BƯỚC ĐẦU HỌC ĐẠO

 

 

Cẩn Từ
của Thánh Thất NSW AUSTRALIA

Khi Bản thảo nầy hoàn thành,
soạn giả có tâm nguyện
hiến Bản quyền cho Hội Thánh sử dụng.

 

Ấn bản 2004

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

Lời của Hội Thánh


Phàm con người phải biết có chi trên đầu. Cái không trung trên đầu ta đó là Trời. Đấng cầm quyền trên ấy là Đấng Tạo Hóa, là Ngọc Hoàng Thượng Đế, là Chúa Tể cả càn khôn thế giới.

Nay Đấng Tạo Hóa lấy danh lập Đạo là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, dùng huyền diệu Tiên gia đến dựng nơi nước Nam ta một nền Chơn Đạo rất cao thượng mà độ rỗi nhơn sanh khỏi luân hồi, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Đức Thượng Đế, vì thương yêu nhơn loại, đến độ rỗi chúng ta, lại còn gọi mình là Thầy, kêu chúng ta là môn đệ. Vậy nên chúng ta phải hết lòng kính mến và sùng bái Đấng Tạo Hóa và hết dạ tín ngưỡng cái Đạo rất huyền vi mầu nhiệm của Đấng Chí Tôn.

(Trích phần đầu Tiểu Tự của Tân Luật)

 


 

Những chữ viết tắt:

  BQÐ Bát Quái Ðài.
  CTÐ Cửu Trùng Ðài.
  CQPT Cơ Quan Phước Thiện.
  CKVT Càn khôn vũ trụ.
  CKTG Càn khôn thế giới.
  CLTG Cực Lạc thế giới.
  DTC Diêu Trì Cung.
  ÐÐTKPÐ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
  HTÐ Hiệp Thiên Ðài.
  PCT Pháp Chánh Truyền.
  PT Phước Thiện.
  TLHS Thiêng Liêng Hằng Sống.
  TNHT Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
  TNST Thánh Ngôn Sưu Tập.

 


 

Chương 1:
 

Nhập môn cầu Đạo
MINH THỆ

 

I. Câu chuyện Nhập môn cầu Đạo:

Trong một xóm nghèo ở ngoại ô Thị Xã VL có vợ chồng ông Hai Thiệt đều theo Đạo Cao Đài, căn nhà của hai ông bà đang ở là nhà xưa, lợp ngói âm dương, cột gỗ và vách ván đều hư mục gần hết, cửa nẻo xệch xạc, trong nhà không có gì quí giá ngoài hai bàn thờ: bàn thờ giữa nhà để thờ Đức Chí Tôn, bàn thờ bên cạnh để thờ Tổ Tiên. Hai ông bà đều già, gần 70 tuổi, không còn sức lao động, sống được là nhờ vợ chồng đứa con gái làm nghề bán gạo lẻ tại chợ nhỏ CL, cung cấp lương thực tạm đủ để nuôi sống ông bà, vợ chồng đứa con gái ấy không khá giả chi, chỉ đủ tay làm hàm nhai. Vả lại ông bà Hai Thiệt đều ăn chay trường, cũng ít tốn kém. Hai ông bà đều siêng năng cúng kiếng tại nhà, hàng xóm thường nghe tiếng chuông mõ nhẹ nhàng phát ra từ ngôi nhà cũ kỹ ấy. Khi đến ngày mùng 1 hay rằm, ông bà Hai Thiệt thường tới Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu để chầu lễ Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu, cách nhà của ông bà khoảng hai ngàn thước.

Những người trong xóm đều rất cảm mến ông bà Hai Thiệt, vì tánh nết hiền hậu và thật thà.

Trong số láng giềng có ông Út Mô thường qua nhà nói chuyện chơi. Gia đình Út Mô không có Đạo, chỉ thờ ông bà, rất có cảm tình với ông bà Hai Thiệt, nên cũng có cảm tình với Đạo Cao Đài.

Thình lình ông Hai Thiệt bị cảm nặng, nằm một chỗ không dậy nổi. Ông Út Mô thấy có nhiều vị Đạo Cao Đài mặc áo trắng quần trắng đến thăm ông Hai Thiệt bịnh, có xách theo đường sữa và trái cây tặng cho người bịnh. Vài ngày sau, bịnh ông Hai Thiệt trở nặng hơn, khó bề thang thuốc.

Ông Út Mô thấy có vài vị Đạo Cao Đài mặc đạo phục nghiêm chỉnh, đem theo mấy đứa con gái nhỏ tuổi làm đồng nhi đến nhà ông Hai Thiệt để tụng Kinh Hấp Hối cho ông. Chừng một lúc sau, ông Hai Thiệt thở hơi cuối cùng. Mọi người đều không cầm giọt lệ.

Ông Út Mô cảm thấy thương xót ông Hai Thiệt, nghĩ rằng gia đình ông rất nghèo, bà Hai thì già, không còn sức lao động, đứa con gái làm chỉ đủ ăn, làm sao lo hòm rương và làm đám tang cho ông Hai Thiệt. Ông Út Mô đang lo lắng nghĩ cách giúp đỡ thì bỗng nhiên Út Mô thấy nhiều người Đạo Cao Đài chở đến nhà ông Hai Thiệt một cái hòm, thấy cũng khá tốt, có đủ đồ tẫn liệm, có vài ông mặc áo đạo tỳ đi theo lo việc tẫn liệm. Mấy ông cúng vái nơi bàn thờ giữa, rồi đến chỗ xác ông Hai Thiệt nằm, đồng nhi tụng kinh rồi mấy ông đạo tỳ liệm xác ông Hai Thiệt vào quan tài.

Một nhóm người đạo khác, đủ cả nam nữ, chở tới bàn ghế, chén dĩa, son nồi nấu nướng, rồi phân công ra, người đi chợ mua rau cải củ đậu, người lo chẻ củi đun bếp, người lo dựng rạp, trải bàn, sắp ghế. Còn các vị trong ban nhạc thì chở nhạc cụ tới gồm: cặp trống, đờn cò, đờn kìm, kèn, mõ, v.v... rồi có người đi mua đồ cúng gồm: nhang, đèn sáp, bông, trái cây, rượu, trà cũng vừa mang tới.

Những người đạo đến giúp đám tang làm việc rất trật tự, mỗi người một việc rất ăn khớp nhau, làm rất quen tay, không nghe một tiếng nói lớn, không một tiếng chửi thề, không một tiếng cười giỡn, mọi người đều tỏ dấu bi ai.

Hôm sau, ông Út Mô thấy một nhóm thanh niên của Đạo Cao Đài đến đám tang, vào nhà thay quần áo lễ sĩ màu xanh đậm, đội mão lễ sĩ trắng có thêu hoa thị đen phía trước, để làm lễ cúng tế. Ban nhạc đánh trống và đờn, đồng nhi tụng kinh, lễ sĩ hiến lễ, hai tay cung tròn ngang mày, cầm dĩa cúng phẩm, chân bước đi rập ràng theo tiếng trống, bước tới, rồi đi xen qua lộn lại hay xây vòng theo bài bản rất trật tự, tập luyện rất công phu, đem cúng phẩm dâng lên bàn vong.

Các người đạo đi đám thì mặc toàn áo dài trắng, quần trắng, nữ để đầu trần, nam thì đội khăn đóng đen, đứng hầu xung quanh nghiêm trang, trật tự, đồng nhi tụng kinh giọng trầm bổng bi ai, lúc nhanh lúc chậm, tạo thành một khung cảnh tôn nghiêm, huyền bí.

Đặc biệt vào buổi sáng hôm sau, ông Út Mô thấy một vị Chức sắc mặc áo rộng đỏ, đầu đội mão tròn cũng màu đỏ, giữa mão có thêu một con mắt, đến làm phép cho người chết. Đồng đạo đến dự rất đông, đứng vào hai bên phía trước quan tài, nam bên trái, nữ bên phải. Vị Chức sắc cúng nơi bàn thờ giữa xong thì đến đứng trước quan tài, ra hiệu lịnh cho đồng nhi tụng kinh. Út Mô để ý thấy vị Chức sắc ấy đi rất chậm quanh quan tài, bước đi chắc chắn, nghiêm nghị, tay mặt cầm cành dương rẩy nước làm phép, sau đó đi vòng thứ nhì, tay trái cầm cây kéo như lựa chỗ rồi cầm kéo cắt khơi khơi trong không khí, đi giáp vòng rồi trở lại đứng trước quan tài, kế đó có người phụ lễ đưa cho ông bó nhang đang cháy để ông tiếp tục làm phép. Khi ông làm phép xong thì đồng nhi tụng kinh vừa dứt.

Ông Út Mô hỏi một người đạo, ông Chức sắc mặc áo đỏ ấy làm phép gì vậy? Vị ấy trả lời: Đó là ông Giáo Hữu đến làm phép xác, phép cắt dây oan nghiệt và phép độ thăng cho ông Hai Thiệt, để linh hồn của ông sớm được siêu thăng lên cõi thiêng liêng. Buổi lễ diễn ra rất trật tự, trang nghiêm, đầy vẻ thiêng liêng.

Buổi lễ làm phép vừa xong, ông Út Mô thấy một chiếc xe có hình dáng là một con rồng, đầu xe làm hình đầu rồng, cuối xe làm hình đuôi rồng, mình xe làm nhà vàng, trước và sau xe đều có cắm cờ đạo 3 màu: vàng, xanh, đỏ. Chiếc xe nầy sơn và vẽ hình con rồng màu vàng rất đẹp, đậu trước nhà ông Hai Thiệt. Ông Út Mô hỏi một người đạo thì được biết đây là tượng trưng chiếc thuyền Bát Nhã chở xác người chết đem chôn nơi nghĩa địa.

Trong nhà lúc đó, đồng nhi tụng kinh, hết bài kinh nầy tới bài kinh khác, sau đó đứng dạt ra hai bên để ban đạo tỳ vào đứng trước quan tài làm lễ, có người chỉ huy cầm nhịp gõ lớn làm hiệu lịnh, các đạo tỳ đi vòng qua lộn lại rồi đi xen kẻ rất trật tự, có tập luyện thuần thục. Bàn vong được dẹp bỏ, các đạo tỳ vào đứng quanh quan tài, chuẩn bị khiêng quan tài ra đặt lên thuyền Bát Nhã.

Đoàn đưa đám tang khởi hành, đi đầu là tấm bảng lớn bằng vải đen có thêu 6 chữ lớn màu trắng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tiếp theo là một người cầm phướn 3 màu vàng xanh đỏ, trên phướn có hai chữ nho, đi tiếp theo là bàn vong, hai bên có hai hàng đồng nhi vừa đi vừa tụng kinh, kế đó là thuyền Bát Nhã đặt trên 4 bánh xe chạy chậm chậm nối theo, tang gia đi tiếp theo và sau cùng là các đồng đạo nam nữ đi tiễn đưa. Ông Út Mô để ý thấy không có việc rải giấy tiền vàng bạc khi đám tang đi dọc đường.... ... ... (Nghi thức của đám tang sẽ được trình bày đầy đủ chi tiết trong Chương 24 sau cùng)

Út Mô quan sát đám tang của Hai Thiệt do Đạo Cao Đài tổ chức, đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác, không ngờ Hai Thiệt nghèo như vậy mà Đạo Cao Đài tổ chức cho ông một đám tang rất long trọng, đầy đủ nghi lễ, trật tự trang nghiêm, bi ai, trong sự trợ giúp hết sức nhiệt tình của đồng đạo, với tính cách là làm công quả. Dù gia đình giàu có ở ngoài đời, chịu tốn nhiều tiền, cũng không thể tổ chức được một đám tang tốt đẹp như vậy.

Ông Út Mô cảm thấy rất khâm phục Đạo Cao Đài và trong trí ông lóe lên tư tưởng: hay là mình xin gia nhập vào Đạo Cao Đài.

Ông Út Mô suy nghĩ mấy ngày, rồi quyết định xin nhập môn vào Đạo Cao Đài. Ông liền tìm đến Thánh Thất, nói rõ ý muốn của mình, được người đạo đưa vào gặp vị Lễ Sanh Cai Quản Thánh Thất.

Ông Út Mô nói:

- Xin ông Lễ Sanh cho tôi theo Đạo Cao Đài.

Ông Lễ Sanh hỏi: - Bạn vui lòng có thể cho biết lý do nào khiến bạn muốn nhập môn vào Đạo Cao Đài?

Út Mô thành thật trình bày: - Thưa ông Lễ Sanh, tôi tên là Nguyễn Văn Mô, ở kế cận nhà ông Hai Thiệt vừa mới mất đó, tôi thấy ông Hai Thiệt là người Đạo Cao Đài, rất hiền lành nhưng rất nghèo, được Đạo Cao Đài tổ chức cho một đám tang rất long trọng, lại giúp đỡ tiền bạc vật chất đủ hết, làm cho tôi rất kính phục Đạo Cao Đài, nên tôi muốn xin nhập vào Đạo Cao Đài.

Ông Lễ Sanh nói: - Tu theo Đạo Cao Đài phải cúng kiếng hằng ngày, như bạn đã thấy ông Hai Thiệt đó, phải ăn chay và đi làm công quả cực lắm ! Bạn chịu nổi không?

Út Mô mạnh dạn đáp:

- Người ta làm nổi thì nhứt định tôi cũng làm nổi.

Ông Lễ Sanh gọi một em công quả đến, bảo em đạp xe gấp, gọi ông Chánh Trị Sự và Thông Sự nơi hương đạo của ông Út Mô đến Thánh Thất vì ông Út Mô đến xin nhập môn cầu đạo.

Vị Lễ Sanh nói tiếp:

- Trong lễ nhập môn cầu đạo, bạn phải lập minh thệ trước Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn. Lập minh thệ là nói lên lời thề nguyện của mình quyết tâm theo đạo.

Ông Lễ Sanh liền lấy ra một tờ giấy nhỏ, trên đó có in sẵn lời Minh Thệ, đưa cho Út Mô xem, rồi nói tiếp:

- Bạn phải đem sanh mạng của bạn ra mà thề với Đức Chí Tôn, quyết tâm theo Đức Chí Tôn tu hành, không lui lại đường đời hay tẽ qua ngả khác, bạn có chịu không?

- Thề với Đức Chí Tôn thì tôi chịu thề liền.

- Tôi đọc lời Minh Thệ, bạn nhìn vào giấy dò theo: "Tên họ của bạn, tuổi của bạn, Thề rằng: từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục." Thiên tru Địa lục là Trời Đất giết chết đó. Bạn dám thề không?

- Thề với người khác thì tôi sợ, còn thề với ông Trời thì tôi bằng lòng.

Lúc đó, ông Chánh Trị Sự và Thông Sự của Hương đạo ông Út Mô ở cũng vừa tới Thánh Thất. Ông Lễ Sanh nhờ hai vị nầy tiến dẫn Út Mô nhập môn vào Đạo, rồi nói tiếp:

- Hôm nay là ngày mùng 10, còn mấy ngày nữa là đến ngày rằm, có cúng Tiểu Đàn nơi Thánh Thất, sau khi chầu lễ Đức Chí Tôn xong thì làm lễ nhập môn cho anh và các vị khác. Đây cũng là dịp để anh quan sát nghi lễ cúng Tiểu Đàn. Từ nay đến rằm, tôi đề nghị ông Chánh Trị Sự hướng dẫn anh Út may một bộ đạo phục: áo dài trắng, quần trắng, khăn đóng đen để mặc khi làm lễ Nhập môn, chỉ dẫn anh cách bắt Ấn Tý, cách lạy Đức Chí Tôn và cách lạy Thần Thánh Tiên Phật. Tôi tặng anh Út cuốn Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo để anh học thuộc Kinh Cúng Tứ Thời.

Ông Chánh Trị Sự dẫn Út Mô lên Thánh Thất xem Thiên Bàn thờ Thiên Nhãn tượng trưng Đấng Thượng Đế, ý nghĩa là Trời thấy hết biết hết mọi việc của con người, không có gì mà giấu giếm được Trời, rồi hướng dẫn Út Mô cách bắt Ấn Tý, cách xá và cách lạy Đức Chí Tôn.

Đến sáng ngày rằm, Út Mô mặc Đạo phục trắng, đầu đội khăn đóng đen, đi tới đi lui trong nhà, cảm thấy mới lạ, lòng nôn nao, đi đến Thánh Thất lúc 11 giờ, vào Văn phòng chào ông Lễ Sanh và các vị Chức việc Bàn Trị Sự, thấy nhiều vị đang lăng xăng chuẩn bị thời cúng Tiểu Đàn vào giờ Ngọ. Gần đến 12 giờ, tất cả Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ đều tụ trước Thánh Thất, nam phái đứng bên trái, nữ phái đứng bên mặt Thánh Thất.

Đúng 12 giờ, khởi đánh trống nơi Lầu Trống, dứt trống thì dộng chuông nơi nơi  Lầu Chuông. Mọi người từ từ đi vào Chánh Điện theo hàng một, nam theo nam, nữ theo nữ, Chức sắc đi trước, kế đến Chức việc và sau cùng là các Đạo hữu, ông Út Mô cũng đi vào và đứng sau chót hết.

Mọi người trong Đàn cúng đều hành lễ theo tiếng chuông gõ làm hiệu lệnh. Các Lễ sĩ chấp 2 tay thành cung tròn xướng lễ, Ban nhạc tấu nhạc cổ, các Đồng nhi tụng kinh giọng thanh tao rõ ràng. Ông Út Mô quan sát các nghi tiết suốt thời cúng, tất cả đều rất mới lạ đối với ông, một sự tôn kính trang nghiêm bao trùm đàn cúng....

