cảnh nghèo mà được trong sạch.

Xưa dưới triều đại của những đấng minh quân thì dân được giáo hóa trong tinh thần Nho giáo, nên phần nhiều là người có đức hạnh và nhơn phẩm cao qúi, trừ ra một phần ít là hạng người thất học, mới có những tánh xấu, tham lam hèn hạ mà thôi.

Còn những quan cai trị là những bậc liêm chánh, giữ mình thật trong sạch để làm gương cho đoàn hậu tấn.

Cụ Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều có tả đời thung dung tự toại của vị quan liêm chính bằng hai câu:

  "Cầm đường ngày tháng thanh nhàn,
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu tao."

Ðó là lấy tích ông Triệu Biên đời Tống làm quan thanh liêm đến nỗi khi đi phó nhậm chỗ nầy sang chỗ khác, chỉ đem theo một con hạc và một cây đàn Cầm chứ không có món chi đáng giá.

Những hạng người chơn chánh như vậy, Nho giáo cho là hạng Quân tử. Quân tử đây có nghĩa là cao thượng đáng tôn kính.

Hạng Quân tử không bao giờ quan tâm đến sự phú quí.

Không phải là họ ghét sự phú quí, mà chỉ vì họ trọng đạo quá nên phú quí không đủ mãnh lực làm cho họ phải thèm muốn. Hơn nữa, họ cũng quan niệm hể vi phú thì bất nhân, thà vi nhơn bất phú.

Ðức KHỔNG TỬ dạy rằng: "Giàu sang ai cũng muốn, nhưng không lấy đạo nghĩa mà được thì quyết không nhận. Nghèo hèn ai cũng ghét, nhưng không lấy lẽ phải làm cho khỏi thì đành chịu nghèo". Ngài nói: "Ăn cơm hẩm, uống nước lã, co tay gối đầu thật là cảnh buồn mà ta có thú vui trong đó, còn làm điều bất nghĩa mà được giàu sang, ý ta coi như đám mây nổi".

Tánh liêm khiết nâng cao giá trị con người và làm cho người được thơ thới, dầu cho ở trong cảnh nghèo khó người ta cũng hảnh diện tự tìm sự vui trong chỗ thanh cao khác thường của mình, vì ngó lên không thẹn với Trời, dòm xuống không hổ với thiên hạ.

Người thanh bần như vậy thì vui sướng hơn kẻ giàu mà sâu mọt, lường công tham của, thâu đa nạp thiểu, hoặc lợi dụng quyền thế để rút rỉa dân nghèo khép chặt cửa công, mở rộng cửa tư để dục vọng được thỏa mãn.

Vì làm giàu với những hành động bất chánh nên họ vẫn cứ phập phồng lo sợ không biết cơ mưu sẽ bại lộ ngày nào.

Ðó thiệt là "Thanh bần thường lạc, trược phú đa ưu". Lại có câu "Hoạnh tài bất phú", ham dụng của phi nghĩa rốt cuộc cũng không hưởng được bền lâu, phép nước dầu không trừng trị thì luật Trời cũng không thứ tha, thiện ác đều có sự báo ứng.

Sau đây là một gương liêm khiết của người quân tử, đã được lưu truyền muôn đời ca tụng.

Ðời Chiến Quốc có người lượm được hòn ngọc quí, bèn đem dâng hiến cho quan thái thú tại chỗ là Tử Hản để cầu thân, vị quan nầy nhứt định không nhận, người dâng ngọc thưa rằng: Ngọc nầy tôi đã đem cho thợ mài ngọc xem, quả đúng là một bảo vật mới dám đem dâng cho quan lớn, xin quan lớn nhận dùm cho tôi vui lòng.

Tử Hản nói: Ngươi có ngọc là báu của ngươi, còn ta giữ tánh liêm khiết là báu của ta. Ngươi cho ta ngọc, nếu ta thâu nhận thì cả hai đều mất của báu. Vậy ngươi cứ đem về, ngươi giữ của báu của ngươi, ta giữ của báu của ta. Như thế, hai người đều còn của báu, há chẳng hay hơn sao?

Người dâng ngọc liền thưa: tôi là thường dân mà cầm ngọc nầy, sợ phải bị trộm cướp mà hại đến thân, nên không dám giữ nó.

Tử Hản bèn lưu người ấy lại kêu thợ đến mài ngọc, bán dùm được một số tiền lớn rồi giao cho đem về làm vốn sanh nhai.

Trong một bài Thánh giáo, Ðức CHÍ TÔN có nêu gương hai nhà hiền triết thuở xưa mà đời còn nhắc nhở trong hai câu:

  "Hớn Lưu Khoan trách dân bồ tiên thị nhục,
Hạng Trọng Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền."

Thánh giáo có giải rằng: Ðời Hớn ông Lưu Khoan lấy đức trị dân, khi dân phạm tội thì đánh bằng cái roi bồ, roi lát để tượng trưng sự răn phạt vậy thôi, chớ không bắt tù đày chi hết.

Còn nước Hạng có ông Trọng Sơn giữ tánh liêm khiết cho đến đổi khi dẫn ngựa đến suối cho uống nước, lấy tiền quăng xuống suối, để trả tiền nước.Ý muốn tỏ, dầu nước suối là của thiên nhiên, cũng không muốn nhơ bợn, không thèm lợi dụng.

Trong cửa Ðại Ðạo, Ðức CHÍ TÔN đã từng dạy Chức sắc phải giữ mình thật trong sạch.

Có trong sạch, người hành đạo mới biết tự trọng, biết lẽ công bình, dìu dắt nhơn sanh trên đường Thánh đức.

Vả lại, người tu hành đã gọi là Xả thân cầu Ðạo quyết hiến thân cho chủ nghĩa thương đời thì liêm khiết là một đức tính đương nhiên phải có. Chức sắc thiếu liêm khiết, cửa Ðạo là bến chợ đời chớ không còn là cửa Ðạo nữa.

Ðức CHÍ TÔN có dạy rằng: "Thầy nhớ xưa kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, hài gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau xiêu giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ mới có thể lập ngôi cho mình được".

Bậc chơn tu xưa được như vậy, nay Ðức CHÍ TÔN chẳng phải không thể dạy con cái của Người được như hạng cao khiết ấy, nhưng trên có lời giáo hóa dưới phải cố gắng thực hành thì kết quả mới khả quan, tâm phàm mới trở nên chí Thánh.

Nói tóm lại, Liêm khiết là một đức tính đáng kính của bậc Hiền nhơn quân tử. Quí hóa thay; nếu trong cửa Ðạo Chức sắc đồng nêu gương Liêm khiết để tạo một uy tín vẻ vang đối với mặt đời thì nhiệm vụ phổ độ của chúng ta sẽ trở nên nhẹ nhàng thơ thới./.

 

(Trích Thông Tin số 10, ngày 11/8/1970)

 


 

HUẤN TỪ

của Ðức THƯỢNG SANH
Trong dịp Hội Thánh đãi tiệc Chư Chức sắc và Nhân viên công quả
Tại Hạnh Ðường ngày 18 tháng Giêng Tân Hợi (dl. 13/2/1971)

 

Kính Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,
Kính Quý Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu Nam Nữ,

Thắm thoát ngày tháng trôi qua, với trăm hoa đua nở muôn tía ngàn hồng cũng như bao nhiêu Xuân trước, những quang cảnh vô tri thì tươi đẹp theo lệ thường mà tình hình đất nước Việt Nam vẫn còn mịt mờ trong khói lửa, dân chúng vẫn lầm than, cảnh đời còn đen tối; Gượng vui để khỏa lấp cái buồn khổ chung của nòi giống.

