PHẦN TỔNG KẾT
- HỌC LÝ
- TAM ĐẠT ĐỨC
- GIÁC THA
Học lý chép thành quyển sách nhỏ nầy.
Trên đường Tấn hóa chúng tôi nhắc đến sự hiện hữu của Đấng Tạo Hóa, Luật Nhơn quả Luân hồi, Võ trụ Dịch lý; ấy chỉ về quan niệm Võ trụ. Còn về Nhơn Sanh Quan, chúng tôi đề cập đến sự học Đạo Trời để làm qui củ mà sửa Đạo người cho đến mức chí nhơn, chí thiện, chí, chí mỹ. Sự học hành chúng tôi chia ra hai giai đoạn Nhập thế và Xuất thế.
Nhập thế: Trong đoạn "Phương châm nhập thế" chúng tôi giảng diễn phép "Tam lập" (Lập đức, Lập công, Lập ngôn) mục đích trau sửa, dồi mài thân, khẩu, ý, làm cho mình có tư tưởng, việc làm và lời nói đúng theo lẽ chí thiện. Kết quả là đào tạo cho mình một nhơn cách có đủ khả năng làm tròn những bổn phận làm người như: sửa đạo nhà, làm bổn phận công dân và góp công vào cuộc xây dựng hòa bình thế giái, cũng như trình tự học hành của Nho giáo là: Tề gia, trị quốc, và bình thiên hạ.
Xuất thế: Khi Nhơn đạo rảnh rồi, chúng ta bắt đầu thực hành giai đoạn xuất thế. Tuy nói xuất thế, nhưng không phải lẫn tránh xã hội, hay ẩn trốn trong rừng sâu, núi thẳm, mà thật ra đặt đời sống tinh thần ra ngoài vòng tục lụy trần ai và chung qui cầu sự giải thoát kiếp luân hồi; mặc dầu thân vẫn còn sanh sống trong cõi trần gian, như muôn vàn người khác.
Tóm lại hai giai đoạn đường học tập nầy góp thành một học thuật Nhơn sanh Triết lý. Công phu học tập căn cứ theo Đạo tự nhiên và bắt đầu từ Hữu vi học đến Vô vi pháp. Mỗi học lý cố gắng làm tận lực mình đem lại sự kinh nghiệm thuần túy, để rồi áp dụng nó vào đời sống thực tế hàng ngày.
Vả lại, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nền tảng là Qui nguyên Tam giáo thành một Giáo lý đại đồng; cho nên về bài học, chúng tôi chiếc trong Tam giáo, tham bác với Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn giáng cơ dạy. Có điều chúng ta nên nhớ là: Học hành đạo đức chẳng phải đọc sách suông như học văn chương mà thật phải tham thiền, nhập định và suy gẫm, tìm hiểu và thực hành cho cái biết biến thành tâm đức của mình.
Chúng tôi tham bác Thánh ngôn của Đức Chí Tôn giáng cơ dạy, với Giáo lý Tam giáo thâu hẹp kể như vầy:
Nho giáo: Nho giáo dạy chúng ta tìm Thiên lý lưu hành trong thế giái vạn hữu để làm căn bản sự học hành. Nho giáo cung cấp cho chúng ta những bài học xử thế và thể hiện một khoa luân lý học căn bản là Đạo Trời; phương tiện là Nhân nghĩa; kết quả là cầu một sự sống an vui, hòa thuận trong gia đình, xã hội và khắp cả nhân loại ở Năm châu, chung qui, người trọn lành được siêu thoát về Trời chầu bên tả bên hữu Thượng đế, như cố nhơn đã quan niệm. Nói rút lại Nho giáo dạy chúng ta tìm đường giải thoát trong lãnh vực hữu vi.
Đạo giáo: Đạo giáo dạy tu chơn, nghĩa là bỏ phía sau lưng mình những sự vật hảo huyền của Thế gian và cố thâm nhập vào bản thân, tự tìm biết mình và hoán cái thân tâm cho thuần nhiên thanh khiết có thể đồng hòa với Đạo tự nhiên Trời Đất. Khi sanh tiền thì sống một cuộc đời "Cái thân ngoại vật là Tiên trong đời", và chung qui siêu thoát về Bồng lai Tiên cảnh.