Sau khi bãi đàn, ông Chánh Trị Sự dặn Út Mô trở lại Chánh điện để làm lễ nhập môn. Kế ông Lễ Sanh mặc đạo phục vàng, mão trắng có thêu Thiên Nhãn phía trước, bước vào Chánh điện, làm lễ Đức Chí Tôn, cầu nguyện, lạy xong thì đứng dậy, xá rồi bước ra nói:

- Ông Chánh Trị Sự hướng dẫn Anh Út vào làm lễ.

Ông Chánh Trị Sự nói:

- Anh Út vào đứng trước Chánh điện, mặt hướng lên Thiên bàn, hai tay bắt Ấn Tý, xá 3 xá, quì xuống:

▪ đưa Ấn Tý lên giữa trán, niệm: Nam mô Phật,

▪ đưa ấn Tý qua màng tang trái niệm: Nam mô Pháp,

▪ rồi đưa qua bên phải, niệm: Nam mô Tăng,

▪ đem Ấn Tý xuống đặt giữa ngực, niệm: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,

▪ cúi đầu, niệm tiếp: (mỗi niệm mỗi cúi đầu)

Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,

Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,

Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân,

Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

Ông Chánh Trị Sự bảo Út Mô đưa Ấn Tý lên trán cầu nguyện: "Tôi tên Nguyễn Văn Mô, ....tuổi, hôm nay tự nguyện xin nhập môn vào Đạo tu hành."

Kế đó bảo Anh Út Mô lạy Đức Chí Tôn 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Phải gật chậm chậm để kịp câu niệm.

Ông Lễ Sanh bảo Út Mô tự mình đọc lớn lên câu Minh Thệ: Tôi tên . . . . . . . tuổi . . . . . Thề rằng từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, ... ... v.v... ...

Lập thệ xong, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật như đã hướng dẫn, đứng dậy, xá Đức Chí Tôn 3 xá, quay lại xá chữ Khí 1 xá rồi lui ra.

Út Mô mới làm lễ lần đầu nên rất lọng cọng, vị Chánh Trị Sự phải sửa tới sửa lui, nhưng ai cũng vậy, vì chưa quen. Thế là buổi lễ Nhập môn vào Đạo Cao Đài của ông Út Mô đã xong.

Ông Chánh Trị Sự đưa Út Mô trở lại văn phòng, đến bàn viết, lấy sổ bộ ra ghi tên Nguyễn Văn Mô vào, cấp cho ông Út Mô một giấy Sớ Cầu Đạo Tạm, rồi nói:

- Bây giờ, Anh Út là tín đồ của Đạo Cao Đài, anh cần tập cúng lạy cho quen, bắt đầu tập ăn chay mỗi tháng 6 ngày, rồi học thuộc Kinh Cúng Tứ thời. Sau 6 tháng, anh làm tròn bổn phận Đạo hữu thì anh sẽ được cấp Sớ Cầu Đạo Thiệt Thọ, dùng cho đến mãn đời, khi chết cũng phải đốt đem theo. Anh nên có thêm 3 quyển sách căn bản để học đạo:

* Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I-II,
* Pháp Chánh Truyền.
* Tân Luật.

Tôi sẽ thỉnh giùm anh các sách nầy, ngoài ra còn nhiều sách Đạo quan trọng khác nữa. Anh là Đạo hữu trong Hương đạo của tôi, có việc gì cần, anh liên lạc với tôi hay vị  Phó Trị Sự và Thông Sự, chúng tôi sẽ đến giúp anh.

II. Giải thích lời Minh Thệ:

Lời Minh Thệ nầy do Đức Chí Tôn giáng cơ lập ra, chớ không phải do một người phàm nào đặt để, nên có tính cách thiêng liêng huyền bí.

Câu Minh Thệ gồm 36 chữ, số 36 là bội số của 12, mà số 12 là số riêng của Đức Chí Tôn.

Tên gì? . . . . . . . . . Họ gì? . . . . . . . .
"Thề rằng: Từ đây biết một Ðạo Cao Ðài Ngọc Ðế, chẳng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ
13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
Cao Ðài, như sau lòng hai thì Thiên tru Ðịa lục."
25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36

1* Biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế:

Là trọn nhìn một Đạo Cao Đài của Đức Chí Tôn, ngoài ra không đặng xu hướng theo ngoại giáo, tà quyền, lập nên phe đảng, chia rẽ tâm lý, gây nên sự rắc rối chia ly làm mất đức tin trong cửa Đạo.

2* Hiệp đồng chư môn đệ gìn luật lệ Cao Đài:

Tín đồ nhập môn rồi phải tuân hành luật pháp chơn truyền của Đại Đạo là: Tân Luật, Đạo Luật, Pháp Chánh Truyền, v.v... và thi hành các qui điều giáo huấn của Hội Thánh để làm tròn phận sự mình. Ấy là phương hiệp đồng nhứt trí của toàn đạo, tín đồ, Chức việc, Chức sắc Hội Thánh để nhặt gìn luật lệ Cao Đài của Đấng Chí Tôn.

3* Như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục:

Ăn ở hai lòng, bất trung bất chánh, dối Thầy phản bạn và làm những việc trái với luật lệ của Đại Đạo, cùng hành động vô nhân vô nghĩa, mất sự thương yêu, mất điều tín nhiệm, gieo rắc những điều ngờ vực hiềm khích giữa tình đồng đạo và manh tâm bội nghịch cùng Hội Thánh, sẽ chịu luật công bình của Trời Đất tru diệt (giết phạt).

Minh Thệ đối với luật vô vi tức là Thiên điều của Chí Tôn và các Đấng Phật Tiên Thánh Thần cầm quyền trị thế là một ân huệ được chọn làm môn đệ của Đấng Chí Tôn.

Khi giữ tròn lời Minh Thệ sẽ được các Đấng hộ trì, ban ân lành, đạo tâm sáng suốt, trọn vẹn đức tin, đến ngày thành công đắc đạo, được ghi tên vào Tiên tịch (Bộ Tiên).

Minh Thệ đối với luật hữu hình của Hội Thánh là một giá trị uy tín đối với Đạo và Hội Thánh. Khi giữ tròn lời Minh Thệ sẽ được tín nhiệm kính nể, bảo trợ hưởng mọi đặc ân với luật công bình của Hội Thánh.

Lời Minh Thệ nhập môn cầu Đạo là một điều rất quan hệ của người giữ Đạo và là một lời hứa trọn vẹn tín thành với Hội Thánh cùng các Đấng thiêng liêng.

Một kiếp sanh ở hiện tại và tương lai, phước hay tội, cũng do nơi lời Minh Thệ nầy.

Vậy, toàn đạo nam nữ nên trân trọng gìn theo lời Minh Thệ.

(Trích văn thư của Hội Thánh: Dẫn giải lời Minh Thệ nhập môn cầu Đạo
ngày 27-1-Tân Mão, dl 4-3-1951)

III. Tại sao phải Minh thệ? Có ích lợi gì?

Bần đạo nói thật, buổi Đức Chí Tôn đến tạo Quốc Đạo cho nòi giống Rồng Tiên nầy, chính Ngài cầm cơ đi đến các tỉnh kêu từ nhà, gọi từ đứa con, cho không biết bao nhiêu bài khuyến dạy, tạo thành một nền tôn giáo Cao Đài là Quốc Đạo. Bần đạo tưởng chưa có người nào đem cả tinh thần tâm đức mà thi ân cho dường ấy, Đức Chí Tôn đến độ rỗi, lập giáo, rồi lại bắt Minh thệ.

Hỏi tại sao Ngài lại bắt Minh thệ? Là buộc con cái phải hiệp đồng cùng nhau. Mỗi người có một chút đức tin. Thầy bảo qui đức tin ấy lại, phải có tâm đức tin tưởng, yêu ái lẫn nhau, phải nhìn nhận có Thầy, có đức tin nơi Thầy. Hại thay! Có nhiều đứa con của Ngài cũng nghe, cũng tìm Đạo, cũng thọ giáo, cũng Minh thệ đủ phép tắc, biết bao nhiêu khi mới đến cùng Thầy, quì dưới chơn Thầy, mà hễ ra khỏi chơn Ngài rồi thì lại phản phúc Ngài và con cái của Ngài.

(Trích Thuyết Đạo của Đức Phạm Hộ Pháp)

Mục đích của Minh thệ là gì?

- Về phần người: Minh thệ cốt để người tín đồ dứt khoát tư tưởng mà thủ tín với lời thề, không dám làm điều gì trái với lời thề tức là trái với luật đạo, để hết lòng lo lập công bồi đức, trau tâm luyện tánh mà đạt đến phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.

- Về phần thiêng liêng: Người có lập Minh thệ thì các Đấng thiêng liêng mới nhìn nhận là môn đệ của Đức Chí Tôn, tức là tín đồ của Đại Đạo, mới hộ trì không cho tà ma khuấy phá, gây trở ngại bước đường tu tiến.

Minh thệ có ích lợi gì?

Khi lập Minh thệ rồi mới được làm môn đệ của Đức Chí Tôn, mới hưởng được hồng ân của Chí Tôn ban cho:

* Thứ nhứt, môn đệ giữ tròn luật đạo, ăn chay 10 ngày trong một tháng thì vào hàng Đạo hữu, đối phẩm Địa Thần trong Cửu phẩm Thần Tiên.

* Thứ nhì, môn đệ giữ tròn luật đạo, ăn chay 10 ngày mỗi tháng thì khi qui liễu được làm Phép Xác, Phép Đoạn Căn, Độ Thăng, làm Tuần Cửu, Đại Tường, Tiểu Tường, để đưa chơn hồn đi lên qua 12 từng Trời, bái kiến các Đấng Tiên Phật, bái kiến Đức Phật Mẫu và Đức Chí Tôn, sau đó được Tòa Tam Giáo Ngọc Hư Cung định phận.

Ngoài ra, từ xưa tới nay, muốn đạt những thành công vĩ đại thì bổn thân người đó phải có chí khí kiên cường bất khuất vượt qua các trở ngại lâm nguy; còn muốn đạt đến phẩm vị Tiên, Phật thì phải có lời Đại nguyện, giống y lời Minh thệ:

- Trước khi thành Phật A-Di-Đà, Ngài có 49 điều Đại nguyện.

- Thái Tử Sĩ Đạt Ta lúc mới xuất gia, có phát ra 4 điều Đại nguyện.

Vậy, việc Minh thệ là một việc làm rất có ích và rất có ý nghĩa đối với mỗi tín đồ Cao Đài, về phương diện phàm trần cũng như về phương diện thiêng liêng.

IV. Lập Minh thệ có trái với tự do tín ngưỡng không?

Từ ngày lập đạo, Đức Chí Tôn chưa hề bắt buộc người nào theo Đạo cả. Đức Chí Tôn chỉ vạch ra cho nhơn sanh thấy con đường nào chánh, con đường nào tà, con đường nào chơn thật đưa đến giải thoát khỏi luân hồi, con đường nào quanh co đưa đến tội tình sa đọa. Nhơn sanh hiểu biết rõ như thế để giác ngộ, rồi đi con đường nào hay không đi là tùy ý nhơn sanh lựa chọn và định đoạt.

TNHT: Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh Ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ thì số hằng sống của nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để chúng nó theo Tà quái.

Rõ ràng Đức Chí Tôn để nhơn sanh tự định đoạt đời mình, Chí Tôn chỉ đem lòng thương yêu hướng dẫn.

TNHT: Đạo là quí, của quí chẳng bán nài, các con đừng thối chí.

Như vậy nhơn sanh tự do chọn lựa tín ngưỡng, hoặc không tín ngưỡng tùy ý, không bắt ép hay nài nỉ ai cả.

Nhưng lập Minh thệ là sự biểu lộ quyết tâm theo Đạo tu hành đến trọn đời. Đừng bao giờ nghĩ rằng, theo Đạo Cao Đài để thử nghiệm hay có mục đích vụ lợi, mượn danh Đạo tạo danh đời.

Theo Đạo là một đại sự trong cuộc đời mình, nhập môn cầu Đạo và lập Minh thệ là một khúc quanh vô cùng quan trọng trong cuộc đời mình, nên cần phải cân nhắc cẩn thận, tìm hiểu cho kỹ lưỡng, xét nét cho thật nghiêm chỉnh các phương diện.

Đạo Cao Đài không bắt buộc ai theo Đạo, nhưng khi đã giác ngộ theo Đạo thì buộc phải theo trọn đời bằng việc lập Minh thệ, không cho người tín đồ Cao Đài thối lui trở lại đường đời, mà phải tiến mãi trên con đường Đạo, để được trúng tuyển vào Đại Hội Long Hoa trước khi xảy ra cuộc Tận Thế thay đổi cuộc diện nơi Địa cầu 68 nầy.

Tại sao khi ở ngoài vòng thì không buộc, mà khi đã vào cửa Đạo rồi thì lại buộc?

Bởi vì thời kỳ nầy là mạt kiếp của Hạ Nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng Nguơn Tứ Chuyển lập đời Thánh đức, nhơn loại phải trải qua một cuộc Đại Phán Xét cuối cùng, để chấm dứt một chu kỳ tiến hóa cũ, bắt đầu một chu trình tiến hóa mới. Do đó, Đức Chí Tôn đại khai ân xá cho các đẳng chơn hồn, nếu ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về ngôi vị cũ. Thời kỳ nầy cần phải tu gấp, tu rút, không còn thời giờ để chần chờ nữa. Bởi vậy Đức Chí Tôn buộc Minh thệ là thể lòng thương yêu vô lượng của Đấng Cha Lành, buộc con cái phải gấp rút tu hành để kịp trở về cùng Ngài.

Địa cầu nầy sắp phải chịu một lần đổi thay, nhơn loại bị nạn chết chóc đủ cách sầu thảm, 10 phần chỉ còn sống có 1 phần mà thôi. Số nhơn loại sống sót là những người đủ trình độ đạo đức, đủ bác ái công bình, để các Đấng lập đời Thánh đức, tạo lập một xã hội đại đồng.

Cho nên việc lập Minh thệ là một quyền lợi tất yếu của người tín đồ Đạo Cao Đài.

Đương nhiên luật công bình thiêng liêng mở ra có thưởng ắt có phạt. Nếu thực thi đúng theo lời Minh thệ thì chắc chắn sẽ được thiêng liêng ân thưởng như đã trình bày bên trên, còn nếu không giữ đúng lời Minh thệ hay làm ngược lại lời Minh thệ thì ắt bị phạt.

Cho nên, theo Đạo là để chí cốt tu hành, còn nếu cảm thấy không thể giữ được lời Minh thệ thì chưa nên theo Đạo.

(Trích trong Cao Đài Từ Điển của Đức Nguyên)

V. Thất Thệ thì sao?

Thế nào là Thất Thệ? Thất Thệ là làm mất lời thề, tức là không giữ được lời thề, không thực thi đúng lời thề, là vi phạm lời thề.

Trong phần II của bài nầy (đã trình bày ở các trang trước): Giải thích lời Minh Thệ của Hội Thánh có ba mục: 1*, 2*, 3*, nếu không giữ đúng theo ba mục nầy thì phạm vào tội Thất Thệ.

Như Thất Thệ có bị Thiên tru Địa lục không?

Đáp: Theo nguyên tắc thì phải bị Thiên tru Địa lục đúng theo lời thề, nhưng đối với một ông Cha hiền từ là Đại Từ Phụ, chỉ biết hăm he phạt nặng cho con cái sợ sệt mà lo tu hành, chớ có bao giờ Ngài giết chết con cái của Ngài. Những người thất thệ chỉ bị đọa vào Phong Đô, tức Cõi Âm Quang, để học đạo, nơi đó có Thất Nương DTC giáo hóa nữ phái và Địa Tạng Vương Bồ Tát dạy nam phái cho biết rõ lẽ đạo, đâu là phước, đâu là tội. Khi đã thức tỉnh biết rõ thì các Đấng nơi ấy cho đi đầu thai chuyển kiếp để trả quả theo đúng luật công bình thiêng liêng, đồng thời lo tu hành để được Đức Chí Tôn cứu vớt.

TNHT: Hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy, đó là mấy Đạo hữu tín đồ thất thệ. (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 165)

Sau đây là kết quả việc Thất thệ của một tín đồ, tại Hương đạo Bá Hữu, Phận đạo đệ nhứt, có Phúc Trình dâng lên Hội Thánh. Nội dung Phúc Trình, xin chép ra sau đây:

Kính bạch Hội Thánh,

Chúng tôi là Bàn Trị Sự đương quyền Hành Chánh Hương đạo Bá Hữu thuộc Đệ I Phận đạo, đồng kính phúc trình một việc như sau:

Nguyên trong Hương đạo chúng tôi có vị Đạo hữu Lê Văn Lòng 60 tuổi, qui vị ngày 17-giêng-Đinh Mùi, nhưng vị nầy trước kia còn sống thì có tánh hiền lương chơn thật, biết lập công bồi đức cùng Đạo, nhưng ông còn thiếu sự chay lạt và cúng kiếng. Ông không biết nên ngày qui vị của ông, Bàn Trị Sự chúng tôi hành lễ theo Châu Tri số 61 của Hội Thánh, thì có người con trai lớn của ông là Lê Văn Sen 29 tuổi, thợ hồ, yêu cầu Bàn Trị Sự chúng tôi hành lễ đủ kinh cho thân phụ người rồi thì sẽ ăn chay trong 81 ngày và tụng kinh trong Tuần Cửu, nhưng nói mà thông qua chớ không ăn chay, nên 10 giờ đêm ngày 17-3-Đinh Mùi, ông Lê Văn Lòng về nhập xác cho con về việc nói trên và cung khai các việc như sau:

Do sự chứng kiến của Liên gia trưởng và nhiều người lân cận nói lại, ông về mách bảo vợ con biết là ông thất thệ, hồi còn sống không ăn chay, nên bị tội ở Khách Đình của Hội Thánh, để chờ ngày thưởng phạt của các Đấng.