Trong khi chào đón Xuân mới, người Ðạo Cao Ðài hy vọng và cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN mở lượng từ bi xoay trở thế cuộc, ban ân huệ cho dân tộc Việt Thường chóng thoát nạn chiến tranh, sớm vui hưởng đời thanh bình vĩnh cửu, người có sứ mạng Thể Thiên hành hóa mới có cơ thuận tiện tận tâm lo dìu dắt nhơn sanh trên đường giải thoát.

Mỗi độ Xuân về, dù cảnh đời biến chuyển thế nào, những Chức sắc có nhiệm vụ nơi các địa phương cũng giữ thường lệ trở về Tòa Thánh để dâng lễ đầu năm ra mắt Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU, sau để tiếp xúc với Hội Thánh và vui cuộc đoàn viên với anh chị em trong cửa Ðạo.

Trong bữa tiệc ủy lạo nầy, sự hiện diện đông đủ của toàn thể Chức sắc các cấp bậc và nhơn viên Công quả chứng tỏ mối dây thân ái đã thắt chặt tình huynh đệ thiêng liêng giữa con cái Ðức CHÍ TÔN. Hôm nay đoàn tụ trong bầu êm ấm vui tươi dưới mái gia đình của nền Ðại Ðạo, sự đoàn kết chặc chẽ nầy tiêu biểu một sức mạnh phi thường có thể dời non lấp bể, nếu những quả tim của tất cả các bạn Ðạo đều cùng đập một nhịp yêu đương và cương quyết làm tròn nhiệm vụ. Chúng ta phải cố gắng giữ gìn cho cái sức mạnh tinh thần đó còn nguyên vẹn mãi mãi, để làm nền tảng kiên cố cho cơ quan phổ độ tồn tại đến thất ức niên và tạo nên nhiều phương tiện trên đường lối xây đựng cơ nghiệp Ðạo.

Ðời mạt pháp hầu tàn, sự hung bạo của con người đã lên đến cực điểm. Trước sự tiến triển của văn minh vật chất, trước sự đổ vở của Ðạo lý luân thường, trường đời là một trận mê hồn, mà sự xa hoa hào nhoáng có thể gây tai họa lớn lao cho kẻ tu hành. Chúng ta cần phải chung lưng đâu cật, nương nhờ lẫn nhau, giữ gìn cho nhau, đem tinh thần đạo đức nhập lại thành một khối cứng rắn đặng đối phó với cơ thử thách bất thường thì mới khỏi bị sa ngã vào cạm bẫy của tà quyền để đi trọn vẹn trên đường Thánh đức. Phần đông Chức sắc có đức tin vững chắc, có quan niệm rõ rệt về sứ mạng Thiêng liêng của mình nên nhứt quyết không để cho ai chi phối, mặc dù giọng kèn tiếng quyển vẫn luôn luôn to nhỏ bên tai để chực cuốn theo đường lối bất hảo. Trái lại, một phần Chức sắc dù là thiểu số, vì cơ thử thách quá nặng nề, nên không đủ nghị lực để cượng nỗi với sự quyến rũ của những kẻ biết lợi dụng thời cơ nên phải sa ngã vào chỗ lạc lầm, có lẽ phải gánh trọn cái hậu quả thất thệ đối với quyền Thiêng liêng, tuân theo Thánh đức Ðức CHÍ TÔN, Hội Thánh quyết giữ vững lập trường Tôn giáo thuần túy, không ra khỏi phạm vi đạo đức, vượt mình lên cao hơn những nghị luận của thế gian, nên khỏi vướng vào cuộc phiêu lưu nguy hiểm trên trường chánh trị. Nhờ vậy mà thanh danh Tòa Thánh Tây Ninh được nâng cao, Hội Thánh nắm vững Luật Pháp và Chơn Truyền điều khiển bước Ðạo được điều hòa êm ấm.

Chúng tôi thường nghe nhiều Tín hữu hoặc người trong các giới hỏi rằng: Tại sao Tòa Thánh Tây Ninh vẫn trầm lặng, không nói lên ý kiến chi đối với thời cuộc, trong lúc các Tôn giáo khác đã có tiếng vang dội kêu gọi hòa bình cho đất nước.

Xin thưa rằng: Trị nước an dân thì có nhà cầm quyền Quốc gia, lèo lái con thuyền Ðạo thì có nhà lãnh đạo tinh thần của Tôn Giáo. Tôn giáo không có thể xoay chuyển vận nước được, cũng như Chánh quyền không thể điều khiển Tôn giáo, thế thì chúng ta kêu gọi, la lối để làm gì? Nếu đem chính trị nhập vào Tôn giáo, chắc chắn Tôn giáo sẽ đi sai lạc hướng và nắm thất bại trong tay. Còn như hô hào tở mở vạch lối chỉ đường theo quan niệm của mình, thử hỏi mình có thực hành được theo như sự hô hào hay không? Hai bên Chánh phủ đối phương có chịu nhận mình làm trọng tài để phán quyết hay không? Ví như nghe người ta kêu gào, mình cũng bắt chước kêu gào, thấy ai nhảy mình cũng nhảy, ai múa mình cũng múa, quý vị hãy tưởng tượng thiên hạ sẽ bình phẩm mình ra sao? Vả lại hoạt động chính trị chẳng phải một việc mà ai cũng có thể làm được bất cứ ở vào trình độ văn hóa nào, chính trị rất quan trọng vì nó có liên hệ với sự trị loạn của quốc gia và phúc họa của dân tộc.

Ðức Khổng Tử nói rằng: Trong đạo làm người chánh trị là việc lớn (Nhơn đạo chính vi đại). Cho nên người làm chính trị phải có đủ tài đức, trọng nghĩa, ái nhân thì mới có thể giúp ích cho dân, cho nước. Nếu thiếu kinh nghiệm, kém tài, thiếu đức chỉ biết chạy theo bả lợi mồi danh thì vận nước phải suy vi, dân tình thống khổ. Mục đích của chính trị là làm cho quốc gia hưng vượng, công lý thăng bằng, nhân dân no ấm, đó là đường lối chính trị thời xưa của những bậc ưu thời mẫn thế. Thời nay, quý vị thử nhìn quanh sân khấu đời coi những nhân vật hoạt động chính trị có bao nhiêu người vì nước, vì dân, biết lo quốc kế dân sinh, mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào. Hay là phần đông chỉ là những kẻ tay sai cho thế lực kim tiền? Lợi dụng địa vị hoành hành thiên hạ, bốc lột nhân sanh, khoát nạt trước đám dân đen, cúi rạp mình trước người thượng cấp, lấy nhục làm vinh, lấy xấu làm tốt, miễn lo cho đầy túi tham, không cần nghĩ tới hậu quả việc làm đen tối của mình.