Phật giáo: Phật giáo dạy chúng ta giải thoát rồi đem cái sở đắc của mình giúp chúng sanh giải thoát. Muốn thể hiện lý nầy, kẻ hành giả phải đặt mình vào cảnh "Hư vô tịch diệt" và cố gắng đi thẳng vào cảnh Niết bàn tự tại sống với một cuộc đời bình thản an nhiên; không vướng mắt bụi trần, không hệ lụy trần ai và không mê chấp ảo ảnh. Rồi đem cái sở đắc của mình cứu độ chúng sanh đặng giải thoát như mình.
Vậy Phật giáo dạy chúng ta tự giác rồi phải giác tha nữa để hoàn thành sứ mạng kẻ đệ tử.
Tóm lại, Nho giáo dạy thực hành Nhơn đạo để rồi sẽ giải thoát. Đạo giáo đưa chúng ta đi ngay trên đường giải thoát trong kiếp hiện tại tức đương giải thoát. Phật giáo thì giúp chúng ta giải thoát rồi. Ba giai đoạn tấn hóa: (Sẽ giải thoát, đương giải thoát, và đã giải thoát rồi) hiệp thành một con đường độc đạo giải thoát kiếp luân hồi ra ngoài vòng sanh tử.
Thể theo Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn: Vả lại, Tam giáo, mỗi Đạo đều có một Giáo lý riêng, kinh sách riêng. Nay Qui nguyên Tam giáo thành một Giáo lý đại đồng thì cái biển pháp bao la kia, kinh sách thống nhứt thành một "Tàng thơ viện" rộng lớn không biết đâu mà kể cho hết. Kẻ nông cạn như chúng tôi, nếu không người dìu dẫn, thì vị tất đã ra khỏi Tàng thơ viện ấy.
May thay! Đức Thầy chúng tôi (Thượng Đế) giáng cơ dạy phải học thế nầy, bỏ thế kia, giải nghĩa chữ khó hiểu, bớt câu thừa, thêm ý thiếu. Nhờ sự cởi mở ấy, chúng tôi ra khỏi sự khó khăn để sưu tầm chơn lý học hành và chép thành quyển sách nhỏ nầy.
Học để biết Thiên lý, Hành để làm cho Thiên lý biến thành tâm đức để rồi nó sẽ phát biểu nơi tư tưởng, lời nói và cử chỉ hành vi của mình. Phép thực hành đạo đức, chúng ta nên theo cấp bực Ngũ chi Đại Đạo, như: mới nhập môn thì học hành Nhơn đạo, rồi tiến lên Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, và Phật đạo.
Quan niệm tri hành hiệp nhứt
Tri hành hiệp nhứt, chia ra hai mặt: Ngoại giới và Nội giới.
Ngoại giới: Tống Nho chia Tri hành ra làm hai là: Biết và làm.
Ban đầu kẻ học quan sát sự vật bên ngoài, tìm biết rồi đem áp dụng vào thực tế. Họ bảo nhau rằng: Biết mà không làm cũng như chưa biết.
Nội giới: Về phương diện Tâm học, Vương Dương Minh bảo rằng: Tâm và Lý là một thể, cũng như Tri và Hành không thể chia đôi. Ông nói: Tìm hiểu Lý ở trong Tâm, phân tách cho rõ ràng từng chi tiết và thống hiệp những chi tiết ấy thành một cái biết có đầu đuôi mạch lạc. Thế là Tri và Hành hiệp một rồi vậy.
Trong trang trước chúng tôi có chép chuyện vua Thang có khắc trên bồn tắm của người mấy chữ: "Cẩu nhựt tân, nhựt nhựt tân, hựu nhựt tân". Thân ý vua Thang làm như vậy để nhắc nhớ rằng mỗi ngày nhục thân dơ thì phải tắm cho sạch để bảo tồn cho sức khỏe. Tâm cũng vậy mỗi ngày phải canh tân, chớ đừng để vật dục triêm nhiễm. Câu nầy đủ đánh thức lòng tin của chúng ta vậy.
Tóm lại, những học lý chép trong quyển sách nhỏ nầy tuy không là bao; nhưng thiết tưởng nó cũng nhắc nhở cho kẻ học một phần nào.