Ông nói với vợ con rằng: Yêu cầu Bàn Trị Sự tụng kinh cho ông 3 đêm Sám Hối xin tội giùm ông, ông mới đặng siêu thăng, và ông đính chánh ông có hai tên: Nguyễn Văn Lòng tự là Lê Văn Bộ, mới đúng trong Bộ thiêng liêng và khi dâng sớ cầu nguyện cũng viết y như vậy.

Ông còn nói: Linh hồn ông hiện giờ còn ở lưng chừng, muốn đi đâu phải xin phép mới có người hướng dẫn, và muốn vô nhà nào cũng không được vì nơi gia đình tư nhân có thờ Chí Tôn thì không dám vô vì ở đó có Thần Thánh, mà ông là người có tội, vì ông không giữ đúng lời Minh Thệ khi nhập môn cầu đạo.

Ông Trưởng liên gia hỏi thêm ông: Hiện giờ ở Khách Đình có một mình ông hay có ai nữa không?

Ông trả lời: Trùng trùng điệp điệp, những người thất thệ lưng chừng như ông còn ở đó mấy chục năm nay.

Ông nói đến đây rồi khóc òa lên và nói cho vợ con tin làm bằng chứng là cái mả của ông, mưa lở một phía bên trái, gần đầu. Việc nầy cũng đúng sự thật.

Đến đây ông xuất đi luôn.

Bá Hữu, ngày 18 tháng 3 năm Đinh Mùi (1967).
(Bàn Trị Sự ký tên)

VI. Phần kết:

Những người đến nhập môn vào Đạo Cao Đài phần lớn không phải do hiểu biết giáo lý của Đạo, hay có đức tin Thượng Đế, mà là do cảm phục sự linh hiển hay sự cao cả của Đạo trong việc phụng sự bất vụ lợi giúp ích nhơn sanh.

Như trường hợp của ông Út Mô đã kể nơi phần I, ông cảm phục Đạo Cao Đài tổ chức một đám tang cho người đạo nghèo với đầy đủ nghi lễ, trong trật tự trang nghiêm và huyền bí, với tinh thần làm công quả bất vụ lợi, khiến cho người nghèo được làm đám cũng long trọng như người giàu. Ông cảm phục lẽ đó mà nhập môn vào Đạo.

Ông Út Mô chưa có đức tin tôn giáo, chưa có tín ngưỡng Trời Phật, chỉ thấy một mặt thể hiện tốt đẹp về nghi thức đám tang mà ông theo Đạo.

Nhưng đó là cái duyên rất cần thiết cho một người đến với Đạo. Nếu chưa có cái duyên nầy thì ông Út Mô chưa đến với Đạo.

Do đó, các Chức sắc trong cơ Phổ Độ của Đạo Cao Đài cần phải thuyết minh giáo lý cho các tín đồ hiểu rõ, để chuyển từ cái mê tín (là cái duyên) thành chánh tín thực sự, hoàn toàn tin tưởng Đạo Cao Đài là chánh đạo có một giáo lý chơn thật đủ sức giải thoát con người ra khỏi biển khổ luân hồi, tin tưởng Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu là hai Đấng Cha Mẹ chung của toàn cả chúng sanh, luôn luôn thương yêu và tìm cách cứu độ chúng sanh.

Riêng bản thân của người Đạo hữu Cao Đài, ngoài việc cúng kiếng và làm công quả, phải dành nhiều thời giờ để học luật pháp và giáo lý của Đạo có in trong các kinh sách thì mới hiểu rõ chơn truyền của Đạo, mới có đức tin vững chắc và mới không bao giờ xa Đạo hay bỏ Đạo mà thất thệ với Đức Chí Tôn.

* Giải nghĩa vài từ ngữ đã dùng:

1. Tại sao tín đồ Đạo Cao Đài gọi Đức Chí Tôn là Thầy?

Đức Chí Tôn là từ mà tín đồ Đạo Cao Đài thường gọi Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, hay vắn tắt là Thượng Đế, Ông Trời, là Đấng Chúa tể CKVT và vạn vật.

Đức Chí Tôn giáng cơ dạy đạo, xưng mình là Thầy, gọi các người nhập môn vào đạo là các con, là chư môn đệ.

Vì thế, các tín đồ Cao Đài đều là môn đệ của Đức Chí Tôn và gọi Đức Chí Tôn là Thầy.

Đức Chí Tôn là cha của linh hồn, Đức Phật Mẫu là mẹ của chơn thần, nên chúng ta gọi Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ và Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu, là hai Đấng Cha Mẹ chung thiêng liêng của toàn cả chúng sanh.

2. Cõi Âm quang là gì? ở đâu?

Trong TNHT I-II hợp nhứt, bài Thánh Ngôn số 159 và 165, Bát Nương và Thất Nương có giải rõ về Âm quang. Đây là cõi giữa Thiên đường và Địa ngục, được Đức Chí Tôn lập ra, sau khi đóng Địa Ngục mở tầng Thiên vào thời ĐĐTKPĐ trong Đại Ân Xá của Ngài.

Thời trước, các linh hồn phạm tội bị giam vào Địa ngục để quỉ sứ hành hình như đã nói trong Kinh Sám Hối, nhưng khi Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài cũng là Đại Ân Xá kỳ ba, Đức Chí Tôn phế bỏ Địa ngục, lập ra một cảnh mới là cõi Âm quang, để đưa các linh hồn tội lỗi đến đó học đạo.

Thất Nương DTC dạy dỗ các nữ tội hồn, Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn. Ở cõi Âm quang chỉ có giáo hóa chớ không có trừng phạt. Khi các tội hồn thức tỉnh, biết lẽ thiện ác thì được cho đi đầu kiếp nơi cõi trần để trả quả và tu hành, để được siêu thăng về cõi thiêng liêng.

3. Chánh tín và mê tín là gì?

Chánh tín là tin tưởng đúng đắn, chơn chánh.

Mê tín là tin tưởng mù quáng, quàng xiên, lầm lẫn.

Chánh tín thì chánh niệm, mê tín thì vọng niệm.

Chánh tín là tin tưởng tuyệt đối lời giáo huấn của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Tiên, Phật là chơn thật, tin tưởng luật công bình thiêng liêng của Trời Đất.

Mê tín thì không tin luật công bình, luôn luôn vụ lợi, cầu cúng nhiều để Thần Thánh ban phước cho mình và gia đình mình. Thần Thánh công bình đâu bao giờ ăn hối lộ mà cầu cúng như vậy.

Muốn chuyển Mê tín qua Chánh tín thì chỉ có một cách là học đạo cho thấu đáo mà thôi.

4. Cửu phẩm Thần Tiên:

Cửu phẩm Thần Tiên là 9 phẩm vị từ Thần đến Tiên, kể ra:

  Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần,
  Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh,
  Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên.

Theo Pháp Chánh Truyền:

* Đạo hữu giữ tròn Minh Thệ và Tân Luật thì được đối phẩm Địa Thần.

* Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự, làm tròn phận sự thì được đối phẩm Nhơn Thần.

* Lễ Sanh đối phẩm Thiên Thần.

* Giáo Hữu đối phẩm Địa Thánh. v.v....

 


 

Chương 2:
 

CÁCH LẠY

 

I. Ấn Tý - Cách bắt Ấn Tý:

1. Ấn Tý là gì?

Ấn là dấu hiệu đặc biệt về mặt đạo có tác dụng huyền bí do hai bàn tay kết lại tạo ra. Tý là chi đầu tiên trong Thập nhị Địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, v.v...

Trên bàn tay trái, vị trí của Tý ở tại chân ngón áp út, Sửu ở chân ngón giữa và Dần ở chân ngón trỏ.

Ấn Tý là cái ấn mà ngón tay cái của bàn tay trái co lại chỉ vào chi Tý rồi nắm lại, bàn tay mặt ốp bên ngoài mà ngón cái chỉ vào chi Dần của bàn tay trái.

2. Cách bắt Ấn Tý:

Ấn Tý là cái ấn đặc biệt của Đạo Cao Đài, cách bắt như sau: (Xem hình vẽ 1,2,3,4)

- Hình 1: vị trí của ba Địa chi: Tý, Sửu, Dần trong thập nhị Địa chi nơi bàn tay trái.

- Hình 2: ngón cái co lại đặt tại chi Tý, ý nghĩa là: Thiên khai ư Tý (Trời mở ra ở hội Tý).

- Hình 3: nắm bốn ngón tay trái lại, bên trong có ngón cái làm như cái hột ở giữa.

- Hình 4: bàn tay mặt ốp bên ngoài nắm tay trái ấy, ngón cái của bàn tay mặt đặt vào vị trí chi Dần của tay trái, ý nghĩa: Nhơn sanh ư Dần (Người sanh ra ở hội Dần).

Hai tay bắt như vậy gọi là Ấn Tý.

     

Hình 1

Hình 2

Hình 3

   

Hình 4 (ẤN TÝ)

Hình 5 (khi lạy)

Cách bắt Ấn Tý có ý nghĩa về sự tạo thành Trời Đất và Nhơn loại, theo quan niệm của người xưa ở đông phương: Thời gian tạo thành càn khôn vũ trụ và vạn vật được chia làm 12 khoảng, mỗi khoảng thời gian được gọi là Hội và đặt tên theo Thập nhị Địa chi: Hội Tý là Hội đầu tiên, kế đến Hội Sửu, sau đó là Hội Dần, v.v....

Thiên khai ư Tý: Trời mở ra ở hội Tý.

Địa tịch ư Sửu: Đất mở ra ở hội Sửu (tịch là mở).

Nhơn sanh ư Dần: Người sanh ra ở hội Dần.

Các hội tiếp theo là sự tiến hóa của trời, đất, người và vạn vật đến chỗ hoàn hảo.

Ấn Tý là ấn đặc biệt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Đức Chí Tôn đặt ra. Cho nên trong thời ĐĐTKPĐ, mỗi khi lạy, chúng ta đều phải bắt Ấn Tý, trong tất cả các trường hợp, dù đó là lạy Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, lạy các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, hay lạy Cửu Huyền Thất Tổ, lạy Vong phàm.

II. Cách lạy và xá:

Lạy là gì? Lạy là tỏ ra bề ngoài lễ kỉnh trong lòng.

Tay trái tượng trưng Dương, tay mặt tượng trưng Âm, hai tay chấp lại tượng trưng Âm Dương hiệp nhứt phát khởi càn khôn, hóa sanh vạn vật.

Hai tay chấp lại bắt theo Ấn Tý tạo hình như một trái cây, tượng trưng sự kết quả của hai thời kỳ Phổ Độ trước là: Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ.

- Thời Nhứt Kỳ Phổ Độ: Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy cách bắt tay: Bàn tay trái nắm lại, ngón cái để ngoài, bàn tay mặt ốp vào bên ngoài, hai ngón cái đặt song song sát nhau, giống như cái bông búp. Khi lạy thì đứng chấp tay nơi ngực, cúi người xuống thấp, hai bàn tay chống lên đất, hai đầu gối lần lượt quì xuống, cúi đầu gần sát đất. Xong rồi rút hai tay lên, kế chống một gối, đặt hai tay lên gối rồi đứng dậy. Lạy như vậy gọi là phủ phục.

- Thời Nhị Kỳ Phổ Độ: Đức Phật Thích Ca dạy cách bắt tay và lạy như sau: Hai bàn tay xòe ra và chấp lại cho hai lòng bàn tay ốp sát vào nhau, giống như cái hoa sắp nở, khi lạy thì cúi người xuống thấp, mở hai bàn tay ra đặt ngửa trên mặt đất, giống như cái hoa nở (gọi là hoa khai), cúi đầu xuống cho trán chạm vào lòng hai bàn tay, xong rút tay lên chấp lại như cũ và đứng dậy.

- Thời Tam Kỳ Phổ Độ: Đức Chí Tôn dạy chúng ta chấp hai tay bắt Ấn Tý, giống như trái cây có cái hột bên trong (gọi là kết quả), quì xuống, cúi đầu và mở hai bàn tay ra đặt úp lên mặt đất, hai ngón tay cái gác tréo nhau (Hình 5), giống như chúng ta gieo hột giống xuống đất, trán cúi xuống chạm nhẹ lên mô bàn tay, rồi cất người lên.

Tóm lại, Ấn Tý của Đạo Cao Đài có hai ý nghĩa:

* Một là biểu thị ba thời kỳ đầu tiên tạo dựng CKVT (gồm Trời, Đất, Người) của Đức Chí Tôn Thượng Đế.

* Hai là tượng trưng sự kết quả của hai thời kỳ Phổ Độ trước (Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ).

Cách xá:

Khi đứng xá, hai tay bắt Ấn Tý, đưa lên trán, ý nghĩa là kỉnh Thiên (Trời), xá sâu xuống, ý nghĩa là kỉnh Địa (Đất), rồi rút Ấn Tý lên đặt nơi ngực, ý nghĩa là kỉnh Nhơn (Người). Xá như vậy nhắc chúng ta kính Tam Tài: Thiên, Địa, Nhơn.

Chỉ xá trước khi lạy và sau khi lạy xong, phải xá sâu xuống. Lưu ý là giữa hai lạy, không có xá nhỏ xen vào.

(giữa trán)

* Nam mô Phật

(màng tang trái)

* Nam mô Pháp

(màng tang mặt)

* Nam mô Tăng

(giữa ngực)

* Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
* Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát
* Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
* Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân
* Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

1. Cách lạy Đức Chí Tôn:

- Đứng thẳng người, mặt hướng vào Thiên bàn, tay bắt Ấn Tý, xá sâu 3 xá, quì xuống (chân trái bước tới, chân phải quì xuống, chân trái quì theo), đặt ấn Tý trước ngực.

- Lấy dấu Phật Pháp Tăng:

▪ Đưa ấn Tý lên giữa trán niệm: Nam mô Phật.

▪ Đưa qua màng tang trái, niệm: Nam mô Pháp.

▪ Đưa qua màng tang mặt, niệm: Nam mô Tăng.

(Khi đưa ấn Tý qua Pháp hay qua Tăng, nhớ giữ cái đầu luôn luôn thẳng đứng, đừng nghiêng đầu qua nghiêng đầu lại)

- Đưa ấn Tý xuống đặt giữa ngực, cúi đầu và niệm:

▪ Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

▪ Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

▪ Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ

▪ Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

▪ Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

- Đưa ấn Tý lên giữa trán cầu nguyện Đức Chí Tôn.

- Lạy xuống lần thứ nhứt, nhớ hai bàn tay mở ra úp xuống, hai ngón cái gác tréo nhau (Hình 5), đầu gật xuống:

▪ gật thứ 1 niệm: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

▪ gật thứ 2: cũng niệm y như vậy.

▪. gật thứ 3: cũng niệm y như vậy.

▪ gật thứ 4: cũng niệm y như vậy.

Xong rồi cất mình lên, vẫn quì.

- Lạy xuống lần thứ nhì, lần lượt gật 4 gật, mỗi gật cũng niệm câu Chú của Thầy y như vậy.

- Lạy xuống lần thứ ba, làm y như lần lạy thứ nhì.

Như vậy, có 3 lần lạy (tức là lạy 3 lạy), mỗi lạy gật đầu 4 gật, mỗi gật niệm Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Câu niệm đó gọi là câu Chú của Thầy. Tổng cộng lạy 3 lạy, 12 gật, 12 lần niệm.

Lạy xong, đứng dậy, xá sâu xuống 3 xá.

Nếu nơi Thánh Thất thì có bàn thờ Đức Hộ Pháp, phải quay lại, xá chữ KHÍ 1 xá.

Nếu không phải nơi Thánh Thất, không có bàn thờ Đức Hộ Pháp và chữ KHÍ thì khỏi quay lại xá. Xong lui ra.

Thật ra, phải lạy Đức Chí Tôn 12 lạy, nhưng Đức Chí Tôn ân xá, chỉ cho lạy 3 lạy và 12 gật, mỗi gật thay thế một lạy. Số 12 là số riêng đặc biệt của Đức Chí Tôn.

Lưu ý: Nhận thấy có một vài vị, khi lạy xong, cất mình lên, rút tay bắt ấn Tý đặt lên ngực, lại xá nhỏ xuống một cái. Cái xá nhỏ nầy thừa.

2. Cách lạy Đức Phật Mẫu:

Khi đến Điện Thờ Phật Mẫu, chúng ta vào chánh điện, đứng thẳng người hướng vào bàn thờ Đức Phật Mẫu, tay bắt ấn Tý, xá sâu 3 xá vừa cúi đầu, rồi quì xuống.

▪ Đưa ấn Tý lên trán, xá sâu xuống một xá, vừa xá vừa niệm: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

▪ Rút ấn Tý đặt trở lên ngực, rồi đưa lên trán, xá sâu xuống lần thứ nhì, vừa xá vừa niệm: Nam mô Cửu vị Tiên Nương.

▪ Xá sâu xuống lần thứ ba, vừa xá vừa niệm: Nam mô Bạch Vân Động chư Thánh.

▪ Đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện với Đức Phật Mẫu. . Lạy xuống 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

Như vậy, lạy 3 lạy, 9 gật, 9 lần niệm danh hiệu của Đức Phật Mẫu.

Lạy xong đứng dậy, xá 3 xá, day ngược ra sau, xá cái phông màu trắng 1 xá. Cái phông ấy tượng trưng Khí Sanh quang mà Đức Phật Mẫu dùng để nuôi sống chúng ta. Xá xong lui ra.

3. Cách lạy Tiên, Phật:

Trước khi lạy, vào đứng, bắt ấn Tý, xá 3 xá, rồi quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 3 lạy, mỗi lạy gật 3 gật, mỗi gật niệm danh hiệu của Đấng ấy.

Thí dụ: Lạy Đức Phật Thích Ca thì niệm: Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Lạy Cửu vị Tiên Nương thì niệm: Nam mô Cửu vị Tiên Nương.