Người đã khép mình trong cảnh giới tu hành đã xả thân cầu Ðạo, thấy diễn những lớp tuồng bẩn thỉu như vậy cũng đã bất bình, chán ngán. Không lẽ còn mê luyến hồng trần, ham mùi chung đỉnh để rồi phải chịu lỡ dở công phu trên đường lập vị. Không lẽ đã lánh khỏi bến sông mê, người tu sĩ còn đi trở lại đoạn đường phiền não; tức là từ trên cao bổng sa xuống chỗ thấp hèn, từ chỗ sạch trong bổng gieo mình vào nơi ô trược.

Là môn đệ của Ðức CHÍ TÔN, là Chức sắc Thiên phong, chúng ta không thể làm như vậy và tôi tin rằng quý vị cũng đồng có cái quan niệm đó.

Dung ruổi trên đường tục lụy, người ta chạy theo danh vọng tiền tài, chúng ta chạy theo nghĩa nhân đạo đức, người ta đạp đổ lầu đài tinh thần trong sự tranh giành quyền lợi, mưu hại lẫn nhau, chúng ta củng cố đạo tâm, vun trồng cội phúc.

Ðời càng tỏ ra đê hèn, hạ tiện, chúng ta càng tỏ ra chơn chánh, siêu phàm, thiên hạ cúi mình bò lết trong chỗ nhơ bẩn vì chút ít lợi quyền, chúng ta phải vươn mình lên cao để đón hứng mùi hương thanh thoát, làm cho trí óc trở nên phi thường và tâm hồn thơ thới. Mùi hương đó là mùi Ðại Ðạo do ngọn gió Thiêng liêng của Ðấng CHÍ TÔN đưa đến bên chúng ta để thổi vẹt không khí ô trược, mê hồn mà trước kia chúng ta bị thâm nhiễm.

Ðạo và Ðời khác nhau ở chỗ một cao, một thấp, một trắng một đen. Nếu Ðạo cũng là đà nơi chỗ thấp hèn như ở bến chợ đời thì Ðạo có ích gì cho chúng sanh? Và Ðạo lấy gì để làm gương mẫu và cảnh tỉnh thiên hạ? Ðược nuôi dưỡng trong tình thương của Ðức CHÍ TÔN, Chức sắc Thiên phong là những bậc Thánh hiền trong cửa Ðạo. Hễ làm bậc Thánh hiền thì phải có tư cách thanh cao, tánh tình phong nhã, phải trau dồi tâm trí cho ra bậc phi thường để cho đàn em noi gương mà tiến bước. Bực phi thường tức là người đã vượt khỏi mức thường tình không sân, si, hỉ, nộ như kẻ phàm phu, phải đi ngược với thế tình, tức là trọng tinh thần, khinh vật chất, ham nhơn nghĩa, lánh vạy tà, bỏ thói kiêu sa, bỏ lòng tự ái, đó là giữ đúng mức siêu nhiên của một phần tử trong Thánh thể Ðức CHÍ TÔN.

Chúng ta thường mục kích người Chức sắc hay có cái tự ái không đúng chỗ, ưa tiếng khen mà ghét lời chỉ trích. Trong thực tế thì những ai ưa lời khen tặng thường bị quyến rũ bởi lời đường mật, có khi phải sa ngã vào đường bất chánh. Còn những ai ưa nghe lời chỉ trích và tự xét mình sẽ trở nên bậc chí Thánh.

Xưa Võ Vương nhà Châu nghe một lời nói phải thì bái phục. Thầy Tử Lộ nghe người ta bảo mình có lầm lỗi thì vui mừng (Võ Vương văn thiện ngôn tắc bái, Tử Lộ nhơn cáo tri hữu quá tắc hỉ).

Nho học có dạy: Ai nói điều xấu của ta đó là thầy ta, ai nói tốt cho ta đó là giặc của ta. (Ðạo ngô ác giả thị ngô sư, Ðạo ngô hảo giã thị ngô tặc). Vì vậy khi chúng ta nghe người ta khen mình, dù là lời khen thành thật và đúng chỗ, chúng ta phải kể lời khen đó như một luồng thanh phong, nên để cho nó thoảng qua mà đừng quá tưởng niệm. Trái lại, chúng ta nên để ý lời chỉ trích đúng chỗ, chúng ta nên tự nhận và lập tâm hối cải, ví như lời chỉ trích chỉ do sự ganh tỵ mà ra thì ta nên thản nhiên tiếp tục làm việc phải. Trời không vì người ta sợ rét mà thôi mùa đông, Ðất không vì người ta sợ xa mà thâu hẹp lại, người Quân tử không vì lời nghị luận xuyên tạc của tha nhân mà thôi việc làm chánh trực của mình.

Kính thưa quý vị,

Trong lúc khói lửa chiến tranh còn bao trùm đất nước, nền Ðại Ðạo tuy không được bành trướng khả quan nhưng nhờ sự trung thành và sự tận tâm phục vụ của phần đại đa số Chức sắc nơi Trung ương và Ðịa phương, nên phương diện tinh thần của Ðại Ðạo vững mức cao siêu, cái danh liêm khiết của Hội Thánh cũng như chí hy sinh của Chức sắc được các giới trí thức ngoài mặt đời ngợi khen và kính nể. Chúng ta phải đồng tâm nhứt trí tiếp tục giữ vững thanh danh của Tòa Thánh Tây Ninh, uy quyền của Hội Thánh và nhân cách phi phàm của người tu hành, thì dù gặp bao nhiêu khó khăn chúng ta cũng sẽ lướt qua để xây dựng cho nền Ðại Ðạo một tương lai sáng lạng và tươi đẹp hơn.

Nhơn bữa tiệc thân mật hôm nay, thay mặt Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, tôi xin chân thành cầu chúc Quý Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu Nam Nữ gặp nhiều may mắn để đạt thắng lợi hoàn toàn trên đường phụng sự cho Ðạo và cho nhơn sanh, cầu nguyện Ðức CHÍ TÔN và Ðức PHẬT MẪU ban ân lành cho toàn thể Quý vị./.

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

 


 

PHƯƠNG PHÁP TU THÂN
và Thuyết TAM LẬP

 

Theo Kinh Dịch và Trung Dung thì Trời là Ðấng cao trọng nhứt, sinh ra quần linh vạn vật, biến hóa âm dương mà tạo thành võ trụ. Ðó là Ðấng hoàn hảo tột bực rất thiêng liêng, vô hình ảnh nhưng hành động không ngừng, tự diễn xuất bằng những hiện tượng, bành trướng rất sâu xa, huyền diệu, cao thâm, sáng suốt, nâng đỡ và chở che muôn loài vạn vật.

Thật không hiện mà rõ, không động mà biến hóa vô cùng, không làm mà nên việc. Nhờ đó bốn mùa thay đổi, muôn vật sanh sản, võ trụ trường tồn.

Ðấng hoàn hảo đó là Trời, là THƯỢNG ÐẾ. Ðức Khổng Tử nói rằng: Ðấng THƯỢNG ÐẾ ngự trị trong thâm tâm của mỗi người dưới hình thức lương tâm. Ðạo làm người là noi theo Trời tức là tâm linh đó, Tôn giáo là phương pháp thi hành Ðạo đó, tức là: Thiên mạng chi vị tính, xuất tính chi vị Ðạo, tu Ðạo chi vị Giáo.

Mục đích là tu thân, nghe theo tiếng của lương tâm, tiến tới hoàn thiện để kết hợp với Trời và giáo hóa người khác trở nên hoàn thiện như mình.

Vì vậy việc tu thân rất cần thiết cho mỗi người sống trong xã hội.