Tam là ba, Đạt là thông suốt, còn đạo lý đã học tập có tâm đắc rồi gọi là Đức. Tóm lại, Tam đạt đức là ba cái Đức thông suốt để ứng dụng khi xử kỷ tiếp vật.
Vả lại, sau thời kỳ "Minh tâm Kiến tánh" thì đức của người ta sáng tỏ trong cõi lòng vị phát chi trung và nó sẽ ứng dụng thiên hình vạn hạng khi hữu sự. Đây chúng ta nói tóm tắt Tam đạt đức. Vậy Tam đạt đức là gì?
Nho giáo có: Nhân, Trí, Dũng.
Phật giáo có: Bi, Trí, Dũng.
Đại Đạo có: Ái, Huệ, Công Bình.
Kể như sau:
Nhân: Là lòng thương yêu của người ta, nó là một điểm Đức Háo sanh của Trời phú cho mỗi người. Thế nên ai cũng có sẵn nó ở trong lòng. Nói tỉ: khi trông thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng thì ai cũng chạnh lòng thương. Chính lòng thương ấy là Nhân vậy. Có Nhân trong lòng mà tại sao có người không làm Nhân được? Chỉ vì vật dục làm lu mờ đức Nhân, cũng như búa rìu chặt hết nhánh lá mà cây phải trơ trọi.
Nay đã biết chướng ngại đức Nhân là vật dục, thì chúng ta cứ trừ ngay vật dục cho thật sạch thì tự nhiên đức Nhân tỏ rạng rồi chúng ta sẽ biết thương người mến vật và giúp cho người và vật được tương thân, tương ái, tương trợ.
Trí: Trí là năng lực biết rõ sự phải quấy; tốt xấu. Nhân là thương yêu, nhưng cần phải có Trí xét đoán để phân biệt chỗ nào đáng thương yêu, trường hợp nào đáng giúp đỡ, có phân biệt sự phải quấy thì sự thương yêu mới thích hợp với lẽ phải.
Dũng: Đức Dũng là tinh thần quả cảm. Có Nhân để biết thương yêu, có Trí để biết xét đoán lẽ phải quấy, rồi cần phải có đức Dũng để đôn đốc chúng ta thực hiện sự thương yêu.
Ví dụ: Chúng ta gặp người khốn cùng thì đức Nhân bảo chúng ta phải thương người ấy và nhờ Trí mà chúng ta biết rằng tình trạng người ấy đáng giúp đỡ; nhưng nếu chúng ta không có đức Dũng thì chúng ta chẳng hề thực hiện được lòng Nhân. Tại sao? Bởi vì thiếu tinh thần quả cảm để đôn đốc thì có khi chúng ta tiếc tiền, có lúc lại sợ nhọc công. Thế nên nói rằng: Có Nhân, có Trí, mà thiếu Dũng cũng không thực hiện được lòng thương.
Phật giáo có Bi, Trí, Dũng. Đại Đạo có Ái, Huệ và Công bình.
Bi tức Từ bi, Bác ái. Chữ Nhân nghĩa là thương yêu, nhưng có giai cấp, tức thương người khác hơn yêu vật. Từ bi Bác ái cũng có nghĩa là thương yêu, nhưng không phân biệt gần xa. Đối với người đồng loại thì một màu bình đẳng, không phân biệt kẻ thân người sơ. Đối với thảo mộc côn trùng, thú cầm thì xem chúng nó như đoàn em còn lạc hậu trên đường Tấn hóa, hằng ngày, tùy phương tiện che chở, giúp đỡ và làm lợi sanh cho chúng nó.
Từ bi, Bác ái dạy chúng ta phải tôn trọng tất cả sanh mạng, dầu một vật nhỏ mọn như con ong, con kiến cũng vậy. Người nào giết một mạng sống phải chịu quả báo trả lại. Luật báo ứng lành dữ phước họa một mảy không sai chạy.
Về mặt siêu hình, Từ bi Bác ái là một sức mạnh thiêng liêng Trời phú cho mỗi vật đều có nơi mình. Nhờ đó mà các vì tinh tú, các quả địa cầu luôn luôn vận hành chung quanh nhau mà chẳng hề xâm lấn lẫn nhau. Còn ở nơi các loài sanh vật, sức mạnh siêu hình ấy quyến rũ giống đực, giống cái gần gũi nhau, yêu thương nhau với một cách mật thiết.