4. Cách lạy Thần, Thánh:

Trước khi lạy, vào đứng, bắt ấn Tý, xá 3 xá, rồi quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 3 lạy trơn (không gật), mỗi lạy niệm danh hiệu của Đấng ấy.

Thí dụ: Lạy Bạch Vân Động chư Thánh thì mỗi lạy niệm: Nam mô Bạch Vân Động chư Thánh.

Lạy Thần Hoàng Bổn Cảnh thì mỗi lạy niệm: Nam mô Thần Hoàng Bổn Cảnh.

5. Cách lạy Cửu Huyền Thất Tổ:

Giống y như lạy Thần, Thánh, nghĩa là 3 lạy trơn, mỗi lạy niệm: Nam mô Cửu Huyền Thất Tổ.

6. Cách lạy Vong phàm:

Vong phàm là vong linh của người phàm tục.

Người phàm tục là người chưa giác ngộ lẽ đạo, chưa có tín ngưỡng Trời Phật hay tôn giáo, chưa tin tưởng con người có một linh hồn bất diệt.

Trong PCT Chú Giải, phần Quyền hành của Chánh Phối Sư, người phàm tục được định nghĩa như sau:

PCT: "Kẻ ngoại giáo, Tả đạo Bàng môn, người vô đạo, riêng nắm quyền hành thế tục, nghịch cùng chơn lý chánh truyền, mượn thế lực phàm tục mà diệt lành dưỡng dữ, mê hoặc nhơn sanh, lưu luyến trần thế, trên không biết Trời, dưới không kỉnh Đất, lấy người làm lợi khí đặng vụ tất công danh, quyền quyền thế thế, chẳng kiêng nể luân hồi, ham vật chất hơn tinh thần, lấy vinh hoa của kiếp sanh làm sở nguyện, như thú vật, cây cỏ, sắt đá, chỉ biết sống mà không biết sống làm gì, còn không hay, mà mất cũng không biết. Ấy là hạng phàm, gọi là đời đó vậy."

Lạy Vong phàm gồm 4 lạy: 2 lạy quì và 2 lạy đứng, thực hành như sau:

Trước khi lạy, vào đứng, hai tay bắt ấn Tý, xá 3 xá.

Quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 2 lạy trơn (không gật).

Hai lạy quì ý nghĩa là 1 lạy kính Thiên và 1 lạy kính Địa.

Xong rồi đứng lên, tay vẫn bắt ấn Tý, cúi mình lạy xuống theo lối phủ phục, chống đầu gối đứng dậy, rồi lạy xuống như vậy một lần nữa. Đó là 2 lạy đứng dành cho phần người, ý nghĩa là 1 lạy Âm và 1 lạy Dương. Xong thì xá 1 xá rồi lui ra.

7. Cách lạy Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu đã qui liễu:

Cách lạy tùy theo phẩm tước của vị Chức sắc ấy đối phẩm với hàng nào trong Cửu phẩm Thần Tiên.

a) Chức sắc đối phẩm Phật vị và Tiên vị:

gồm Đức Giáo Tông, Đức Chưởng Pháp, Nam Đầu Sư, Nữ Đầu Sư, Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh, Thập nhị Thời Quân.

Lạy theo cách lạy Tiên, Phật, nghĩa là 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm danh của Chức sắc ấy.

Thí dụ: Lạy Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung thì niệm: Nam mô Đức Quyền Giáo Tông.

(Ở đây không dùng Thánh danh Thượng Trung Nhựt vì Thánh danh nầy là của phẩm Đầu Sư).

Lạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu thì niệm: Nam mô Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.

Lạy Đức Phạm Hộ Pháp thì niệm: Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.

Lạy Đức Cao Thượng Phẩm thì niệm: Nam mô Đức Cao Thượng Phẩm.

Lạy Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa thì niệm: Nam mô Trần Khai Pháp Chơn Quân..... v.v...

b) Chức sắc đối phẩm Thánh vị:

Đối phẩm hàng Thánh vị gồm các phẩm Chức sắc:

- Bên Cửu Trùng Đài, từ Chánh Phối Sư đổ xuống tới hàng Giáo Hữu,

- Bên Hiệp Thiên Đài, từ phẩm Tiếp Dẫn Đạo Nhơn đổ xuống tới Truyền Trạng,

- Bên Cơ Quan Phước Thiện thì từ phẩm Thánh Nhơn đổ xuống tới phẩm Chí Thiện,

- Và các phẩm Chức sắc tương đương trong các cơ quan khác của Đạo như: Bộ Nhạc, Ban Kiến Trúc, Ban Nhà Thuyền, Ban Thế Đạo, v.v... (Xem Bảng Đối phẩm nơi cuối Chương Phước Thiện)

Cách lạy giống y như lạy Thánh, nghĩa là 3 lạy trơn, mỗi lạy niệm phẩm tước và Thánh danh của vị ấy, nếu không có Thánh danh thì niệm Thế danh.

c) Lễ Sanh, Chức việc Bàn Trị Sự và Đạo hữu:

- Lễ Sanh và các phẩm Chức sắc tương đương được đối phẩm Thiên Thần, nên khi qui liễu, được lạy theo hàng Thần vị, nghĩa là 3 lạy trơn.

- Chức việc BTS gồm: Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự làm tròn nhiệm vụ thì được đối phẩm Nhơn Thần; Đạo hữu giữ tròn bổn phận và ăn đủ 10 ngày chay mỗi tháng được đối phẩm Địa Thần; các phẩm nầy và các phẩm tương đương khi qui liễu thì được lạy theo hàng Thần vị: 3 lạy trơn.

Điều nầy rất hợp lý, vì theo PCT: Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự đối phẩm Nhơn Thần; Đạo hữu đối phẩm Địa Thần, nên các phẩm nầy đều thuộc Thần vị.

Nếu cho rằng các phẩm nầy khi qui liễu là Vong phàm thì trái với PCT, hơn nữa 3 phẩm Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự là Hội Thánh Em (Đầu Sư Em, Giáo Tông Em, Hộ Pháp Em), thay mặt Hội Thánh Anh, cầm quyền hành đạo nơi hương đạo thì không thể xem là Vong phàm được.

PCT: (Đoạn nầy trích trong Quyền hành Chánh Phối Sư)

"Trong Cửu Trùng Đài có Đầu Sư thì đối với phẩm Địa Tiên; Chưởng Pháp thì đối với phẩm Nhơn Tiên; Giáo Tông thì đối với phẩm Thiên Tiên; Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Phật vị tại thế nầy. Ấy vậy, các Đấng ấy đối phẩm cùng các Đấng Trọn lành của Bát Quái Đài.

Giáo Tông giao quyền cho Đầu Sư, Đầu Sư lại phân quyền cho Chánh Phối Sư (Hay!) lập Đạo đặng độ rỗi nhơn sanh; cũng như Hộ Pháp giao quyền cho Thượng Sanh và Thượng Phẩm.

Còn Chánh Phối Sư và Phối Sư đối phẩm Thiên Thánh; Giáo Sư đối phẩm Nhơn Thánh; Giáo Hữu đối phẩm Địa Thánh; Lễ Sanh đối phẩm Thiên Thần; Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự đối phẩm Nhơn Thần, chư Tín đồ đối phẩm Địa Thần. (Hay!)

Ấy vậy, các vị ấy đối phẩm vào hàng Thánh của Bát Quái Đài là cầm quyền lập Đạo."

d) Chức sắc và Đạo hữu thất thệ, làm đám tang theo cách Bạt tiến:

Trong trường hợp nầy, dầu ở phẩm cấp nào, chúng ta cũng lạy theo hàng Vong phàm, nghĩa là 2 lạy quì và 2 lạy đứng.

8. Lạy người sống:

Khi con cháu lạy cha mẹ hoặc ông bà còn sống, hay trò lạy thầy còn sống, thì đứng hướng vào vị đó, chấp hai tay ấn Tý, xá 1 xá, rồi lạy 2 lạy đứng theo lối phủ phục, lạy xong xá 1 xá.

Chúng ta nhớ, trong tất cả cách lạy thời ĐĐTKPĐ, hai tay phải bắt ấn Tý, vì ấn Tý là ấn của ĐĐTKPĐ.

III. Giải thích các từ ngữ đã dùng:

1. Câu chú của Thầy:

Câu chú của Thầy là câu niệm danh hiệu của Đức Chí Tôn, có tác dụng huyền bí do Đức Chí Tôn đặt ra để hộ trì các môn đệ trong thời ĐĐTKPĐ.

Câu chú của Thầy gồm 12 chữ là: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Trong Câu chú có danh xưng của Đức Chí Tôn là: Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Danh xưng nầy có ý nghĩa bao gồm Tam giáo:

- Cao Đài tượng trưng Nho giáo, vì đây là cái đài cao nơi Linh Tiêu Điện Ngọc Hư Cung, nơi Đức Chí Tôn ngự để họp Thiên triều của Ngài. Chữ Cao Đài tượng trưng phẩm trật nơi triều đình, là chủ trương của Nho giáo.

- Tiên Ông tượng trưng Tiên giáo.

- Đại Bồ Tát Ma Ha Tát tượng trưng Phật giáo.

Trong danh hiệu nầy, Đức Chí Tôn ngụ ý Tam giáo vốn cùng một gốc mà ra, gốc đó là Thượng Đế. Ngày nay, Đức Chí Tôn đến mở ĐĐTKPĐ là qui hiệp Tam giáo về một mối do Đức Chí Tôn chưởng quản.

2. Ba thời kỳ Phổ Độ:

Tại sao có 3 thời kỳ phổ độ?

Bởi vì từ khi xuất hiện loài người trên mặt địa cầu nầy, Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu cho 100 ức nguyên nhân giáng trần để khai hóa nhơn loại. (1 ức = 100 000)

Số nguyên nhân ấy khi sống nơi cõi trần, ăn thực phẩm của cõi trần nên bị qui phàm, không thể trở về được với Chí Tôn và Phật Mẫu. Đức Chí Tôn thương xót, mở ra Nhứt Kỳ Phổ Độ để cứu độ các nguyên nhân nầy.

Các tôn giáo lớn thuộc Nhứt Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời thái cổ gồm:

- Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ.

- Brahma Phật mở đạo Bà La Môn ở Ấn Độ.

- Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa.

- Vua Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa.

- Thánh Mọse mở Do Thái giáo ở nước Do Thái.

Các tôn giáo nầy chỉ cứu độ được 6 ức nguyên nhân, nên vẫn còn 94 ức nguyên nhân bị đọa trần.

Đức Chí Tôn lại thương xót, nên mở ra Nhị Kỳ Phổ Độ để tiếp tục cứu độ các nguyên nhân còn lại.

Các tôn giáo lớn thuộc Nhị Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời thượng cổ, gồm:

- Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Độ.

- Lão Tử mở Tiên giáo ở Trung Hoa.

- Khổng Tử chấn hưng Nho giáo ở Trung Hoa.

- Chúa Jésus mở Thiên Chúa giáo ở Do Thái.

Các tôn giáo kỳ nầy cứu độ được 2 ức nguyên nhân.

Như vậy, số nguyên nhân còn bị đọa trần là 92 ức.

Đức Chí Tôn mở lòng đại từ đại bi lần chót, khai Tam Kỳ Phổ Độ tại nước Việt Nam, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài, kéo dài 700 ngàn năm, để tận độ 92 ức nguyên nhân còn bị đọa trần.

Đây là lần cứu độ chót, nếu các nguyên nhân không giác ngộ tu hành, không trở về được cõi TLHS thì không còn kêu ca hay trách móc vào đâu được nữa.

 


 

Chương 3:
 

ĂN CHAY

 

I. Định nghĩa - Trai kỳ - Trường trai.

1. Định nghĩa:

Ăn chay là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ thảo mộc hay được chế biến từ thảo mộc.

Thí dụ: Ăn các loại rau cải, hoa quả, củ đậu, tàu hủ, tương chao, các loại nấm, v.v...

Trái với Ăn chay là Ăn mặn.

Ăn mặn là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ động vật hay được chế biến từ động vật. Động vật là nói chung các loài vật cử động: bò, bay, máy, cựa.

Thí dụ: Ăn thịt heo, gà vịt, bò, cá, tôm, cua, ba tê, lạp xưởng, hột vịt lộn, cá mòi hộp, v.v....

2. Trai kỳ:

Chữ "chay" do chữ Hán là "trai" nói trại ra. Trai có nghĩa là trong sạch, thanh tịnh.

Trai kỳ là ăn chay kỳ, tức là ăn chay một số ngày nhứt định trong mỗi tháng âm lịch, những ngày còn lại thì được ăn mặn.

Có hai loại trai kỳ: Lục trai và Thập trai.

- Lục trai là ăn chay mỗi tháng 6 ngày, đạo Tiên gọi là Nguơn Thủy Lục trai, do Đức Nguơn Thủy lập ra.

Sáu ngày chay qui định trong tháng âm lịch là: 1, 8, 14, 15, 23, 30.

Nếu tháng âm lịch thiếu, không có ngày 30 thì ăn chay ngày 29 thế vào cho đủ 6 ngày chay.

- Thập trai là ăn chay mỗi tháng 10 ngày, đạo Phật gọi là Chuẩn Đề Thập trai, do Đức Phật Chuẩn Đề lập ra.

Mười ngày chay qui định trong tháng âm lịch là: 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30.

Nếu tháng âm lịch thiếu, không có ngày 30 thì ăn chay ngày 27 thế vào cho đủ số 10 ngày chay.

3. Trường trai:

Trường trai là ăn chay trường, tức là ăn chay hoài từ ngày nầy qua ngày khác (không có ngày nào ăn mặn).

Theo Tân Luật, các tín đồ còn trong cấp Hạ thừa thì ăn chay kỳ tức là ăn 6 ngày hoặc 10 ngày trong tháng; còn các tín đồ trong bực Thượng thừa thì ăn chay trường.

Trong bực Hạ thừa, ăn chay 6 ngày trong một tháng là giai đoạn tập sự để cho quen dần với việc ăn chay, không nên giữ hoài như vậy, mà sau đó phải ráng tiến lên ăn chay 10 ngày trong một tháng thì mới được nhìn nhận là tín đồ thiệt thọ chánh thức của Đạo Cao Đài, mới thọ hưởng được các bửu pháp khi qui liễu, tức là các phép bí tích độ hồn trong cơ tận độ của Đức Chí Tôn; nếu còn ăn chay 6 ngày trong một tháng thì không hưởng được những điều nầy và tang lễ chỉ làm bạt tiến mà thôi.

(Làm bạt tiến là làm lễ đề cử dâng lên các Đấng thiêng liêng xin cứu giúp vong hồn cho được siêu thăng). (Xem Chương chót: Tang lễ)

Hai bực tín đồ: 10 ngày chay và 6 ngày chay trong một tháng, chỉ khác nhau có 4 ngày chay, mà quyền lợi trong Đạo rất khác biệt nhau. Chúng ta rất nên lưu ý.

Ăn chay nửa năm: Đối với người ăn chay 10 ngày trong một tháng, nếu ăn chay thêm 3 tháng có rằm lớn trong 1 năm (tức là tháng giêng, tháng 7 và tháng 10) thì tổng cộng ăn chay được nửa năm trong một năm.

(Ăn chay luôn 3 tháng thì được 90 ngày, còn lại 9 tháng, ăn chay mỗi tháng 10 ngày thì được 90 ngày. Tổng cộng ăn chay được: 90 ngày + 90 ngày = 180 ngày, tức là nửa năm).

4. Ngũ vị tân còn gọi là Ngũ huân:

Ngũ vị tân là 5 thứ có vị cay nồng và mùi hôi. (Tân là cay). Ngũ vị tân gồm: hành, hẹ, tỏi, kiệu, nén.

Bên Phật giáo, khi ăn chay thì cữ Ngũ vị tân.

Tu theo Tiên giáo, khi ăn chay, không kiêng cữ các thứ nầy, hễ là thảo mộc thì được ăn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Quyển 1, đàn cơ ngày 16-1-1926, ông Quí Cao giáng cơ gọi Ngũ vị tân là Ngũ kỵ, tức là 5 thứ cấm kỵ không cho ăn đối với Phật giáo.

Ông Quí Cao viết rằng:

"Ngũ kỵ là: hành, tỏi, sả, ớt, tiêu.

Theo Phật giáo thì kỵ, Tiên giáo thì không.

Phật vì tích Mục Liên Thanh Đề gọi là uế vật, là phi.

Tiên đạo cho dùng các thảo mộc, chẳng kỵ vật chi."

Trong quyển sách Thiên Đạo của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu có viết về việc nầy như sau:

"Trong Trời Đất không có chi là tuyệt đối, thì sự ăn chay tất nhiên cũng không nên tuyệt đối.

Cái nguyên tắc của sự ăn chay là ăn toàn những chất thuộc thảo mộc, thì năm thứ: hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu, gọi là Ngũ huân, vẫn là thảo mộc.

Có cữ chăng là những bậc công cao quả dày, tham thiền nhập định, vì nó có tính cách kích thích và thương tổn tinh thần.

Người mới học đạo cần phải lao động trong trường công quả thì chưa buộc phải kiêng cữ, nhưng ai kiêng cữ được cũng nên.

Vậy, việc ăn chay cũng như việc tu hành, không nên thái quá mà cũng không nên bất cập."

5. Người ăn chay trường có phải cữ trầu thuốc không?

Để giải đáp vấn đề nầy, chúng ta phân bực tu Thượng thừa ra hai nhóm:

1. Các Chức sắc còn nhiệm vụ phổ độ nhơn sanh.

Nhóm nầy hoạt động gần gũi với nhơn sanh, đi đứng nhiều, giao tiếp nhiều, nên Tân Luật không bắt buộc phải cữ Ngũ vị tân và không cấm ăn trầu hút thuốc. Tuy nhiên, nên cữ Ngũ vị tân vì cái hại của nó là làm cho tánh của mình thêm nóng nảy, cũng như cần phải cữ ăn trầu và hút thuốc vì nó gây thêm phiền toái và làm hại sức khỏe. Đã là Chức sắc của Hội Thánh thì nên kiêng cữ các thứ kể trên để làm gương tốt cho nhơn sanh.