Sách Ðại Học có nói: "Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân nhứt thị giai dĩ tu thân vi bản", nghĩa là từ bậc vua chúa cho đến thứ dân ai cũng phải lấy sự sửa mình làm gốc.

Trong việc tu thân, sách Ðại Học vạch ra bốn công tác rõ rệt là: Chính tâm, thành ý, cách vật, trí tri. Muốn tự sửa mình trước phải giữ lòng dạ cho ngay thẳng, muốn giữ lòng dạ ngay thẳng trước phải luyện ý mình được thành thật, muốn cho ý mình thành thật, trước phải có kiến thức chu đáo và muốn có kiến thức chu đáo phải học và tìm biết suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật.

Khi đã trí tri và cách vật, khi đã có ý thành và tâm chánh tức là xúc tiến tới việc tu thân, Thân đã tu nhiên hậu mới có thể tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Vậy sự tu thân chẳng những là cần thiết cho đời mình mà còn rất quan hệ đến việc tấn hóa của quốc gia xã hội.

Hai chữ "Tu thân" không phải chỉ có một ý nghĩa tiêu cực là sửa trị nết xấu mà là bao hàm một chương trình rộng rải trau dồi tài đức. Tu thân cũng không phải chỉ có một quan niệm hoàn toàn về cá nhân, vì phép tắc đối với mình tức là "Xử kỷ" phải luôn luôn đi kèm với phép tắc đối với người và việc tức là "Tiếp vật".

Muốn được hoàn hảo trong việc xử kỷ và tiếp vật, con người cần phải thực hành phép Tam lập, tức là Lập Ðức, Lập Công và Lập Ngôn.

Sao gọi là Lập Ðức?

Thể theo triết học Nho giáo, Ðạo Trời có bốn đức là: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, tức là bốn lý pháp mầu nhiệm làm cho cơ sinh hóa vạn vật được điều hòa và thành tựu với tất cả những tốt đẹp thuần túy thiên nhiên.

Ðạo người cũng có bốn đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí cũng có công dụng và đặc tính y như bốn đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh của Ðấng Tạo Hóa.

Ðức Nhân:

Bởi cái đức lớn của Trời là sự sinh, thì đạo làm người phải theo đạo Trời mà bồi dưỡng sự sinh. Cái đức làm cho ta yêu người, yêu vật, muốn cho vạn vật cát đắc kỳ sở, đó là đức Nhân vậy.

Cái lòng yêu đó biểu lộ tự nhiên theo tiếng gọi của lương tâm, không có miễn cưỡng chút nào mà cũng không do ai xúi giục.

Chữ Nhân đem ra ứng dụng vào đời sống thì nó gồm tất cả nghĩa vụ làm người, nên Thầy Mạnh Tử nói Nhân là đạo làm người vậy.

Thực hành chữ Nhân tức là áp dụng Thiên lý vào đời sống thật tế.

Muốn làm điều Nhân, người ta phải giữ lòng ngay thẳng, chẳng cho tư dục xen vào tâm, để cho nguồn Thiên lý ở trong tâm ung dung phát triển rồi ta cứ theo tiếng nói thiêng liêng đó mà làm cho hết sức mình.

Theo tình cảm, trước hết ta phải thương những người thân cận như là cha, mẹ, anh, em và gia tộc, thứ nữa ta phải nới rộng tình thương tới cả nhơn loại, vì đức Nhân là tiêu chuẩn của lòng từ ái và tánh vị tha, không thể khép vào một chỗ chật hẹp được.

Thầy Mạnh Tử có quan niệm là lòng nhân ái ví như cái hoa của đời sống, sự sinh tồn thiết thực là tình thương tràn trề và sung mãn. Nếu lòng nhân ái không được nở nang đầy đủ thì nó như cái hoa héo trước khi nở.

Tóm lại người có lòng nhân phải trang nghiêm, phải có ý chí bền bỉ, không làm cho ai điều mình không muốn người làm cho mình, khiêm nhượng, khoan hồng, cần mẫn, quảng đại, thi ân huệ cho người, thương yêu mọi người và mong cải tạo xã hội.

Ngoài ra phải biết xét mình, biết so sánh mình với người, phải noi theo những phong tục tập quán tốt, những lễ nghi đương thời.

Xưa Ðức Khổng Tử vì khiêm tốn mà nói rằng: Ta đâu dám sánh với bực Thánh, bậc Nhân (Nhược Thánh dữ nhân tắc ngô khởi cảm).

Ðức Nghĩa

Ðức nghĩa là cử chỉ tác động theo đạo lý, theo lòng nhân nâng cao giá trị con người. Giúp đỡ một người nghèo đói, cứu vớt một kẻ té sông, chia sớt thống khổ của người già cả tật bịnh, đó là làm điều nghĩa.

Con người ai cũng có cái tánh ưa điều nghĩa, song không làm được điều nghĩa là tại cái lợi làm hỏng vậy. Người quân tử vẫn chủ tâm lấy cái nghĩa làm trọng hơn cái lợi. Theo các bậc hiền triết Nho giáo, nếu biết khiến lòng háo nghĩa thắng được lòng dục lợi thì thành ra điều hay, mà để lòng dục lợi đè được lòng háo nghĩa thì thành ra điều dở. Và nghĩa thắng được lợi là đời trị, lợi đè được nghĩa là đời loạn. (Nghĩa thắng lợi giã vi trị thế, lợi khắc nghĩa giã vi loạn thế)

Cho nên Nho học khuyên: "Tiên nghĩa nhi hậu lợi" tức là phải làm việc nghĩa trước rồi sau sẽ cầu lợi, đó là điều chánh đáng vậy.

Ðức Lễ:

Chữ Lễ chẳng phải chỉ dùng để nói về việc thờ phụng, cúng tế theo tôn giáo. Lễ cũng nói gồm cả những qui củ mà phong tục và tập quán của nhơn quần xã hội đã thừa nhận như Quan, Hôn, Tang, Tế v.v...Lễ cũng dùng để khiến sự hành vi của người ta cho có chừng mực và hợp với đạo lý, vì nếu không có Lễ thì mọi việc trên đời đều hỏng vì rối loạn.

Cho nên Ðức Khổng Tử dạy bảo Thầy Nhan Uyên rằng: Không phải lễ thì chớ trông, không phải lễ thì chớ nghe, không phải lễ thì chớ nói, không phải lễ thì chớ làm (Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động).

Ngoài ra Lễ còn có hiệu lực định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự trên dưới cho phân minh. Trong xã hội có vua tôi, thầy trò, cha con, chồng vợ, có người thân có kẻ sơ, có việc phải có việc trái, cho nên phải có lễ để phân biệt tôn ti, khiến người ta biết cư xử với nhau cho phải đạo, phân ra trật tự làm cho vạn vật không có điều chi hồ đồ hổn độn.

Lễ để ngừa sự loạn sinh ra cũng như bờ đê giữ cho nước không đến được. Người giàu sang biết lễ thì không bạo ngược, kiêu căng; người bần tiện biết lễ thì không nản chí, không làm bậy. Bậc vua chúa biết lễ thì mới biết cách trị nước an dân.