Muôn vật biết tương thân, tương ái, tương trợ và mỗi vật chung qui đều hướng về trung tâm điểm của Võ trụ là Thái cực Thánh Hoàng. Tại sao? Bởi vì Từ bi Bác ái vốn là điểm háo sanh Trời ban cho người. Chính đức ấy kết chặt vạn vật với cội sanh nó là Trời. Ấy vậy nên người nào thực hiện được đức Từ bi Bác ái thì họ đồng hóa với cái nguyên thỉ động lực của Võ trụ mà thực hành cái lý: "Dữ vạn vật đồng thể".
Nhưng Từ bi Bác ái cũng cần có Trí xét đoán phải quấy thì mới tránh cái vạ tự ti và cũng phải có đức Dũng để đôn đốc thực hiện mới được, cũng như Nhân phải có Trí và Dũng thì mới hoàn thành được lòng thương yêu.
Chúng tôi xin chép bài Thánh ngôn của Bà BÁT NƯƠNG NỮ PHẬT - DIÊU TRÌ CUNG dạy về Huệ, Ái và Công bình như sau:
THÁNH NGÔN:
"Trí là mẫn huệ,
Tâm là thương yêu;
Thông đạt cả huệ ái là Đạo.
Huệ ái là gì?
Người đời hiểu lầm Từ bi, Bác ái là rộng thương, rồi thương đùa, thương càn, thương không phân biệt phải quấy, thế mà cũng gọi là Bác ái, Từ bi. Sự thật lòng bác ái phải thể với Đức Háo sanh của Đại Từ Phụ là cha sự sống. Ngài muốn sự sống của chúng sanh còn mãi mãi “sống đẹp vị Thiêng liêng, sống chung tâm, hòa trí, sống yên vui, thảo thuận, nói chung là sống với Bác ái, Công bình”.
Thế mà ở đời nhiều trở ngại: Khôn còn, dại mất, người hiền lánh mặt, đứa ngu khoe mình, trên chẳng thuận, dưới chẳng hòa, ẩn yêm che đậy, tốt khoe, xấu che, rồi thương không nỡ đan tâm sửa trị. Việc phải việc quấy lẫn lộn. Thử hỏi đó là thương hay ghét?
Phải biết dùng Trí tìm tòi phân định, phải biết dùng luật thương yêu xử quyết: Hư nên rõ mặt, chánh tà biệt phân. Rồi dùng cái Đại hòa điệu của Đạo làm phương châm hằng sống để sửa mình độ người. Vậy mới phải Bác ái, hay nói cho đúng hơn là hiệp trí, hòa tâm tạo thành Huệ ái định vững cơ sanh tồn".
Xem đó đủ hiểu, có Huệ, có Ái, rồi cần phải có Công bình nữa, thì mới hoàn thành tinh thần đạo đức.
Nghĩa là phải có khí phách của người chánh chơn quân tử thì mới tự thắng mình, và vượt khỏi sự cám dỗ vật chất. Mạnh Tử nói: "Đứng trước cảnh giàu sang chẳng si mê; đứng trước cảnh nghèo hèn không dời đổi. Đó là thái độ của người có Tam đạt đức, cũng như lư trầm có ba chưn đứng vững và nhả hương ngào ngạt khắp vùng phụ cận".
Đến đây kẻ hành giả đã thể hiện được pháp môn "Tự biết mình" (Tự giác) nghĩa là biết toàn diện tâm lý và sanh lý của mình. Biết cơ sanh tồn vật thể, cơ sanh tồn tinh thần và lãnh hội đến sự sống động tâm linh của Phật tánh, nói rút lại, là Minh tâm, Kiến tánh. Mà hễ tự biết được mình thì mình biết được vạn vật. Mạnh Tử bảo rằng: "Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành" (Muôn vật đều có đủ nơi ta, ta quay về bản thân mà tìm thì sẽ thành công). Biết mình, biết người, biết vật rồi tùy thời đem cái sở đắc ấy giúp người và vật được giác ngộ như mình. Đó gọi là Giác tha. Thể hiện sự Tự giác, Giác tha là bổn phận của kẻ học.