2. Nhóm tu thượng thừa luyện đạo trong Tịnh Thất.

Trong Tân Luật, phần Tịnh Thất, điều thứ 6 có ghi:

"Nhập Tịnh Thất rồi phải tuyệt trầu thuốc và không được ăn vật chi ngoài mấy bữa cơm."

Ngũ vị tân làm cho linh hồn yếu ớt; ăn trầu, hút thuốc thì hại kim đơn. Hành giả tu thiền định, luyện đạo cần phải kiêng cữ tuyệt đối các thứ kể trên.

II. Ích lợi của việc ăn chay:

1. Ăn chay thì giữ được Ngũ Giới Cấm dễ dàng:

Ngũ Giới Cấm là giới luật rất quan trọng đối với người tu ở bực thượng thừa. Không giữ tròn Ngũ Giới Cấm thì không thể đắc đạo được.

Người ăn chay trường thì giữ được Ngũ Giới Cấm dễ dàng, vì:

- Ăn chay trường thì tránh được sát sanh trong sự ăn uống. Đã không nỡ giết hại sanh vật để ăn thịt thì cũng đâu nỡ giết chúng để làm trò chơi. (Bất sát sanh)

- Hễ không ăn thịt thì cũng dễ cữ rượu, vì rượu thịt luôn luôn đi kèm nhau như bóng với hình. (Bất tửu nhục)

- Không ăn thịt uống rượu thì lòng dục lắng xuống, nên không nghĩ đến tà dâm, phá hại gia cang của người. (Bất tà dâm)

- Nhờ ăn chay trường mà lòng tham vật chất không có cơ hội nẩy nở. Đã tu rồi thì còn cầu chi tiền tài, của cải, vì khi chết, linh hồn đâu có đem theo được các thứ đó, chỉ đem theo công đức và tội lỗi mà thôi. Do đó việc trộm cướp hay gian lận tài vật rất ít khi xảy ra. (Bất du đạo)

- Nhờ ăn chay trường mà tâm hồn trở nên thanh cao, tránh được việc nói dối lường gạt người, gây đau khổ cho người mà đem lợi lộc về cho mình. (Bất vọng ngữ)

2. Ăn chay để thanh lọc bản thể, tinh khiết chơn thần:

Những thức ăn mặn là huyết nhục của các loài động vật nên chỉ bổ dưỡng cho thể xác con người, vì thể xác con người cũng là huyết nhục.

Các thức ăn chay là rau đậu, trái cây, ngũ cốc; các thứ nầy nhờ hấp thụ trực tiếp ánh sáng mặt trời, dưỡng khí, đạm khí của không khí, lại hấp thụ các chất khoáng trong lòng đất, nên các thức ăn chay có hai tác dụng bổ dưỡng:

- Bổ dưỡng xác thân nhờ những chất khoáng hấp thu trong đất và đạm khí trong không khí.

- Bổ dưỡng chơn thần nhờ hấp thu ánh sáng và dưỡng khí.

Như thế, chúng ta phải nhận rằng, với chế độ ăn chay đầy đủ gồm nhiều rau đậu và trái cây, ăn chay rất tốt so với ăn mặn, vì nó bổ dưỡng cả thể xác và chơn thần.

Người ăn chay trường lâu năm tạo được vừng hào quang trong sáng nơi đỉnh đầu, chơn thần cũng được trong sáng, tinh tấn, nên nhẹ nhàng hơn không khí. Đến kỳ thoát xác, chơn thần xuất ra khỏi thể xác một cách dễ dàng và bay khỏi bầu không khí đến các cõi thiêng liêng.

Người ăn mặn thì chơn thần mờ tối, trọng trược, vì ăn huyết nhục của thú cầm, nên nặng nề, không thể bay thoát khỏi bầu khí quyển được.

Thánh ngôn của Đức Chí Tôn dạy rõ rằng:

"Nó (chơn thần) vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch, mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài càn khôn đặng.

Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng.

Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết.

Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng. Như rủi bị huờn thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển, thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt.

Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhơn Tiên thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.

Vì vậy mà Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo." (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 20)

Bát Nương giáng cơ giải về cõi Âm Quang, cho biết: Muốn qua khỏi cửa Âm Quang thì phải ăn chay trường.

"Ấy là một cái quan ải, các chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy." (TNHT1-2 hợp nhứt, B 159)

3. Ăn chay là luyện tập Bi, Trí, Dũng:

- Loài vật nào cũng biết ham sống sợ chết như người, biết chỗ nguy hiểm thì tránh né hay trốn chạy để bảo tồn sự sống. Khi sắp bị giết chết, chúng biết sợ sệt và rên la đau đớn. Không giết hại chúng nó để ăn thịt là thể hiện lòng thương yêu, đức tánh từ bi. Do vậy, việc ăn chay là để tập cho tánh BI càng ngày càng phát triển.

- Khi ăn chay, chúng ta mới sáng suốt nhận định rằng, loài thú vật cũng được Thượng Đế ban cho nó sự sống như con người, nó chỉ là đàn em kém tiến hóa hơn con người mà thôi. Sau nhiều lần chuyển kiếp, chúng nó cũng sẽ tiến hóa lên thành người như chúng ta. Do đó, không giết hại chúng là để phát triển đức tánh sáng suốt trong con người chúng ta, tức là phát triển thể TRÍ.

- Trước sự hấp dẫn của các món rượu thịt thơm ngon, cũng như sự mời mọc nài ép của bạn bè, ta can đảm từ khước, tức là ta có hùng tâm dũng chí, không để dục vọng thấp kém lôi kéo. Như vậy, ta có được cái DŨNG.

Vậy, sự ăn chay là để phát triển ba đức tánh: BI, TRÍ, DŨNG trong con người chúng ta, để cuối cùng, ba đức tánh ấy phát triển rực rỡ cao tột thì đắc thành Tiên Phật.

4. Ăn chay là để tránh quả báo luân hồi:

Việc giết hại mạng sống của con vật tạo thành một ác nghiệp. Sau nầy, hồn của con vật ấy sẽ đòi chúng ta phải trả món nợ sát mạng đó, và theo luật công bình thiêng liêng, chúng ta phải luân hồi tái kiếp để đền trả mối nợ oan nghiệt ấy.

Còn việc ăn chay, tuy cũng có giết hại mạng sống loài thảo mộc, nhưng tội nầy nhẹ hơn nhiều so với việc giết hại thú vật, vì loài thảo mộc kém tiến hóa rất nhiều so với thú cầm.

Hơn nữa, việc sát hại thảo mộc để nuôi sống xác thân của chúng ta, được chúng ta đền trả lại bằng xác thân của chúng ta khi chết. Khi chết, xác thân của chúng ta được vùi chôn trong lòng đất, rồi dần dần sẽ tan rã thành những chất bổ dưỡng nuôi sống thảo mộc. Khi sống thì ta ăn thảo mộc, khi chết thì thảo mộc ăn lại xác thân ta. Thế là hòa, không ai nợ ai. Như vậy, việc ăn chay giúp chúng ta không mắc nợ oan nghiệt, mà không mắc nợ oan nghiệt thì thoát khỏi luân hồi.

5. Ăn chay để kềm chế Lục dục Thất tình:

Ăn chay, ăn những thức ăn thanh đạm, không chứa máu thịt của loài động vật, nên làm dịu bớt bầu máu nóng trong người, dục vọng nhờ đó cũng giảm bớt cường điệu.

Lục dục Thất tình lúc nào cũng đòi hỏi xác thân làm cho nó thỏa mãn, nhưng nhờ ăn chay, chúng ta kềm chế được nó, rèn luyện nó hướng tới mục đích thanh cao.

Thay vì chúng ta muốn giết một con gà để làm thành món ăn khoái khẩu, chúng ta nên lấy thức ăn thích hợp của gà rải cho nó ăn, để chúng ta nhìn nó đang sung sướng vui vẻ vì khoái khẩu. Chúng ta nhìn cái vui và cái sung sướng của con gà để chúng ta có được cái vui mừng cao thượng của kẻ ban ơn.

III. Giải đáp một số câu hỏi về ăn chay.

1. Ăn tôm, cua, sò, ốc được kể là ăn chay không?

Ăn tôm cua sò ốc, tức là ăn thịt các loài động vật. Chúng nó cũng có sanh mạng và sự sống. Phải bắt giết chúng nó thì mới ăn thịt được, rõ ràng ta phạm tội sát sanh, nên ăn tôm cua sò ốc dứt khoát không phải là ăn chay, mà đó là ăn mặn. Có người còn ngụy biện nói rằng vì chúng nó có máu trắng. Dù máu trắng nhưng chúng nó là loài động vật có tri giác, biết tìm thức ăn, biết chống cự hay trốn chạy ẩn núp khi mạng sống của chúng bị đe dọa.

2. Ăn chay có được dùng bơ, sữa, mật ong, trứng gà không?

Về bơ (beurre) và phô-ma (fromage), ta phân biệt hai loại: Bơ thực vật (beurre végétale) và Bơ động vật (beurre animale).

- Bơ thực vật làm bằng các chất béo của thực vật như đậu phộng, dừa, trái bơ; sữa thực vật như sữa đậu nành, sữa đậu phọng.... Bơ và sữa thực vật là thức ăn chay hoàn toàn, người ăn chay trường dùng rất tốt.

- Bơ động vật và phô-ma là hai loại được chế tạo từ sữa bò, sữa trâu. Dùng các thứ nầy không mang tội sát sanh, nên người ăn chay trường có thể dùng các thứ đó làm thức ăn chay. Tuy nhiên về phương diện thanh và trược thì bơ, phô-ma và sữa động vật có tính chất trược hơn các thức ăn thảo mộc.

Do đó, bên Phật giáo vẫn cho phép dùng bơ và sữa động vật làm món ăn chay.

Nó có nguyên nhân xa xưa là lúc Thái tử Sĩ-Đạt-Ta từ bỏ lối tu khổ hạnh, chuyển qua lối tu trung đạo, Ngài kiệt sức, bất tỉnh, nằm chết giấc dựa cội cây bồ đề. Có một thiện nữ được báo mộng trước, hôm ấy chuẩn bị bình bát sữa tìm đến cội bồ đề, cúng dường cho Phật. Khi Phật tỉnh lại, Phật cầm bình bát sữa uống cạn, nhờ vậy, Phật dần dần phục hồi sức khỏe.

- Về mật ong:

Mật ong do các con ong hút mật hoa hay hút chất đường rồi dùng nước miếng của nó tạo thành. Mật ong là thực phẩm hoàn toàn chay, rất bổ dưỡng, dùng cho người ăn chay trường rất tốt.

- Về trứng gà, trứng vịt, trứng cút:

Nếu các loại trứng có trống, tức là có chứa sẵn một mầm sống trong đó, để theo thời gian sẽ phát triển thành một sinh vật mới, khi dùng chúng làm thức ăn, tức là chúng ta sát hại mầm sống ấy, ắt phạm tội sát sanh.

Nếu trứng không trống, khi ta dùng thì không phạm tội sát sanh. Tuy vậy, trứng vẫn là chất trược, không làm cho chơn thần chúng ta trong sáng và thanh nhẹ, nên cần phải cẩn thận, không nên lạm dụng, tốt nhứt là không nên dùng.

Đối với những vị đang lập công trong trường thi công quả, việc ăn chay trường không nên quá bảo thủ khắt khe, nhứt là những khi đau ốm, cần phải phục hồi sức khỏe mau chóng để lo làm công quả, thì việc dùng thêm các loại bơ, sữa động vật, hay các loại trứng không trống, là một điều có thể thông cảm được vì không phạm giới sát sanh, nhưng chúng ta vẫn nhớ rằng các thức ăn ấy có chất trược, không tốt cho chơn thần.

Một điều mà chúng ta cần lưu ý là việc ăn chay là hành động tự giác tự nguyện vì lợi ích cho bản thân của chúng ta, chớ không phải lợi ích cho Đức Chí Tôn hay Phật Mẫu.

3) Ăn chay trường có thành Tiên, Phật không?

Nếu chỉ có ăn chay trường mà không làm công quả thì không thể thành Tiên, Phật đặng. Người ăn chay trường ấy, khi chết, chơn thần và linh hồn được trong sạch nhẹ nhàng, được siêu thăng lên các cõi Trời, hưởng sự an nhàn, nhưng không có ngôi vị là Tiên, hay Phật.

Muốn thành Tiên, Phật thì buộc phải có công quả.

"Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo." (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 17)

Muốn có công đức thì phải làm công quả.

Việc ăn chay trường chỉ tạo được chơn thần trong sáng, làm công quả mới đắc thành Tiên, Phật.

Nhưng ngược lại, nếu có đầy đủ công quả mà không ăn chay trường thì cũng không thể thành Tiên, Phật được, vì chơn thần trọng trược không thể bay khỏi bầu khí quyển mà lên cõi thiêng liêng. Hơn nữa, vì ăn mặn nên còn bị linh hồn các con vật đòi các món nợ oan nghiệt, nên chúng nó buộc chặt chơn thần người đó không cho bay lên cõi TLHS.

Cho nên, muốn đắc thành Tiên Phật thì phải có đủ hai điều kiện: 1.- Đầy đủ công quả. 2.- Ăn chay trường.

4) Ăn chay thì thanh, ăn mặn thì trược, tại sao?

Có nhiều nguyên do, kể ra sau đây:

a.- Về cấp tiến hóa:

Thảo mộc ở cấp tiến hóa thấp hơn động vật, chỉ có Sanh hồn; còn động vật thì ở cấp tiến hóa cao hơn, có được hai phần hồn là: Sanh hồn và Giác hồn. Do đó, loài động vật khi đau đớn biết rên la, khi sợ hãi biết chạy trốn.

b.- Về sự sinh sản và di truyền nòi giống:

Loài thảo mộc có nhị đực và nhị cái ở trong cùng một cái hoa hay trên cùng một thân cây, nhờ ong bướm hay gió thổi mà nhị đực rơi vào nhị cái, kết thành trái và hột để di truyền nòi giống.

Loài động vật thì con đực và con cái là hai thân thể khác nhau, chúng có lòng dục nên tìm gặp nhau giao phối, để sanh sản. Khi sanh sản thì máu huyết tiết ra dơ dáy.

Do đó, loài động vật thuộc Hậu Thiên Cơ ngẫu nên trọng trược, còn loài thảo mộc thuộc Tiên Thiên Cơ ngẫu nên thanh nhẹ.

c.- Về sự sinh sống:

Loài thảo mộc sống nhờ hấp thu ánh sáng mặt trời và hấp thu các tinh chất của không khí và của đất, nên thảo mộc chứa nhiều sinh tố và khoáng chất.

Loài động vật sống nhờ ăn thảo mộc hay ăn thịt lẫn nhau, nên thịt của nó chứa ít sinh tố và có chất độc.

Do đó, chúng ta ăn loài thảo mộc thì vừa bổ dưỡng chơn thần vừa bổ dưỡng thể xác, còn ăn thịt thú cầm thì chỉ bổ dưỡng thể xác mà lại làm cho chơn thần ô trược.

d.- Về tính dẫn điện:

Khi thoát xác, chơn thần của người ăn chay trường thì trong sáng, nhẹ nhàng, bay lên thoát qua lớp không khí dễ dàng; còn chơn thần người ăn mặn thì trọng trược mờ tối, nên không thể bay lên cao được, lại nữa, vì chơn thần trọng trược nên có tính dẫn điện tốt, dễ bị sét đánh tiêu tan khi bay lên cao.

5) Thảo mộc có mạng sống, nên ăn chay cũng sát sanh, thì hơn ăn mặn chỗ nào?

Thảo mộc là một loài trong chúng sanh, nó cũng có mạng sống, nhưng mạng sống của nó nhỏ bé hơn mạng sống của thú cầm, vì nó chỉ có một phần hồn là Sanh hồn, và ở cấp tiến hóa thấp hơn thú cầm. Do đó, việc sát hại thảo mộc ít tội tình oan nghiệt hơn sát hại thú cầm.

Vả lại, muôn loài vạn vật phải ăn mà sống. Để giải quyết cái ăn nầy, Thượng Đế dùng Vạn linh phụng sự Vạn linh, tức là dùng loài sanh vật nầy làm thực phẩm nuôi sống loài sanh vật kia, và loài sanh vật nào bị hy sinh nhiều nhất thì lại sanh hóa nhiều nhất để quân bình cuộc sống trong CKVT.

Thảo mộc và ngũ cốc là hai thứ sanh vật mà Thượng Đế dành để nuôi sống con người, nên cấu tạo cơ thể của con người không có móng vuốt và không có răng bén nhọn chơm chởm. Nếu con người ăn thịt thú cầm là do dục vọng muốn tìm khẩu vị khác lạ mà thôi.

Vậy con người ăn thảo mộc là thuận Thiên ý, nhờ đó con người mới tiến hóa nhanh. Còn ăn thịt động vật là do dục vọng của con người bày đặt thêm ra, trái với Thiên ý, nên nó trì kéo con người chậm bước tiến hóa.

Việc sát hại sanh mạng của con thú để làm thức ăn nuôi sống thân ta tạo thành một oan nghiệt. Hồn con thú ấy chờ khi ta chết, sẽ đến đòi mạng và kéo níu chơn thần chúng ta không cho siêu thăng về cõi thiêng liêng.