Bởi vậy các đấng đế vương đời trước sở dĩ trị được thiên hạ là vì hiểu rõ thị dục của người ta, nên mới đặt ra lễ và nghĩa để phân biệt cái lợi, cái hại, để trị thất tình, là hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục và sửa thập nghĩa là phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ để, phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung, đem sự hòa thuận, chuộng sự nhân nhượng, bỏ sự tranh cướp.

Trên thế gian, con người chỉ biết được cái đã rồi, không biết được cái sắp có, lễ là để cản ngăn trước việc chưa xảy ra, pháp luật là để trị việc đã có rồi.

Bởi vậy, Thánh nhân trọng lễ, chớ không trọng hình.

Ðức Trí:

Trí là một đức tính giúp chúng ta phân biệt điều lành lẽ dở, điều chánh lẽ tà.

Người trí luôn luôn theo đường đạo đức, tránh kẻ vạy tà, gần người lương thiện để nâng cao giá trị mình trên đường xử kỷ, tiếp vật.

Ðề cập tới cách luyện trí, Ðức Khổng Tử dạy ba điều:

1) Luyện trí bằng cách học hỏi người nay;

2) Bằng cách khảo cổ (học theo gương Thánh hiền thời xưa).

3) Bằng cách trầm tư mặc tưởng để định trí an thần, tầm cho ra chơn lý.

Nhờ có học hỏi con người mới được trí minh mẫn, thấy xa hiểu rộng. Trong sự học hỏi phải có chí thành, cương quyết không vì thấy khó mà bỏ dở nửa chừng.

Có điều mình chẳng học, nhưng đã học mà chẳng thành công thì không thối, có điều mình chẳng hỏi, nhưng hỏi mà không thông suốt thì không bao giờ chịu, có điều mình chẳng suy nghĩ, nhưng suy nghĩ mà không vỡ lẽ thì suy nghĩ mãi.

Có bền chí như vậy sự học mới có kết quả khả quan.

Trí được sáng suốt, mình mới tự biết mình và biết người.

Nếu làm người mà mình không tự biết mình thì thật lấy làm thương hại!

Biết người biết ta tức là bậc trí giả, không khi nào thất bại trên đường đời cũng như đường đạo.

Thầy Mạnh Tử nói: Cái kết quả chánh đại của đức Trí là sự thực hành rất kiên cố đức Nhân và đức Nghĩa. Vì vậy đức Trí và lòng Nhơn ái là hai kho quí báu của người hoàn thiện, là hai đức tính không rời nhau, vì không thể có cái nầy mà không có cái kia.

Tóm lại, biết được tác dụng của bốn đức căn bản của đạo

người rồi, chúng ta theo đó mà tập luyện cho hết sức mình, làm cho nhập tâm hầu áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình.

Nho giáo cho rằng người quân tử cần hợp đủ những đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Người nào còn thiếu kém về việc thực hành một điều nầy hay một điều khác trong bốn đức tính căn bản đó thì không xứng đáng là người học Ðạo và biết Ðạo.

Lập Công:

Là một phương pháp cần thiết trong việc tu kỷ, xử thế của con người.

Phép lập công gồm có hai mặt là: Sức khỏe đầy đủ và tinh thần cứng rắn, để nghị lực điều khiển nhục thân tuân hành mạng lịnh của trí não.

Muốn kiện toàn sức khỏe, phải giữ vệ sinh thân mình, phải ăn uống có điều độ, tránh xa tửu sắc làm cho thân thể con người phải tiều tụy.

Phải tận lực đánh đổ tật biếng nhác. Làm việc hằng ngày phải siêng năng nhậm lẹ; việc nào đã làm phải làm hết sức chu đáo.

Ở tại gia đình phải gắng sức lập công thì gia đình mới khỏi thiếu thốn, túc thực túc y, con cái được bảo dưỡng đầy đủ.

Ra gánh vác việc xã hội, tùy theo địa vị, phải ráng lập công cho đúng với nhiệm vụ mình đã nhận lãnh, hoặc y theo lời cam kết của mình.

Chẳng nên thấy sự khó khăn mà bỏ dở nửa chừng, hoặc ham lợi nhiều mà làm việc cẩu thả, khiến công chuyện bất thành rồi đổ thừa cho điều nầy lẽ nọ.

Làm như vậy thì thất tín với mình, thất tín với thiên hạ, không còn ai dám tin dùng mình nữa và cả đời mình phải gánh chịu hậu quả, không trông gì nên sự nghiệp được.

Khi nhập vào cửa Ðạo, quyết tu hành, phụng sự cho Ðạo và cho chúng sanh thì sự lập công là đầu mối việc. Phải lập công rồi mới hưởng quả, nên gọi là công quả.

Công quả trong cửa Ðạo chia ra hai phần là: Công quả nội và Công quả ngoại.

Công quả nội:

Là phương pháp làm cho mình sáng suốt, hiểu thông rành mạch đạo lý, không còn chỗ nào ngờ vực hầu trau giồi tâm tánh để trở nên người đạo đức hoàn toàn. Phải để công phu học hỏi rồi phải thực hành tức là áp dụng điều hiểu biết vào đời sống tinh thần, dìu đường cho kẻ khác cũng trở nên sáng suốt như mình. Ðó là tự giác nhi giác tha.

Công quả ngoại:

Là phụng sự cho Ðạo và cho chúng sanh tức là tùy theo địa vị và khả năng của mình, ra công xây dựng cho Ðạo và giúp ích cho người Ðạo cũng như người Ðời, làm cho ai cũng được hưởng cái công quả như mình.

Sự sanh hoạt trong cửa Ðạo cũng chẳng khác chi sự sanh hoạt ngoài mặt đời: Kẻ rành về nghề nầy, người chuyên môn về việc khác. Có nghề đòi hỏi sự lao lực, có việc cần nơi sự lao tâm. Lập công quả bằng sự lao tâm hay lao lực đều có giá trị như nhau và đều hướng về chủ đích phụng sự cho Ðạo và cho chúng sanh.

Trong cửa Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, người tu sĩ nhờ nơi công quả mà lập vị xứng đáng cho mình và hưởng ân huệ thiêng liêng ngày chung cuộc.

Lập Ngôn:

Là trau chuốt lời nói được thanh nhã, chơn thật, hiền lành, tỏ ra mình là người có học hay có thấm nhuần đạo đức.

Muốn thực hành phép lập ngôn, chúng ta phải làm chủ khẩu khí, phải suy nghĩ kỹ trước khi thốt lời thì lời nói mới đoan trang, có mực thước.

Vả lại người ta thường do lời nói để tìm biết tâm chí và trình độ tấn hóa của mình; chúng ta nên cẩn thận, vì một lời thốt ra rồi khó lấy lại được.

Về mặt Ðạo, lời nói chẳng lành, bất công hoặc có ác ý, làm cho mình mang nghiệp quả (Karma). Nghiệp quả đó gọi là khẩu nghiệp, dầu là lời nói suông cũng đồng tội như mình có làm việc quấy,

Ðức CHÍ TÔN có dạy rằng: "Các con phải cẩn ngôn cẩn hạnh. Thà các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con chỉ nói mà phải mang trọng hình đồng thể".

Vậy người tu sĩ cần áp dụng triệt để những điều răn cấm sau đây:

- Cấm vọng ngữ tức là nói dối;

- Cấm lưỡng thiệt, tức là đem chuyện người nầy thuật lại với kẻ nọ làm cho hai bên xích mích nhau;

- Cấm ác khẩu, tức là lời nói hung dữ;

- Cấm ý ngữ tức dùng lời xảo trá để gạt gẩm người sa vào tội lỗi.