Chúng tôi tạm chia sự Giác tha ra làm hai phương diện là:
-
Công truyền và
-
Tâm truyền.
Công truyền là phần truyền giáo cho phần đông trong xã hội. Về phương diện nầy, chúng ta nên dùng tất cả thinh âm, sắc tướng để thức tỉnh xã hội khuynh hướng về đạo đức. Đại loại như: phô trương nghi tiết phượng thờ tế tự, tụng kinh làm đám, dùng văn chương ngôn ngữ giảng đạo thuyết pháp tức dùng phương thức hữu vi phổ truyền Giáo lý để cảm hóa người đời nghe hiểu và thực tiến. Phật bảo rằng: Kẻ học phải bố thí hoặc thí tài, hoặc thí pháp v.v... Bố thí hết sức mình, tùy thời phổ hóa quần sinh.
Luận về thinh âm, sắc tướng, nó cũng có sức mạnh tinh thần và có thể cảm kích lòng người đến chỗ sâu xa. Xem như khi chúng ta vào chùa miểu trông thấy cốt tượng thì chúng ta bâng khuâng về sự tín ngưỡng, còn trông thấy đám tang, hoặc mồ mã thì lòng ngậm ngùi thương xót, nhứt âm thanh lễ nhạc có sức mạnh khiến chúng ta yên lặng và hoài bảo việc xa xôi.
Thế đủ hiểu phần Công truyền Giáo lý cũng quan trọng lắm vậy thay.
Tâm truyền là người nầy truyền thọ cho kẻ nọ Giáo lý về mặt Tâm pháp. Ở đây không dùng thinh âm, sắc tướng mà phải thể hiện những lẽ đạo kinh nghiệm tâm đắc của mình ra nơi hành vi, lời nói và tư tưởng để cho người khác xem gương mà làm theo. Chỗ nầy ông Giáo sư Khoa học Thực nghiệm bảo rằng: "Anh hãy làm theo những cái tôi nói, chớ đừng làm theo những cái tôi làm". Trái lại, về Đạo học, kẻ hành giả phải noi gương vị Giáo sư mà đồ theo, Phật giáo dạy cái lý Tam Qui (Qui Y Phật, Qui Y Pháp, Qui Y Tăng) là lẽ như vậy.
Vả lại, Vô vi Pháp môn không thể dùng văn tự, ngôn ngữ để mô tả được, cho nên kẻ truyền giáo phải có tâm đắc trước rồi sau sẽ truyền giáo; nghĩa là phải học Đạo lý, thực hành thế nào cho Đạo lý biến thành Tâm đức của mình để rồi nó biểu dương ra cử chỉ, hành vi, lời nói và tư tưởng. Trái lại nếu chúng ta chưa có kinh nghiệm đạo đức mà truyền đạo đức thì chúng ta chỉ nói được hình dáng của Chân lý, chớ không phải Chơn lý thực tại.
Trong lòng có đạo đức thì đạo đức phát biểu ra ngoài mà người khác trông thấy rõ ràng. Hữu ư trung hình ư ngoại là lẽ hằng và đó gọi là bất ngôn chi giáo (truyền giáo bằng cách không nói ra lối).
Tóm lại chúng ta nên biết rằng sự học Đạo đức hành Đạo đức của chúng ta liên đới ba đời. Đối với đời quá khứ, chúng ta phải tìm học hành những học lý truyền dạy của các vị Thánh Hiền thời xưa. Còn đối với đời hiện tại và đời vị lai chúng ta phải lưu lại cái gì mà chúng ta đã kinh nghiệm để cho người sau noi theo.
HẾT
Viết xong tại:
TÒA THÁNH TÂY NINH
(Tiết lập Xuân năm Quí Mão)
- 1963 -
Soạn giả
Tiếp Pháp TRƯƠNG VĂN TRÀNG

TRÊN ĐƯỜNG TẤN HÓA
Soạn giả: TIẾP PHÁP TRƯƠNG VĂN TRÀNG
Nhà sách MINH TÂM Xuất bản lần thứ nhứt - 1963.
Giấy phép số: 1435/HĐKDTƯ/P1/XB
Ngày 01 tháng 7 năm 1963