Còn việc sát hại loài thảo mộc để làm thức ăn nuôi sống thân ta, thì ta sẽ lấy xác thân ta khi chết để làm thức ăn cho thảo mộc, sự vay trả như thế là đồng đều, nên không tạo ra oan nghiệt.

6) Ăn chay có được phép ăn bù vào ngày khác không?

Hôm nay là ngày mùng 8 nhằm ngày ăn chay, nhưng vì tiệc tùng với người đời hay vì bạn bè nài ép, nên ăn mặn, rồi qua ngày hôm sau, ăn chay bù trở lại. Việc đó thế nào?

Chúng ta thấy rõ người ấy có tinh thần muốn ăn chay cho đúng các ngày theo luật định, nhưng vì một lý do vui vẻ nên không ăn được.

Như vậy là mình quá dễ dãi với sự đòi hỏi của xác thân, xem những lời nài ép của bè bạn quan trọng hơn lời Minh thệ giữ gìn Luật Đạo của mình. Đó là một sai lầm.

Việc ăn chay bù là để vớt vát lại nhưng nó chứng tỏ lương tâm mình không thắng nổi sự lôi cuốn của dục vọng thể xác. Thể xác thì thúc đẩy mình ăn uống rượu thịt vui say, mình chiều theo nó là mình yếu kém hơn nó, đầu hàng nó. Từ sự thua nhỏ dần dần dẫn tới thua lớn, và vật dục sẽ làm trì trệ bước đường tiến hóa của mình, khiến chúng ta phải bị kẹt lại trong thời kỳ Chuyển thế, không kịp bước vào Nguơn Thánh đức.

9) Nhiều người ăn chay mà lời nói còn hung dữ quá! Hành động còn thâm độc quá! Tôi không cần ăn chay, miễn tôi làm lành làm phước là đủ rồi.

- Quả đúng như vậy. Nhưng đâu phải vì họ ăn chay mà họ trở nên hung dữ và thâm độc. Chúng ta nên nghĩ rằng: Nếu họ không ăn chay thì họ còn hung dữ và thâm độc hơn gấp bội. Nhờ ăn chay mà họ đã bớt tánh hung dữ nhiều lắm rồi đó.

Họ là người mới tập tễnh bước vào đường tu, hoặc là kẻ giả tu không chừng. Nhưng ta so sánh với họ làm gì! So sánh với người kém hơn ta thì có ích lợi gì cho sự tiến hóa của ta, của linh hồn ta? Hay chỉ để thỏa mãn tánh ích kỷ, cống cao ngã mạn của ta? Chúng ta muốn dừng lại ở mức tiến hóa nầy, hay muốn tiến hóa cao hơn nữa?

Tại sao chúng ta không nhìn lên các bậc chơn tu có đầy đủ đức hạnh? Chúng ta cần phải học hỏi và bắt chước các vị ấy thì chúng ta mới tiến hóa nhanh được.

10) Ăn chay thì lòng phải chay là sao?

Chay, chữ Hán là trai nghĩa là trong sạch. Lòng chay là lòng trong sạch. Đó là lòng biết quí trọng đạo đức, bác ái và công bình. Nếu ăn chay mà lòng không chay, tức là không biết ý nghĩa của việc ăn chay, hay biết mà không tin tưởng, thì không khác chi người không tiền mua cá thịt, đành phải ăn tương rau dưa muối vậy thôi, đâu có ích lợi gì cho đường đạo đức!

IV. Giải thích vài từ ngữ đã dùng.

1. Sự tích Ngũ vị tân theo Phật giáo:

Bà Thanh Đề là mẹ của ông Mục Kiều Liên, khi đến chùa lễ Phật, không mang theo cúng phẩm nên các vị tăng tiếp khách đón tiếp lạnh nhạt. Trong lúc đó, những vị mang nhiều phẩm vật đến cúng chùa thì được các tăng đón tiếp niềm nở, trà nước đầy đủ. Bà Thanh Đề đem lòng oán giận, nên sau đó, bà làm một mâm bánh bao nhưn thịt mang đến cúng dường thì các tăng thấy vậy ra tiếp đón rất niềm nở, trà nước đầy đủ.

Khi các tăng báo cáo lên Hòa Thượng trụ trì, Hòa Thượng biết rõ sự việc nên cấm nhặt chư tăng không được dùng các bánh bao nầy và phải đem đổ bỏ sau chùa.

Thời gian sau, nơi chỗ đổ các bánh bao nhưn thịt, mọc lên 5 thứ cây có vị cay nồng và hôi hám. Đó là 5 thứ cây: hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu. Hòa Thượng trụ trì cho đó là uế vật, cấm chư tăng không được dùng làm thức ăn vì chúng kích thích lòng dục và tánh nóng nảy của con người.

2. Tam hồn:

Theo luật tiến hóa của chúng sanh thì:

- Vật chất gồm đất, đá, nước, không khí được Thượng Đế tạo ra trước tiên, sau đó, vật chất tiến hóa lên thành loài thảo mộc, được Thượng Đế ban cho một phần hồn gọi là Sanh hồn, làm cho thảo mộc có sự sống.

- Kế đó, thảo mộc tiến hóa lên thành loài thú cầm thì Thượng Đế ban thêm cho nó một phần hồn nữa gọi là Giác hồn để tạo cho nó sự hiểu biết và bảo vệ sự sống.

Vậy loài thú cầm đã có được hai phần hồn là: Sanh hồn và Giác hồn.

- Sau cùng, loài thú cầm tiến hóa lên thành người nguyên thủy và được Thượng Đế ban thêm cho một phần hồn nữa gọi là Linh hồn để con người có sự sống, có sự hiểu biết, có sự suy nghĩ và có tánh linh.

Như vậy con người có được Tam hồn gồm: Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn. Linh hồn là quan trọng nhứt vì nhờ nó mà con người linh hơn vạn vật.

3. Tam thể xác thân.

Về phương diện tu hành, trong thân thể của con người có ba thể gọi là Tam thể xác thân.

- Thứ nhứt là thể xác, do cha mẹ phàm trần sanh ra và được nuôi dưỡng bằng thực phẩm phàm trần.

- Thứ nhì là chơn thần, tức là xác thân thiêng liêng, do Đức Phật Mẫu lấy nguyên khí nơi Diêu Trì Cung tạo thành. Chơn thần nầy làm khuôn mẫu cho thể xác và khi xuất ra khỏi thể xác thì lấy hình ảnh của thể xác. Trung tâm của chơn thần là não bộ và cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, đạo gia gọi là Nê hoàn cung.

- Thứ ba là chơn linh hay linh hồn, do Đức Chí Tôn lấy một điểm linh quang của Thái Cực ban cho.

Chơn linh điều khiển chơn thần, chơn thần điều khiển thể xác. Chơn linh không trực tiếp điều khiển thể xác.

 


 

Chương 4:
 

THỜ PHƯỢNG

 

I. Thiết lập Thiên bàn tại tư gia.

Khi đã nhập môn vào Đạo, người tín đồ cần phải lo thiết lập Thiên bàn tại tư gia của mình để thờ phượng Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.

Trước hết phải chọn một chỗ trang trọng và tinh khiết nhứt trong căn nhà của mình để thiết lập Thiên bàn, nhưng cũng nên lưu ý là nơi thiết lập Thiên bàn phải thuận tiện cho việc cúng kiếng của mình. Nếu lập ở nơi cao quá, mỗi lần rót nước đốt nhang cúng phải bắc thang leo lên; hay là ở phố lầu, thiết lập Thiên bàn ở từng lầu cao nhứt, nơi đó rất tinh khiết nhưng mỗi lần cúng phải đi lên mấy từng lầu, thì việc cúng kiếng của mình có phần khó khăn, không được thường xuyên vì bản chất của con người mình với xác phàm vốn thường lười biếng.

Kế đó, chọn mua một cái khánh thờ, bên dưới có đóng bực tam cấp thì rất tốt. Kiểu khánh thờ nầy được nhiều người đạo ưa chuộng nên có đóng sẵn để bán nơi các cửa hàng đồ gỗ ở trong vùng có nhiều tín đồ Cao Đài.

 

 
 
 
 
 
 


1


 

 
 
CẤP I
4   2   3
  6  8  7  9 5  

(#1)

     
CẤP II
10   12   11
 
     
CẤP III
  Chuông
 
   
  1. Thánh tượng Thiên nhãn.
4. Dĩa trái cây. 2. Đèn Thái Cực. 3. Bình bông.
6. Tách nước trà. 8. 7. 9. ba ly rượu. 5. Tách nước trắng.
10.11.: Cặp đèn Lưỡng Nghi.
12. Lư hương.

Đó là 12 món bắt buộc phải sắp đủ trên Thiên bàn.

Phía dưới Thiên bàn đặt: 1 cái mõ và 1 cái chuông.

Liên lạc với ông Chánh Trị Sự của Hương đạo mình để nhờ ông thỉnh một tấm Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi để thờ. Tấm Thánh tượng nầy do Hội Thánh in ra và được Hội Thánh trấn Thần trước khi phát ra cho bổn đạo thỉnh về thờ tại tư gia.

Cách sắp đặt các món trên Thiên bàn như hình vẽ kế bên.

Không kể chuông và mõ, trên Thiên bàn có tất cả 12 món, sắp đặt theo hình chữ CHỦ (chữ Nho) 主 . Chủ là làm chủ, còn đọc là Chúa: Chủ tể càn khôn vũ trụ, làm Chúa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

  1
4-------2-------3
6-8-7-9-5
10------12------11
(#1)

 

   

Trong Đạo Cao Đài thường dùng số 12 để chỉ những gì thuộc Đức Chí Tôn, vì số 12 là số riêng của Thầy.

Về sự thờ phượng, Đức Chí Tôn dạy như sau:

"Phần nhiều trong các con chẳng để lòng thờ kính Thầy, tưởng cho đem thờ Thầy vào nhà là chủ ý cầu một việc lợi riêng chi cho gia quyến vậy thôi, chớ chẳng hiểu là một nguồn trong sạch để rửa các lỗi phàm tục của các con.

Nhiều đứa lại còn mờ hồ, đã thờ Thầy mà chưa chắc ý rằng thờ đặng chi và mở Đạo có ích gì?

Than ôi! Đã bước chân vào đường đạo hạnh mà chẳng để công tìm kiếm học hỏi cho rõ ngọn nguồn thì làm phận sự môn đệ như thế có ích chi cho nền Thánh giáo đâu?" (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 70)

II. Ý nghĩa cách sắp đặt trên Thiên bàn:

1. Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi:

(Xem mục III: Ý nghĩa Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi).

2. Đèn Thái Cực:

Đèn Thái Cực tượng trưng ngôi Thái Cực của Đức Chí Tôn. Ngôi Thái Cực là một khối Đại linh quang, là khởi điểm của càn khôn vũ trụ, mà mỗi linh hồn của chúng ta là một điểm Tiểu linh quang chiết ra từ khối Đại linh quang ấy.

Đèn Thái cực phải luôn luôn được đốt sáng, dầu có cúng hay không cúng, vì đèn Thái Cực còn tượng trưng cho cái tâm của ta, đó là ngọn tâm đăng nên phải đốt sáng luôn luôn cho cái tâm của ta thường sáng.

Bổn đạo trong nước Việt Nam chúng ta từ lâu nay đã dùng đèn dầu làm đèn Thái cực, nhưng đối với các bạn đạo đang ở các nước tiên tiến như Mỹ, Úc, Âu châu, nơi đây chánh quyền cấm sử dụng đèn dầu vì phòng ngừa hỏa hoạn, nên bổn đạo nơi đó phải dùng đèn điện làm đèn Thái cực. Đèn dầu hay đèn điện đều có trong đó đủ cả âm dương, nhưng điều quan trọng là tạo ra một đốm lửa thường sáng để tượng trưng Thái cực, chúng ta phải chăm sóc thường xuyên, khi tắt thì sửa chữa và đốt lại ngay.

"Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong càn khôn thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra càn khôn thế giới." (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 140)

3. Cặp đèn Lưỡng nghi:

Cặp đèn Lưỡng nghi tượng trưng hai nghi Âm và Dương do Thái Cực biến hóa tạo ra. Hai nghi đó là Dương quang và Âm quang.

Khi cúng Đức Chí Tôn thì đốt lên cặp đèn Lưỡng nghi, cúng xong thì tắt, còn đèn Thái Cực thì phải đốt sáng luôn luôn.

Chúng ta từ lâu nay đã dùng đèn dầu hay đèn sáp làm cặp đèn Lưỡng nghi, nhưng đối với các bạn đạo đang ở các nước tiên tiến như Mỹ, Âu châu, Úc châu, họ bị cấm không được dùng đèn dầu, nên phải dùng hai bóng đèn điện làm cặp đèn Lưỡng nghi.

Cặp đèn Lưỡng nghi, dùng đèn dầu hay đèn điện đều được, miễn là hai đèn đó phải cùng cở và có độ sáng như nhau.

[Nếu dùng đèn điện làm cặp đèn Lưỡng nghi, chúng ta dùng 2 bóng đèn tròn lớn 220V-60W, ghép nối tiếp, dây nối luồn vào bên trong chân đèn, rồi nối với nguồn điện 220V qua một công tắc điện. Đèn sẽ cháy hơi lu nhưng rất bền, không đứt, vì mỗi bóng chỉ chịu điện thế 110V.

Còn bóng đèn dùng làm đèn Thái cực thì mua bóng nhỏ 220V-3W kiểu trái ớt, ghép nối tiếp với một diode nhỏ 220V, nó cháy lu nhưng rất bền, không đứt dù nguồn điện lên xuống bất thường. Không được dùng bóng đèn chớp chớp]

4. Ba ly rượu:

Khi cúng, dùng rượu trắng tinh khiết rót vào 3 ly, mỗi ly rót 3 phân rượu.

Rượu tượng trưng KHÍ, mà Khí là chơn thần.

Đức Chí Tôn dùng rượu tượng trưng chơn thần của chúng ta là muốn chơn thần của chúng ta cường liệt như rượu mạnh vậy.

Tại sao chỉ rót 3 phân rượu vào mỗi ly?

Khi cúng đàn tại Thánh Thất, ly rượu do lễ sĩ dâng lên phải rót đủ 9 phân rượu là tại sao?

Ba ly rượu đặt hàng ngang trên Thiên bàn có ý nghĩa giống như 3 cây nhang cắm hàng ngang trong lư hương (Án Tam tài), là để tượng trưng Tam tài: Thiên, Địa, Nhơn (Trời, Đất, Người).

Ly rượu giữa tượng trưng Trời, 3 phân rượu tượng trưng Tam bửu (3 báu) của Trời là: Nhựt, Nguyệt, Tinh.

Ly rượu bên tách trà tượng trưng Đất, 3 phân rượu nầy tượng trưng Tam bửu của Đất là: Thủy, Hỏa, Phong.

Ly rượu bên tách nước trắng tượng trưng Người, 3 phân rượu tượng trưng Tam bửu của Người là: Tinh, Khí, Thần.

Khi lễ sĩ dâng ly rượu và nhạo rượu lên trong lễ cúng Tiểu đàn hay Đại đàn tại Thánh Thất, ly rượu nầy có 9 phân rượu, vì số 9 (do ba số 3 cộng lại) là số căn bản của Thiên Địa Nhơn:

- Trời có trên hết là Tam thập lục Thiên (36 từng trời), phía dưới có Cửu Trùng Thiên (9 từng trời). Số 36 là bội số của số 9 căn bản (36 = 9 x 4). - Đất có Thất thập nhị Địa (72 địa cầu). Số 72 là bội số của 9 (72 = 9 x 8). - Người thì có Cửu khiếu (9 lỗ), khi tu hành thì tiến hóa lên Cửu phẩm Thần Tiên (9 bực: 3 bực Thần, 3 bực Thánh, 3 bực Tiên) cũng lấy số 9 làm căn bản.

Vả lại, theo Số học, ba số: 36, 72, 9 có ước số chung nhỏ nhất là 3, có ước số chung lớn nhứt là 9, cho nên, trước khi cúng thì rót 3 phân rượu, đến khi dâng Tam bửu thì rót đủ 9 phân rượu, có ý nghĩa như vừa trình bày. (Bội số là số lớn hơn nhiều lần, Ước số là số nhỏ hơn nhiều lần).

5. Tách nước trắng và nước trà:

- Tách nước trắng, đặt bên tả của Thiên bàn, tượng trưng Dương. Chúng ta dùng nước thiên nhiên như: nước mưa, nước giếng, nước sông, nước phông tên. Các thứ nước nầy chỉ cần lọc cho tinh khiết, trong suốt, không nấu sôi.

- Tách nước trà, đặt bên hữu Thiên bàn, tượng trưng Âm. Nên dùng loại trà tốt, thơm tho.

Khi rót nước trắng hay trà, phải rót cho đủ 8 phân.

Hai tách nước trắng và nước trà, tượng trưng Âm Dương, nên thường gọi chung là hai tách nước Âm Dương.

Nước trà còn có một ý nghĩa khác: nước trà tượng trưng THẦN, một trong Tam bửu của con người. Thần là chơn linh, linh hồn. Đức Chí Tôn dùng trà tượng trưng chơn linh là muốn chơn linh của ta điều hòa như trà vậy.

Tại sao rót 8 phân nước Âm Dương?

Tách có 8 phân nước trắng tượng trưng 8 lượng của Nghi Dương, tách có 8 phân nước trà tượng trưng 8 lượng của Nghi Âm. Hai tách nước âm dương hiệp lại tượng trưng 16 lượng, tức là 1 cân, số 1 tượng trưng Thái cực. (1 cân = 16 lượng)

Vậy, đèn Thái cực và hai tách nước âm dương tượng trưng Thái cực phân Lưỡng nghi, theo quan niệm về vũ trụ của người đông phương, cũng là quan niệm của Đạo Cao Đài.