Ðức Khổng Tử có nói: "Ðạo thính nhi đồ thuyết đức chi khí dã", nghĩa là nghe chuyện đầu đường nói lại ở cuối đường là tự bỏ cái đức tốt của mình vậy.

Trong xã hội, người ta vì lời nói mà sanh ra việc bất bình, có khi gây ra thù oán có thể đánh giết nhau.

Trong gia đình, vì lời nói mà có khi cang thường tan vỡ, cốt nhục chia lìa.

Trong việc trị nước, các vị vua chúa thời xưa thường nghe lời sàm tấu của đám nịnh thần mà quốc gia phải khuynh nguy, cơ đồ nghiêng ngửa. Vì đó có câu: Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ tán bang. Lời nói có tầm quan trọng như thế, người đời cũng như kẻ tu sĩ nên cẩn hạnh cẩn ngôn cho lắm.

Nói tóm lại, người quyết chí tu thân, nếu thực hành được phép Tam lập là Lập Ðức, Lập Công và Lập Ngôn thì sẽ trở nên hoàn thiện và đáng là một bậc đại hiền trong thiên hạ vậy./.

CAO THƯỢNG SANH

 

(Trích Thông Tin số 24, ngày 21/03/1971)

 


 

ÐỨC THƯỢNG SANH

Thuyết Ðạo tại Ðền Thánh đêm 23 rạng 24 tháng 12 Canh Tuất (dl. 19/1/1971)

 

NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

Kính HỘI THÁNH HIỆP THIÊN, CỬU TRÙNG, PHƯỚC THIỆN,
Kính Quý CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC và ÐẠO HỮU Nam Nữ,

Ngày qua tháng lại nhặc thúc tợ thoi đưa lật bật tiết Ðông vội ướm tàn, hoa cỏ đã phô bày muôn tía ngàn hồng báo tin mùa Xuân chực lố dạng. Một năm chóng thoát qua, nhớ lại Xuân trước vừa đến mới ngày nào nay chúng ta lại sửa soạn đón chào Tân Xuân sắp đến nữa.

Ôi! Dòng đời cứ triền miên trôi chảy, nhựt nguyệt cứ vần xây, Xuân mãn kế Xuân về, ngày tháng kế tiếp nhau, đem mớ tuổi chất chồng lên đầu con người để rồi đưa lần đến cõi hư vô tịch mịch. Một số bạn đồng hành của chúng ta trong cửa Ðạo, mới Xuân trước còn gặp nhau với nét tươi cười, nay chưa hết tiết Ðông đã vội hóa ra người thiên cổ. Thế thì Ðấng Tạo Hóa sắp đặt cho cái Xuân chẳng phải dành cho khách trần vui hưởng, mà chỉ để nhắc cho nhơn sanh nhớ mỗi độ Xuân về tức là con đường đi đến mức chung qui của kiếp phù sinh đã thâu ngắn lại, không còn bao nhiêu bước nữa nên liệu mà tính xong bổn phận làm người trước ngày vĩnh quyết.

Theo quan niệm của nhà hiền triết thời xưa, thì ngày Tết Nguyên Ðán không phải là ngày để chơi Tết, hay chơi Xuân mà chính là một dịp để cho con người lo tròn bổn phận trong gia đình, tưởng nhớ đến những đấng Tổ Tiên Phụ Mẫu đã khuất bóng, kính cẩn bái lễ trước bàn thờ, giữ tròn đạo hiếu đúng theo Nho giáo tức là thờ người quá vãng cũng như người còn tại thế. Ngoài ra, người ta chúc lành cho thân quyến, bạn bè và đi đến Chùa, Miếu, Ðền thờ để cầu phúc cho gia tộc, rồi thì tính toán đường lối xoay trở trong nghề nghiệp để thi thố cho có kết quả tốt đẹp, khi bắt tay vào công việc sẽ tới. Ðó là người có chí kinh doanh và có tư cách sinh hoạt lương thiện dù trong thời bình họ cũng thận trọng không tỏ ra cử chỉ ngông cuồng phung phí vô lối, trừ ra những hạng người làm tiền không mệt nhọc bóc lột dân chúng muôn phương ngàn kế hoặc ngồi không chia của, lập sản nghiệp trên xương máu của đồng bào, họ mới thung dung quăng tiền qua cửa sổ, để phô trương sự giàu có dù trong thời bình hay thời loạn. Phương chi nạn chiến tranh đang dầy xéo đất nước, suốt phần tư thế kỷ nay; tai Trời ách nước còn dồn dập gieo thêm tang tóc làm cho giống Việt Thường đã quá thống khổ, đọa đày, đã phải chịu thêm nổi điêu linh tàn tạ.

Trước cảnh máu xương chồng chất gây nên bởi chiến cuộc, trước cảnh chiếu đất màn trời, của mấy trăm nạn nhân bão lụt miền Trung đang vất vả khóc than, vì đói rách cơ hàn, chúng ta những người đã xả thân cầu đạo, có vui sướng gì mà hỉ hạ chơi Xuân, hoang phí đồng tiền để làm khách phong lưu trong buổi trà dư tửu hậu. Quay về dĩ vãng, cuộc biến cố ngày Tết Mậu Thân cách đây không quá lâu, chúng ta nên dè dặt, nên vui Xuân với ý nghĩa thanh bai hướng về mặt tinh thần theo tư cách của người tu hành có nhiệm vụ dìu dắt chúng sanh trên đường giải thoát. Trong mấy ngày Tết, ngoài ra phận sự đối với gia đình, thờ cúng Tổ tiên, chúng ta nên dùng dịp nghỉ ngơi để ôn lại những việc đã làm, cùng những thành tích đã thâu thập trong một năm qua trên đường hành đạo. Nếu làm được việc tốt đẹp có phần công quả xứng đáng, ta nên hả dạ vui mừng, nếu có làm điều bất chánh, tà vạy, ta nên tự thẳng thắn tự nhận lỗi với lương tâm và tự hứa sẽ hối cải sửa mình không dám tái phạm.

Người ngoài xã hội có quyền xảo quyệt, giả dối đê hèn để mưu cầu quyền lợi. Người tu hành phải thành thật, ngay thẳng, trước là tự thành thật với mình, rồi mới có thể thành thật đối với bạn đạo và tín hữu. Vì chẳng hay xét mình, chẳng cần tính sổ cuối năm như những nhà thương mãi tính lời hay lỗ, người Chức sắc không tiến triển trên đường đạo đức; bởi lẽ, mình không biết lấy mình, thì thế nào cân nhắc được sự học vấn của mình tấn hay thối, tác động và giá trị của đạo hạnh của mình thấp hay cao.

Thầy Tăng Tử xưa là một bậc hiền triết mà còn "Nhứt nhựt tam tỉnh ngộ thân", tức là hằng ngày xét mình trong ba điều:

- Một là lo việc cho người không hết lòng bằng việc mình, có thế chăng?

- Hai là giao du với bạn bè mà đem lòng giả dối, có vậy chăng?

- Ba là nghe lời Thầy dạy bảo mà hay lãng xao, có thế chăng?

Ước mong mỗi Chức Sắc hằng ngày chỉ xét mình trong một điều duy nhứt thì nền Ðại Ðạo lấy làm may mắn mà nhơn sanh cũng lấy làm hữu phước. Ðiều xét mình ấy là làm công quả lo việc cho Hội Thánh không hết lòng bằng việc mình, có thế chăng?

Xét mình như vậy không phải là việc khó và nếu mỗi người đều thành thật đối với mình thì việc Ðạo không có điều gì sơ xuất, cơ nghiệp Ðạo sẽ được bồi đắp đồ sộ mau chóng.

Ðức PHẬT THÍCH CA dạy các đệ tử rằng: "Ngươi hãy tự kiếm ngươi", theo ý của Ðức Phật thì ngươi hãy suy nghĩ và xét mình đặng biết mình là ai, mình thật biết mình rồi mới biết định giá trị của người khác. Thường người ta chỉ lo tìm kiếm những điều ở ngoài mình, chớ không tìm kiếm những cái ở trong con người của mình, thế nên dây oan kết mãi, nghiệp chướng càng mang, biết chừng nào mới tỉnh ngộ đặng phản bổn hườn nguyên.

Ðức Lão Tử có nói: "Tri nhơn giã trí tự tri giã minh" tức là biết người là kẻ trí, sao bằng tự biết mình mới sáng suốt hơn nữa.

Ðức CHÍ TÔN có lời dạy: "Phải thường hỏi lấy mình khi vào lạy Thầy buổi tối coi phận sự ngày ấy đã xong chưa? Và lương tâm có điều chi cắn rứt chăng? Nếu còn nét chưa rồi, lương tâm chưa được yên tịnh thì phải biết cải hóa ráng chuộc lấy lỗi đã làm thì các con có lo chi chẳng bì bậc chí thánh". Về công hạnh và đạo đức của Chức sắc, một bài Thánh giáo của Ðức CHÍ TÔN lúc đầu năm Kỷ Tỵ có dạy rằng: "Ngày tháng vẫn mỏi mòn mà đường Ðạo nhắm còn dài đăng đẳng, một Xuân qua là một dặm đường phải bước tới, mà Thầy ngảnh lại bước đường của môn đệ Thầy vẫn còn sụt sè chớ chưa thấy chi có mòi tấn phát. Thu qua Ðông lại, Thìn đến Tỵ về, Xuân đổi lại Xuân thay, năm về rồi năm mãn. Ôi! Tấc bóng quang âm nhặc thúc mà xem lại công hạnh của mỗi con của Thầy thì nét Ðạo vẫn kém hơn, đức chưa thêm được, tâm chí mòn mõi lối đường ngay mà nấu nung về nẻo vạy, e cho nền tảng Thiêng liêng đồ sộ phải nghiêng ngửa, rồi đây các con cũng chưa chắc hết tranh cạnh giành xé nhau mà làm cho nền Ðạo phải mang tai tiếng. Ôi! Xuân tàn, Xuân đến, cái Xuân của người sắp lụn hao, mà rồi cái Xuân của trời đất nước non cũng chưa chắc là vô cùng vô tận.

Các con nếu biết vì đời mà khổ tâm, biết vày vò tình thế, biết chịu kém sút trong nẻo lợi đường danh, biết thiệt mình mà đặng cho kẻ khác, biết đổ lụy cho kẻ vui cười, biết nhọc nhằn trong kế sinh nhai, biết giữ tâm chí cho thanh bạch đừng nhơ bợn của chẳng nên dùng, biết động mối từ tâm thương người hơn kể mình thì là các con được tắm gội hồn trong mà về cùng Thầy đó. Nét nào chưa vẹn khá biết sửa lần chớ nên trì hưỡn, Ðạo suy, Ðức kém, tà quái lừng hơi, các con gắng chung tâm xua trục hết lũ vạy tà thì hiến công lớn cho Thầy đó. Thầy ban ơn cho các con".

Cao quí thay lời dạy của Ðức CHÍ TÔN ÐẠI TỪ PHỤ đã thấy rõ tới trong thâm tâm của các môn đệ mới có những lời đinh sắt chỉ vẽ đường lối cho chúng ta tiến bước để nương mình lên bậc chí Thánh và nắm trọn vào tay cơ giải thoát. Người tu sĩ CAO ÐÀI phải biết vì Ðời mà chịu khổ, thật hành chủ nghĩa vị tha dám quên mình thì mới thật là xả thân cầu Ðạo, đem đời sống hiến trọn cho Ðạo và cho nhân sanh, sự quả quyết hy sinh do nơi lòng trắc ẩn trước mọi đau khổ trên thế gian tình thương phải được lan tràn vây kín đám nhân sanh là đám dân bần hàn khốn khổ để thực hiện câu đem Ðạo cứu Ðời. Nếu thiếu lòng thương yêu không làm được những điều của Ðức CHÍ TÔN dạy bảo, người Chức sắc không thể làm tròn sứ mạng cứu vớt chín mươi hai ức nguyên nhân đang trầm luân nơi khổ hải. Vị nào còn quá trọng bản ngã, còn tôn thờ vật chất thì không thể có tình thương đối với bạn đạo và nhân sanh, họ chỉ thương mình đem tất cả về cho mình, cho nên không thể sống đời sống tinh thần được.

Khoát vào mình cái áo Ðạo chỉ vì mục đích riêng tư, những phần tử đáng thương hại đó toan che mắt bề trên, lừa dối thiên hạ, có khi chạy theo phe nầy nhóm kia, làm tay sai cho thế lực kim tiền, lợi dụng danh Ðạo, họ ví lời minh thệ trước Thiên bàn như một món đồ chơi, muốn ném vào xó nhà lúc nào cũng được. Tôi tin rằng quý vị Chức sắc trong hàng Thánh Thể Ðức CHÍ TÔN không lẽ có hành vi nông nổi như vậy... Vì làm như vậy tức là khinh thường Ðức CHÍ TÔN, khi dễ các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật hình phạt thiêng liêng thế nào mỗi vị đều biết rõ.

Chúng ta nên lưu tâm là đã hiến thân cho Ðạo, người tu sĩ không có quyền sống riêng cho mình, mà sống vì Tôn giáo, vì nhơn sanh. Bởi thế, luật thương yêu không phải một đề nghị, một ý kiến có thể chấp thuận hay là không, luật thương yêu là một mạng lịnh thiêng liêng mà chúng ta phải nhận lãnh vô điều kiện, vì sự thương yêu đưa chúng ta đến gần với Ðức CHÍ TÔN và sự ghét đưa chúng ta vào hàng tôi tớ của quỉ vương.

Bởi thiếu sự thương yêu lẫn nhau trong đời sống tập thể của Tôn giáo, thiếu sự nương nhờ nhau để chung lo cho cơ nghiệp Ðạo, người Chức sắc phải chịu côi thế khi thi hành nhiệm vụ và như vậy không trông gì thu thập được thành quả tốt đẹp. Kẻ dưới không tận tâm giúp người trên, vì sợ người trên làm được việc thì cũng không ích gì cho mình. Người trên không sẳn lòng nâng đỡ kẻ dưới cho được thành công vì kẻ đó không phải thuộc hạ thân tín của mình, cùng phụng sự cho chủ nghĩa chung mà làm việc với ý sâu sắc riêng tư chính là bởi thiếu sự thương yêu lẫn nhau vậy.