Mặt khác, nước trà tượng trưng Thần tức là linh hồn của chúng ta. 8 phân nước trà tượng trưng Bát phẩm chơn hồn đầu kiếp xuống cõi trần làm chúng sanh. Còn 8 phân nước trắng tinh khiết tượng trưng Bát công đức thủy trong Ao Thất bửu nơi CLTG cõi thiêng liêng. (8 công đức của nước trong Ao Thất bửu là: lắng sạch, trong mát, ngọt ngon, nhẹ dịu, nhuần trơn, an hòa, uống vào thì hết đói khát lo âu, bổ khỏe các căn của xác thân).

Hai tách nước trà và nước trắng nầy sau khi cúng xong có thể được Chức sắc đổ chung lại với nhau để hành pháp luyện thành Cam lồ thủy, dùng trong các bí tích: phép xác để tẩy trược chơn thần cho được trong sạch nhẹ nhàng, và phép giải bịnh để tẩy các trược khí trong cơ thể người bịnh.

Tóm lại, tất cả những món đặt trên Thiên bàn đều có tính cách tượng trưng, để nói lên quan niệm về giáo lý và triết lý của Đạo Cao Đài.

* Cái quan trọng của hai tách nước âm dương là ở chỗ nước trà và nước trắng, chớ không phải ở cái tách hay cái chung đựng nó; tách có quai hay không quai, bằng sành sứ, nhựa hay thủy tinh đều dùng được cả.

* Tương tự như thế, cái quan trọng của ba ly rượu là ở chất rượu tinh khiết, chớ không phải nơi cái ly hay cái chung đựng rượu. Cái ly ấy có thể thấp hay có chưn cao, làm bằng ngọc quỳnh, sành, sứ, thủy tinh hay bằng nhựa, kể cả bằng kim loại, đều dùng được cả.

* Cũng tương tự như thế, cái quan trọng của đèn Thái cực là tạo ra một đốm lửa thường sáng để tượng trưng Thái cực, chớ không phải ở chỗ cái đèn làm bằng chất gì, đốt bằng dầu hay bằng điện. Cho nên các bạn đạo ở các nước Âu Mỹ dùng đèn điện làm đèn Thái cực, thiết nghĩ không có gì là sai trái.

6. Bình hoa:

Nếu chúng ta tìm đủ 5 sắc hoa tươi cắm vào bình thì rất tốt, vì bài thài Dâng hoa có câu: Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ. Nếu không đủ 5 sắc hoa tươi thì dùng mấy sắc hoa cũng đều tạm được. Năm sắc hoa dùng để tượng trưng Ngũ hành và Ngũ tạng của ta:

Màu hoa: Trắng Vàng Xanh Đỏ Đen

Ngũ hành: KIM THỔ MỘC HỎA THỦY

Ngũ tạng: Phế Tỳ Can Tâm Thận

Các hoa màu trắng, vàng, xanh, đỏ dễ tìm, nhưng không có hoa màu đen, nên dùng hoa màu sậm thế vào như hoa màu tím sậm hay đỏ sậm.

Năm sắc hoa tượng trưng Ngũ tạng, tức là tượng trưng cho thân thể của ta, mà thân thể của ta là TINH (một trong Tam bửu: Tinh, Khí, Thần).

Dùng Hoa tượng trưng thân thể ta vì Đức Chí Tôn muốn thấy xác thân của chúng ta tốt đẹp như cái hoa.

7. Dĩa trái cây:

Nếu có đủ 5 thứ trái cây (Ngũ quả) thì rất tốt. Ngũ quả là kết quả của các sắc hoa nên tượng trưng kết quả của việc tu hành của chúng ta.

[Chúng ta cần lưu ý là: Không được dùng trái cây giả hay bông hoa giả làm bằng nhựa để chưng cúng trên Thiên bàn, mà phải dùng bông hoa thật và trái cây thật].

Vậy, ba món trên Thiên bàn: Hoa, Rượu, Trà có ý nghĩa tượng trưng Tam bửu của con người:

- Hoa tượng trưng Tinh, tức là thể xác của ta.

- Rượu tượng trưng Khí, tức là chơn thần của ta.

- Trà tượng trưng Thần, tức là linh hồn của ta.

8. Lư hương:

Lư hương là đồ dùng bằng sành hay bằng thau, trong đó đựng tro, để cắm nhang.

Khi cúng Đức Chí Tôn thì ta đốt 5 cây nhang cắm vào lư hương nầy. (không bao giờ đốt 3 cây hương)

III. Ý nghĩa Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi:

1. Thiên Nhãn:

Trên Thánh tượng có vẽ một con mắt trái ở trên cao hơn hết để thờ, gọi là Thiên Nhãn, nghĩa là con mắt của Trời. Con mắt nầy hiện ra trong mây, phát ra các tia hào quang chung quanh.

Thờ Thiên Nhãn có nhiều ý nghĩa sau đây:

- Chĩ vẽ 1 con mắt (chớ không vẽ một cặp mắt) vì chỉ có 1 Thượng Đế, chỉ có 1 Thái Cực. Khí Hư Vô sanh ra có 1 Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.

- Vẽ con mắt trái, vì bên trái thuộc Dương, Đức Chí Tôn là chủ Dương quang nên mắt trái tượng trưng Đức Chí Tôn.

- Phải vẽ con mắt mở để chỉ rằng Đức Chí Tôn thấy rõ tất cả, biết rõ tất cả, không có gì giấu giếm được Trời. Câu nói: Hoàng Thiên hữu nhãn hay Trời cao có mắt, đều ở trong ý nghĩa ấy. Trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: Càn kiện cao minh, Vạn loại thiện ác tất kiến. Nghĩa là: Càn là Trời, ngôi Càn mạnh mẽ cao tột, sáng tỏ, ắt hẳn thấy rõ điều thiện điều ác của muôn loài.

(Hình Thánh tượng Thiên Nhãn và Ngũ Chi)

- Thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa đại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ con mắt để thờ, nên hình con mắt không có tính cách phân biệt quốc gia, chủng tộc, nên có tính chất chung, tức là đại đồng.

Như Phật giáo vẽ hình Đức Phật Thích Ca để thờ với hình dáng người Ấn Độ; Thiên Chúa giáo vẽ hình Đức Chúa Jésus với hình dáng người Do Thái, nên có tính cách phân biệt về dân tộc, thờ người ngoại quốc, v.v.... Vẽ hình con mắt để thờ thì tránh được các ý tưởng phân biệt trên.

Hơn nữa, Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh, không riêng cho một sắc dân nào. Khi thờ con mắt là Đức Chí Tôn muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay chủng tộc, nhìn nhau là anh em một nhà, đều là con cái của Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.

- Ý nghĩa thiêng liêng:

Đức Chí Tôn có dạy trong TNHT, ngày 13-1-Bính Dần (dl 25-2-1926), với 5 câu chữ Nho, chép ra như sau:

Nhãn thị chủ tâm, 眼 是 主 心
Lưỡng quang chủ tể, 兩 光 主 宰
Quang thị Thần, 光 是 神
Thần thị Thiên, 神 是 天
Thiên giả Ngã dã. 天 者 我 也

Giải nghĩa vắn tắt:

* Con mắt là chủ của cái tâm, Thiên nhãn là chủ của Thiên tâm, mà Thiên tâm là Thái Cực là Đại Linh quang, nên Trời là chủ của Thái Cực.

* Hai ánh sáng là chúa tể. Lưỡng quang ấy là Lưỡng nghi: Âm quang và Dương quang, nên làm chủ tất cả.

* Ánh sáng ấy là Thần. Thần nầy là chơn linh của ông Trời, tức là Đại Linh quang của Đức Chí Tôn.

* Thần ấy là Trời.

* Trời ấy là Ta vậy.

Vậy, thờ Thiên Nhãn là thờ Trời.

2. Ngũ Chi:

Phía dưới Thiên Nhãn là một ngôi sao lớn, đó là sao Bắc đẩu, trung tâm của CKVT. Đây là nơi ngự của Đức Chí Tôn nên phải vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên sao Bắc đẩu.

Hai bên sao Bắc đẩu có vẽ mặt trời và mặt trăng. Hợp lại là Nhựt, Nguyệt, Tinh. Đó là Tam bửu của Trời.

Các Đấng ngồi bên dưới kể ra từ trên xuống dưới:

- Đức Phật Thích Ca ngồi giữa, đắp y vàng, ngồi kiết già trên tòa sen, là Giáo chủ Phật giáo.

- Đức Lão Tử, ngồi bên tay mặt của Đức Phật Thích Ca, mặc áo đạo màu xanh, tay cầm phất chủ, râu bạc trắng, đầu để trần. Ngài là Giáo chủ Tiên giáo.

- Đức Khổng Tử, ngồi bên tay trái của Đức Thích Ca, mặc áo đạo màu hồng, râu bạc trắng, đầu đội mão. Ngài là Giáo chủ Nho giáo.

Như vậy, ở hàng ngang nầy là hình của Ba Đấng Giáo chủ Tam giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ.

- Đức Lý Thái Bạch, ngồi hàng giữa, ngay phía dưới Đức Phật Thích Ca, có râu dài và đen, đầu đội mão cánh chuồng. Ngài là một vị Đại Tiên Trưởng, giữ chức Nhứt Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Lão Tử, cầm quyền Tiên giáo thời ĐĐTKPĐ. Đức Lý Thái Bạch còn được Đức Chí Tôn giao phó kiêm nhiệm Giáo Tông ĐĐTKPĐ.

- Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, ngồi phía tay mặt của Đức Lý Thái Bạch, là vị Nữ Phật ngự trên tòa sen, đắp y màu vàng, đầu đội mũ ni, tay mặt cầm tịnh bình có nhành dương liễu, tay trái bắt ấn. Ngài là Nhị Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Phật Thích Ca, cầm quyền Phật giáo thời ĐĐTKPĐ.

- Đức Quan Thánh Đế Quân, ngồi phía tay trái của Đức Lý Thái Bạch, ngài đội mão, mặc áo đạo màu xanh, râu dài và đen, tay trái đang lật xem quyển Kinh Xuân Thu. Ngài là Tam Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Khổng Tử, cầm quyền Nho giáo thời ĐĐTKPĐ.

Ba Đấng: Lý Thái Bạch, Quan Âm Bồ Tát, Quan Thánh Đế Quân, là Tam Trấn Oai Nghiêm của Đạo Cao Đài, cầm quyền Tam giáo thời ĐĐTKPĐ.

- Đức Chúa Jésus (Gia Tô Giáo chủ), ngồi hàng giữa, ngay dưới Đức Lý Thái Bạch, tóc đen, râu ngắn đen, tay mặt chỉ trái tim bác ái tỏa hào quang. Ngài là Giáo chủ của Thiên Chúa giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ.

- Đức Khương Thượng Tử Nha, ngồi hàng giữa, ngay phía dưới Đức Chúa Jésus, không đội mão, râu bạc trắng, mặc áo bát quái màu vàng, tay mặt cầm cây roi Đả Thần (Đả Thần tiên), tay trái cầm cây Hạnh Huỳnh kỳ. Ngài cầm Bảng Phong Thần, đứng đầu Thần vị.

- Bảy cái ngai, đặt phía dưới các Đấng, sơn son thếp vàng: ngai giữa lớn nhứt là ngôi Giáo Tông, 3 ngai kế dưới dành cho 3 vị Chưởng Pháp ba phái Thái Thượng Ngọc, 3 ngai kế dưới nữa dành cho 3 vị Đầu Sư ba phái. Bảy ngai nầy tượng trưng 7 Chức sắc cao cấp nhứt của CTĐ cầm quyền Đạo Cao Đài trong cơ phổ độ nhơn sanh của Đức Chí Tôn.

Chúng ta đã thấy, các Đấng ngồi theo hàng ngang thì cầm quyền Tam giáo, thời Nhị Kỳ Phổ Độ và thời Tam Kỳ Phổ Độ, còn các Đấng ngồi ở giữa, theo hàng dọc từ trên xuống dưới là:

• Đức Phật Thích Ca tượng trưng Phật đạo,
• Đức Lý Thái Bạch tượng trưng Tiên đạo,
• Đức Chúa Jésus tượng trưng Thánh đạo,
• Đức Khương Thượng tượng trưng Thần đạo.
• 7 cái ngai của 7 Chức sắc cao cấp nhứt của CTĐ tượng trưng Nhơn đạo.

Vậy theo hàng giữa nầy, 4 Đấng ấy và 7 cái ngai tượng trưng Ngũ Chi Đại Đạo: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.

Do đó, Thánh tượng Thiên Nhãn trên được gọi là: Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi.

Sự trình bày Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi của Đạo Cao Đài gồm đủ các Đấng Giáo chủ các tôn giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ và Tam Trấn Oai Nghiêm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nói lên tôn chỉ của Đạo Cao Đài là: Tam giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt.

Hai bên Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi trên Thiên bàn thường có cẩn đôi liễn chữ Nho, viết ra sau đây:

幸 遇 高 臺 傳 大 道
好 逢 玉 帝 御 塵 間

Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.

Đôi liễn nầy là cặp trạng trong bài thi của Đức Chí Tôn có in trong TNHT, nghĩa là:

- May mắn gặp được Đức Cao Đài truyền ra nền Đại Đạo,

- Tốt đẹp thay gặp Đấng Thượng Đế giáng xuống cõi trần.

IV. Cách cắm nhang:

Khi chưa đốt gọi là Nhang, khi đốt rồi thì gọi là Hương, vì khói nhang tỏa mùi thơm.

Phần Tiểu Dẫn: Cách thờ phượng và cúng kiếng, nơi phần đầu của quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Hội Thánh viết như sau:

Khi cúng Thầy, phải đốt cho đủ năm cây hương, cắm hàng trong ba cây gọi là Án Tam Tài, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là Tượng Ngũ Khí.

  THIÊN NHÃN  
 

2  1  3
4  5

+

Thứ tự cắm 5 cây hương:

Thứ tự cắm 5 cây hương giống như khi chúng ta lấy dấu: Phật, Pháp, Tăng, cúng Đức Chí Tôn.

Án Tam Tài: Án là đứng hàng ngang. Tam Tài là: Thiên, Địa, Nhơn. Án Tam Tài là ba ngôi Thiên Địa Nhơn đứng hàng ngang. Cắm cây hương  1  tượng trưng Thiên, cắm cây hương  2  bên phía mặt của bàn thờ thuộc âm, tượng trưng Địa, cắm cây hương  3  bên phía trái bàn thờ thuộc dương tượng trưng Nhơn.

Tượng Ngũ Khí: Cắm thêm ở hàng ngoài hai cây hương  4  và  5 , tất cả là 5 cây hương, tượng Ngũ Khí tức là tượng trưng 5 chất Khí, là 5 cái năng lực khởi đầu của vũ trụ. Ngũ Khí là 5 chất khí nên không hình ảnh, thuộc thời Tiên Thiên, nhưng khi ngưng kết lại thì có hình ảnh, thuộc thời Hậu Thiên, tạo thành Ngũ Hành.

Khi đứng trước bàn thờ nhìn vào lư hương, thấy đủ 5 cây hương, không có cây nào bị che khuất là đúng.

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải thích như sau:

"Nói về năm cây nhang, từ thử Bần đạo để cho các Nho gia tự do giảng giải sao thì giảng, còn Bần đạo hiểu rõ là Ngũ Khí. Chí Tôn dùng Ngũ Khí biến thành Ngũ Hành, vận chuyển càn khôn thế giới, tức là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi chất đều có mỗi sắc, mỗi sắc đều có mỗi Khí. Mùi vị và sanh quang của nó, chúng ta không thể hưởng được, nghe được.

Nên chi, khi làm lễ đốt đủ Năm cây hương là đúng theo phép tín ngưỡng, là qui pháp lại, mọi vật trong Ngũ Khí dâng lễ cho Đức Chí Tôn, chỉ có Người vui hưởng qui pháp ấy mà thôi. Cắt nghĩa rõ rệt ra là Ngũ Khí đó vậy. Đúng hơn nữa là trong Bát hồn vận chuyển được phải nhờ đến Ngũ Khí, cùng một ý nghĩa với: Vạn vật đồng thinh niệm Chí Tôn."

Vậy Năm cây hương nầy là lễ hiến Ngũ Khí dâng lên Đức Chí Tôn. Do đó, không bao giờ được dùng nhang giả (nhang điện) cắm vào lư hương.

V. Nghi tiết lễ Thượng tượng:

Thượng tượng là đem bức Thánh tượng Thiên Nhãn đặt lên bàn thờ để thờ phượng Đức Chí Tôn.

Chủ nhà liên lạc với vị Chánh Trị Sự hương đạo của mình để nhờ ông sắp đặt Lễ Thượng tượng nơi nhà mình, ấn định ngày giờ cuộc lễ và mời các Chức việc Bàn Trị Sự. Sau đó chủ nhà đến Thánh Thất thỉnh vị Lễ Sanh do Hội Thánh bổ nhiệm cầm quyền đạo tại địa phương đến khai đàn chứng lễ Thượng tượng.

Tùy theo sự sắp đặt của Bàn Trị Sự, lễ Thượng tượng có thể tổ chức vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) hay giờ Dậu (6 giờ chiều).

Chuẩn bị: Sớ văn để trên cái dĩa, đặt kế lư hương và một bó 5 cây nhang lấy chỉ cột lại.

Kiểm tra: bông, rượu, trà, nước trắng, cho đầy đủ.

Tất cả chia ra đứng hai bên Thiên bàn, nam tả, nữ hữu (từ Thiên bàn ngó ra). Chức sắc đứng trước, kế là Chức việc BTS, Đạo hữu, chủ nhà và gia quyến đứng chót.