Các Ðấng Thiêng liêng có dạy chúng ta phải chung lưng đâu cật, hiệp thế côi thành sức mạnh, kết chặc dây thân ái một như mười, mười như trăm, như ngàn thì có lo chi không tạo được một cảnh Thiên đàng tại thế.

Thưa quý Chức sắc và Tín hữu Nam, Nữ,

Trước thềm Tân Xuân Tân Hợi và nhơn buổi cúng lễ Chung niên hôm nay tôi có đôi lời nhắc nhở bạn đạo trong việc bồi công lập đức, với ước nguyện mỗi vị nên lưu ý xét mình lo trau giồi đạo hạnh được ngày càng cao siêu thoát tục, để làm những bậc Thánh nhân trong hàng Thánh thể của Ðức CHÍ TÔN tại thế. Ðược vậy, những tệ đoan mà chúng ta thường thấy trong Ðạo mới được mau chấm dứt, sự tranh cạnh giành giựt cũng như những hành vi đen tối không còn xảy ra để cho cái thanh danh Thánh địa được giữ nguyên ý nghĩa cao đẹp của nó và sự nghiệp Ðạo được vun bồi khả quan trong ngày sẽ tới.

Ðức LÝ ÐẠI TIÊN đã không vui lòng về sự thi hành nhiệm vụ của Chức sắc Hội Thánh, không lẽ chúng ta điềm nhiên giữ y lề lối cũ mà không cải sửa. Sứ mạng cần phải làm tròn và muốn làm tròn, phải cương quyết, trong sạch và vô tư, trong ba đức tính đó nếu thiếu một cũng không đạt được thành công mỹ mãn. Trước thềm Tân Xuân Tân Hợi, tôi thành tâm cầu chúc toàn thể Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu được dồi dào sức khỏe, mọi sự hanh thông đồng hưởng một cái Tết an vui trong tinh thần đạo đức và trong sự sum họp gia đình.

Cầu xin Ðức CHÍ TÔN ban ơn lành cho toàn đạo nam nữ.

Nay kính.

 


 

CHÍNH TRỊ cần có Ðạo Ðức không?

 

Cái HÀ CHÍNH gớm ghê hơn cọp.

Tự cổ chí kim, nước nhà được trị hay loạn, hưng hay vong đều do nơi người cầm quyền hành chánh. Người cầm quyền biết theo đường ngay chính, biết lấy Ðạo mà sửa trị, biết lấy Ðức mà cảm hóa, thì nước nhà vững đặt, đời được thái bình. Người cầm quyền không cần noi theo lẽ phải, không biết thương dân và lấy Ðạo Ðức sửa trị, thì nước nhà phải chinh nghiêng loạn lạc. Là vì dân tâm tức là thiên ý, làm trái lòng dân tức là làm trái mạng trời, mà trái mạng trời tức là đi vào lối diệt vong vậy.

Kinh Thư của KHỔNG GIÁO nói rằng: Trời không thân riêng ai, chỉ có đức là được trời giúp, lòng dân không có thường, chỉ có ơn là mến; làm điều lành không giống nhau, nhưng kết quả là trị, làm việc ác không giống nhau, nhưng kết quả là loạn (Hoàng Thiên vô thân, duy đức thị phụ, dân tâm vô thường duy huệ chi hoài. Vi thiện bất đồng, đồng qui vi trị, vi ác bất đồng, đồng qui vi loạn).

Xưa những người có trách nhiệm trị nước trị dân lúc nào cũng phải kính cẩn, hằng lo sửa mình cho ngay chính để được có kẻ hiền tài theo giúp mình, rồi lấy nhân mà trị, lấy đức mà hóa, cái kết quả trong việc chính trị mới tốt đẹp.

Khổng Giáo cho Ðạo Nhân là gốc của việc chính trị cũng như đất tốt là gốc sanh sản ra cây cỏ sởn sơ. Vì vậy mà người hành chánh dầu có tài mà thiếu phần đạo đức thì nước cũng loạn lạc, dân cũng lầm than. Mặc dầu trong nước được có một chánh thể hay đến đâu mà giao về người cầm quyền thất nhân bất đức, cái chính thể ấy cũng hóa ra ươn dở. Trái lại dầu chính thể có dở mà có được người hành chánh đủ tài đủ đức thì người ta có dụng tài đức ấy suy cổ nghiệm kim, do theo trình độ tấn hóa của xã hội và dân chúng mà thay đổi lần hồi cho hợp thời và thuận lý. Huống chi người cầm quyền bình đẳng, một nước dầu là của nước Quân Chủ, hay là Tổng Thống, nước Cộng Hòa Dân Chủ cũng đều có chịu mạng Trời thể Thiên hành đạo. Cái quyền hành ấy là cái bảo vật có quan hệ đến vận mạng của xã hội, một dân tộc, vì vậy trị dân, chìu theo lòng dân và thận trọng coi sứ mạng mình là của báu thiêng liêng không thể để hư hỏng được. Lại nữa đem thân ra phụng sự quốc gia thì thân mình thuộc về quốc gia và chung cả thiên hạ, cái thân ấy không còn là của mình và của gia đình nữa.

Ðức Lão Tử cho ở đời thân hình là một cái không đáng quí nhứt, vì nó thường là mối lo cho người ta. Ðáng yêu quí nhứt là lúc đem thân ra phụng sự cho thiên hạ, Ngài nói: "Ta sở dĩ có điều lo lớn là vì ta có cái thân, nếu không có thân thì ta có lo gì?" Cho nên chỉ yêu quí thân là khi đem thân vì thiên hạ, như có thế gởi gắm được cho thiên ha.

Ấy đó, coi sứ mạng mình là thiêng liêng, coi thân mình là nhẹ hơn hạnh phúc của nhân sanh, chính là hai con đường dìu người hành chánh đến mức thành công vậy.

Ðược như thế thì ngưới cầm quyền đối với dân cũng như cha đối với con. Phải tu thân tích đức, lo cho dân được an cư lạc nghiệp, dạy cho được sáng suốt khôn ngoan y như cha lo cho con. Phải thích cái thích của dân, phải ghét cái ghét của dân mới đáng làm cha mẹ dân.

Vả lại, lòng tự nhiên của dân là muốn điều lành ghét điều ác, cứ do theo lòng dân ấy mà trị dân tức là dìu dắt dân đến con đường hạnh phúc.

Trái lại, nếu làm những điều dân ghét bỏ và ghét những điều dân ưa chuộng, hoặc ham muốn xa hoa, lo cho thân mình được sung sướng ngoài ra mặc kệ dân khốn khổ lầm than, ấy là hành động trái với lòng dân, người cầm quyền dầu có tài ba lỗi lạc cũng không khỏi đi đến con đường thất bại. Lẽ dĩ nhiên trị dân mà không làm cho dân tin cậy mến yêu, hành động trái ngược, có thể khiến cho trăm họ đổi lòng phục tòng của tôi con ra tâm thù oán của kẻ nghịch, thì người cầm quyền đem cho mình và cho nước họa đó.

Những đấng minh quân đời trước thương dân như con đỏ, hằng chịu lao tâm tiêu tứ để lo hạnh phúc cho dân. Người trong nước không kể sang hèn, hễ ai có tài có đức là được cất nhắc lên làm quan giúp nước trị dân. Vua với quan đều lấy sự ích nước lợi dân làm chủ đích. Trên th