Lễ Thượng tượng diễn ra như sau:

1. Gõ 3 tiếng chuông (↓↓↓): khởi lễ. Tất cả đều bắt ấn Tý.

2. Xá đàn 1 xá, tất cả bước vào đứng trước Thiên bàn.

3. ↓↓↓ Xá 3 xá, quì xuống. Người phụ lễ đốt bó nhang 5 cây trao cho vị Lễ Sanh chứng đàn.

4. ↓ Lấy dấu: Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng.

Đem ấn Tý đặt giữa ngực, vừa cúi đầu vừa niệm:

• Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

• Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,

• Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,

• Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế QuanThánh Đế Quân

• Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

(mỗi câu niệm, gõ 1 tiếng chuông, cúi đầu)

5. Đồng nhi khởi tụng kinh Niệm Hương.

Dứt kinh, Chức sắc chứng đàn trao bó hương 5 cây cho phụ lễ đem cắm vào lư hương, giữa 5 cây hương đã cắm trước.

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy. (mỗi lạy mỗi điểm chuông )

6. Đồng nhi tụng bài Khai Kinh.

Dứt kinh, ↓ cúi đầu, không lạy. Khi tụng danh hiệu của các Đấng, điểm 1 tiếng cho mọi người cúi đầu.

7. Đồng nhi tụng Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Dứt kinh, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, giống mục 5.

8. Đồng nhi tụng Kinh Phật giáo.

Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

9. Đồng nhi tụng Kinh Tiên giáo.

Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

10. Đồng nhi tụng Kinh Nho giáo.

Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

11. Đồng nhi thài bài Dâng Hoa.

Dứt thài, mọi người đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện: Dâng thể xác lên Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng. (Cách cầu nguyện dâng Tam bửu: Hoa, Rượu, Trà, xem chi tiết nơi Chương 5: Cúng Tứ thời)

↓ Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

12. Đồng nhi thài bài Dâng Rượu.

Y như mục 11 nhưng cầu nguyện Dâng chơn thần.

13. Đồng nhi thài bài Dâng Trà.

Y như mục 11 nhưng cầu nguyện Dâng linh hồn.

14. Dâng sớ: Người phụ lễ bưng dĩa sớ trên Thiên bàn trao sớ cho Lễ Sanh chứng đàn. Vị nầy cầm đứng bao sớ, xá 3 xá (có điểm chuông), cầu nguyện, rút lá sớ ra, đưa cho người đọc sớ. (Đọc sớ, đến chỗ danh hiệu các Đấng thì ↓ cúi đầu).

Đọc sớ:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Thất thập . . . niên)

Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, . . . . ngoạt, . . . . . nhựt, ngọ thời, hiện tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . Châu, . . . . , Tộc, . . . . . Hương, cư trụ gia đường chi trung.

Kim đệ tử . . . (phẩm tước và Thánh danh của vị Lễ Sanh chứng đàn) . . . . . công đồng chư Chức sắc hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng quì tại Thiên bàn tiền, thành tâm trình tấu.

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI:

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO:

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,

Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,

Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM:

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,

Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,

Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,

Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì, kiết nhựt lương thần, thỉnh an Thánh tượng chi lễ, chư Thiên phong nghiêm thiết đàng tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm phụng hiến.

Cẩn thỉnh chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, chứng minh tọa hạ.

Phục vọng Vô Trung Từ Phụ, phát hạ hồng ân, chuyển họa vi phước, tập kiết nghinh tường, bảo hộ gia đường . . . . (tên gia chủ xin thượng tượng) . . . . . diên niên hạnh phước.

Ngưỡng nguyện Đại Từ Bi vận chuyển thế cuộc tảo đắc hòa bình, trật tự an ninh, quốc thới dân an, phong điều võ thuận.

Chư Thiên phong hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng thiết triêm Thiên ân gia huệ dã.

Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu

Dĩ văn.

Đệ tử: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

(phẩm tước và Thánh danh của vị Chức sắc chứng đàn)

Đọc sớ xong, người đọc đưa sớ cho vị chứng đàn bỏ vào bao sớ, vị nầy cầm bao sớ xá 3 xá, đốt sớ bỏ vào thố, đem đặt giữa chuông và mõ dưới Thiên bàn.

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.

15. Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện.

Dứt Ngũ nguyện, tuy đã có cầu nguyện theo sớ văn, nhưng vị chứng đàn có thể cầu nguyện thêm cho gia chủ (vì đây là sự khích lệ rất lớn lao đối với gia đình gia chủ).

Khi cầu nguyện thêm, vị chứng đàn nên cất tiếng cầu nguyện rõ ràng vừa đủ nghe để mọi người cùng nghe cùng dâng lời cầu nguyện lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng, lời cầu nguyện có thể đặt ra như sau:

Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,

Nam mô Tam Tông Chơn Giáo,

Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,

Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

Hôm nay, đệ tử và Bàn Trị Sự Hương đạo . . . . . . đến khai đàn thượng tượng tại nhà của Đạo hữu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Nguyện cầu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Tam Trấn Oai Nghiêm, chư Phật, Tiên, Thánh, Thần ban ân lành cho Đạo hữu . . . .. . . . . và toàn gia quyến, tinh thần mẫn huệ, trí não quang minh, giữ lời Minh Thệ, gìn tròn luật Đạo, lập công bồi đức, giải quả tiền khiên, gội hưởng Thiên ân trong kỳ ba đại ân xá.

Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.

16. Tất cả đều đứng dậy, ↓↓↓ xá 3 xá, lui ra hai bên.

(không có quay ra sau xá chữ Khí vì đây là tư gia)

17. Đồng nhi, ban nhạc và những người hầu đàn vào lạy Đức Chí Tôn.

18. Vị Chức sắc chứng đàn có thể thuyết đạo ngắn gọn nói về ích lợi của việc Thượng tượng, việc cúng tứ thời và bổn phận của người tín đồ đối với Đạo.

19. Bãi đàn: đánh 3 tiếng chuông, xá đàn, lui ra, dứt lễ.

Sau đó, tất cả tập họp trở lại để tụng:

- Di Lạc Chơn Kinh. - Kinh Cứu Khổ.

Trước khi tụng kinh, mọi người vào quì trước Thiên bàn, thỉnh Thánh, cầu nguyện, rồi bắt đầu tụng Di-Lạc Chơn Kinh. Tụng xong thì lạy, khỏi cầu nguyện.

Tiếp theo là tụng Kinh Cứu Khổ.

Trong Kinh Cứu Khỗ, chỗ: cứu hộ đệ tử. . . . , nên tụng cầu nguyện cho chủ nhà và gia quyến, như sau: cứu hộ đệ tử . . . . (tên họ chủ nhà) và gia quyến thoát ly khổ nạn, tự ngôn Quan Thế Âm anh lạc . . . .

Sau cùng, đồng nhi và chư vị hầu đàn vào cầu nguyện và lạy Đức Chí Tôn. Xong, đánh 3 tiếng chuông bãi đàn, mọi người xá đàn 1 xá. Buổi lễ Thượng tượng đã xong.

Ở các hương đạo địa phương, thông thường thì BTS còn đến cúng thời cùng gia chủ trong hai ngày nữa, tới ngày thứ ba huờn kinh, mới chấm dứt.

Ngày hôm sau, tức là ngày thứ nhì, BTS cử Chức việc đến cùng với chủ nhà cúng thời Ngọ (hoặc thời Dậu), không có dâng sớ, chỉ thài bài Dâng Rượu (nếu thời Dậu thì thài bài Dâng Trà). Cúng thời xong thì tụng Di Lạc Chơn Kinh và Kinh Cứu Khổ y như ngày hôm qua.

Ngày hôm sau nữa, tức ngày thứ ba, Chức việc cũng đến cúng thời với chủ nhà. Cúng xong thì tụng Kinh Di Lạc và Cứu Khổ y như hai lần trước, nhưng bữa thứ ba nầy, tụng thêm Kinh Sám Hối.

Như vậy, sau lễ Thượng tượng, Bàn Trị Sự tiếp tục đến nhà, hiệp cùng gia chủ, cúng thời và tụng kinh hai lần nữa để bắt trớn cho gia chủ tiếp tục cúng trong Tứ thời trước Thiên bàn tại tư gia của mình.

VI. Tính chất của sự thờ phượng và nghi lễ.

Chúng ta đã thấy trên Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi, Đạo Cao Đài trên hết là thờ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, kế dưới là thờ các Đấng Giáo chủ thời Nhị Kỳ Phổ Độ và thờ Tam Trấn Oai Nghiêm thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Tuy thờ như vậy nhưng khi đọc kinh cúng thì đọc kinh xưng tụng Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, Giáo chủ Phật giáo Nhứt Kỳ Phổ Độ; kinh Tiên giáo thì xưng tụng Đức Thái Thượng Đạo Quân Giáo chủ Tiên giáo Nhứt Kỳ Phổ Độ và hóa thân của Ngài là Lão Tử thời Nhị Kỳ Phổ Độ.

Như vậy, sự thờ phượng phối hợp với kinh kệ của Đạo Cao Đài có tính chất xuyên suốt từ Nhứt Kỳ, qua Nhị Kỳ rồi đến Tam Kỳ Phổ Độ. Đây là thời kỳ Vạn thù qui nhứt bổn mà hai thời kỳ trước là Nhứt bổn tán vạn thù.

Đôi khi có một số người hiểu lầm cho rằng, Đạo Cao Đài là một tôn giáo hỗn tạp, không thuần nhứt trong cách thờ phượng và trong kinh kệ. Quả thật, nếu chúng ta chỉ nhìn riêng lẻ từng tôn giáo và từng thời kỳ phổ độ, chúng ta sẽ có kết luận như thế, nhưng nếu chúng ta có cái nhìn tổng quát xuyên suốt từ đầu đến cuối, thì thấy trong cái hỗn tạp đó, có một cái trật tự do Đấng Thượng Đế sắp đặt. Đấng Thượng Đế lâu nay không nói ra, để tự con người tìm tòi hiểu biết, nhưng con người vẫn vô minh.

Ngày nay, Đấng Thượng Đế lập Đạo Cao Đài trong thời kỳ cuối cùng trước khi đến Đại Hội Long Hoa, Đấng Thượng Đế phơi bày ra tất cả, để nhơn loại hiểu biết nguồn gốc của mình đều là con của Thượng Đế, nhìn nhau là anh em một nhà. Còn các Đấng Giáo chủ các tôn giáo chỉ là những vị lãnh lịnh Đấng Thượng Đế giáng trần mở đạo dạy dỗ nhơn sanh trong khu vực và thời hạn qui định.

Hiểu như vậy để tiến tới sự hòa đồng các tôn giáo, trước khi Đức Di-Lạc Vương Phật giáng trần gom các đạo hữu hình làm một dưới quyền chưởng quản của Ngài.

VII. Lập bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ:

Sau khi lập Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn rồi, gia chủ nên lập thêm bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại nhà mình.

Thường thì bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thiết lập gần bên Thiên bàn cho thuận tiện việc cúng kiếng.

Nếu trong nhà đã có sẵn bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ (CHTT) hay bàn thờ Tổ Tiên rồi thì nên chỉnh đốn cho đúng theo khuôn mẫu của Đạo lập nên.

Ngoài ra, khi lập Thiên bàn rồi thì những bàn thờ nhỏ trước đây như: bàn thờ Đức Quan Thánh, bàn thờ Đức Quan Âm Bồ Tát, bàn thờ Đức Mẹ Sanh, v.v... thì nên dẹp hết, vì trên Thiên Bàn đã có thờ đủ các Đấng ấy rồi.

     















     

(Nếu cha mẹ đã mất thì có thể đặt hình của cha mẹ
dưới Cửu Huyền Thất Tổ để thờ chung)

Chúng ta thờ Đức Chí Tôn vì Đức Chí Tôn là nguồn gốc thiêng liêng của linh hồn của ta.

Chúng ta thờ Cửu Huyền Thất Tổ vì CHTT là nguồn gốc phàm trần của xác thân ta.

Chúng ta hiện diện trong cõi đời hiện tại đây là do hai nguồn gốc đó, nên chúng ta phải phụng thờ đầy đủ.

Bàn thờ CHTT có viết chữ Cửu Huyền Thất Tổ bằng chữ Nho đại tự, 4 chữ thẳng đứng, hai bên có đôi liễn thờ.

Xin đề nghị đôi liễn sau đây, tùy nghi gia chủ sử dụng, hoặc đổi đôi liễn khác. (Đôi liễn nầy tại Bùi Phủ Từ).

Đôi liễn:

- Sùng đức Cửu Huyền ân thượng trọng,

- Tôn công Thất Tổ nghĩa cao thâm.

Nghĩa là:

▪ Kính cái đức độ của Cửu Huyền, ơn cao trọng,

▪ Tôn cái công nghiệp của Thất Tổ, nghĩa cao sâu.

Cách chưng bày các món trên bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ, lấy theo mẫu bàn thờ PHƯỚC LỘC THỌ (thờ ông bà chung) nơi hậu điện Báo Ân Từ:

 

2   1   3
  4   5  
6   8   7
   

 1  Đèn vọng.

 2  Dĩa trái cây.

 3  Bình bông.

 4  Chung nước trà

 5  Ly rượu.

 6  và  7  Cặp đèn nghi.

 8  Lư hương (cắm 3 cây hương).

 

Thờ cúng Cửu Huyền, ý nghĩa: mình là cháu 9 đời, thờ các bậc Tổ Tiên 9 đời trước mình.

Thờ CHTT là để tỏ lòng kính trọng Tổ Tiên mà trong buổi sanh tiền đã dày công giáo hóa, chỉ dẫn công việc làm ăn, dạy bảo cử chỉ hành động sao cho tốt đẹp, hợp đạo đức, để phát huy sự nghiệp làm rạng rỡ Tổ Tiên.

Sau đây là bảng giải thích Hệ thống Cửu Huyền (9 đời) và Thất Tổ (7 vị Tổ) của dòng họ:

 

Hệ Thống CỬU HUYỀN:
  1. Ông Sơ của Ông Sơ (Cao Cao Tổ) Thất tổ






 
2. Ông Cố của Ông Sơ (Cao Tằng Tổ) Lục tổ  
3. Ông Nội của Ông Sơ (Viễn Tổ) Ngũ tổ  
4. Cha của Ông Sơ (Tiên Tổ) Tứ tổ THẤT TỔ
5. Ông Sơ (Cao Tổ) Tam tổ  
6. Ông Cố (Tằng Tổ) Nhị Tổ  
7. Ông Nội (Nội Tổ) Nhứt Tổ  
8. Cha (Phụ thân)      
9. Bản thân        

VIII. Giải nghĩa Sớ văn:

Các bài văn sớ trong Đạo đều viết bằng Hán văn, tương đối khó hiểu, nên cần dịch nghĩa ra tiếng Việt.

Các bài văn sớ đều có phần đầu và câu cuối giống nhau, chỉ khác nhau phần giữa gọi là lòng sớ.

BÀI DỊCH:

Nay theo,

Vận Trời năm. . . . . . . , tháng . . . . . , ngày . . . . . . , giờ. . . . , hiện ở nước Việt Nam, Trấn đạo. . . . . . . . . , Châu đạo . . . . . . . , Tộc đạo . . . . . . . , Hương đạo . . . . . , đang tại nơi tư gia.

Nay đệ tử . . . . . . . . . . . . . . . . . . cùng chung các Chức sắc, hiệp với các Chức việc và Đạo hữu nam nữ các cấp, quì trước Thiên bàn, thành tâm tâu bày:

TRONG CỬA HUỲNH KIM KHUYẾT CÓ:

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Đại Thiên Tôn,

Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

BA ĐẤNG GIÁO CHỦ TAM GIÁO:

- Đức Phật Thích Ca, - Đức Lão Tử, - Đức Khổng Tử.

BA TRẤN OAI NGHIÊM của ĐĐTKPĐ:

Đức Quan Thế Âm Bồ Tát,

Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên Trưởng, kiêm nhiệm

Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,

Đức Quan Thánh.

Đức Chúa Jésus,

Đức Khương Thượng Tử Nha,

Đức Hộ Pháp,

Mười phương chư Phật, muôn hạng chư Tiên, chư Thánh, chư Thần.(1)

(Phần lòng sớ: )

Nay vì ngày lành, giờ tốt, làm lễ thỉnh an Thánh tượng, chư Chức sắc Thiên phong nghiêm trang thiết lễ nơi đàn cúng tế, nhang, đèn, bông, trà, trái cây, rượu tinh khiết, lập nên nghi thức, thành tâm hiến lễ.

Kính thỉnh chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần chứng minh và ngự xuống.

Chúng con xin nghe theo và mong mỏi Đấng Đại Từ Phụ trong cõi Hư Vô ban xuống ơn huệ lớn lao, đổi họa làm phước, góp tốt đón lành, bảo hộ gia đình . . . . . . . . . . . . được hạnh phúc lâu dài.

Kính mong Đức Chí Tôn từ bi vận chuyển cuộc thế sớm được hòa bình, trật tự an ninh, nước thạnh dân an, gió hòa mưa thuận.

Các Chức sắc Thiên phong hiệp cùng Chức việc, Đạo hữu nam nữ các cấp, xin được thấm nhuần ơn Trời, gia tăng ơn huệ.

(Câu cuối của sớ: )

Các đệ tử đồng thành tâm cúi đầu lạy xuống, kính cẩn dâng sớ tâu lên.

Kính trình.

 

Ghi chú: (1)
- Vạn chưởng: tức là Vạn chủng: muôn loài, muôn hạng.
- Liên đài chi hạ: bên dưới tòa sen, là vị trí của chư Thánh chư Thần.

 

(#1) Khảo dị: CÁCH THỜ-PHƯỢNG VÀ CÚNG-KIẾNG
được trích từ Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo)

CÁCH THỜ-PHƯỢNG VÀ CÚNG-KIẾNG

      1      
  3   2   4  
5   6 7 8   9
    10 11 12    

1- Thánh-Tượng THIÊN-NHÃN
2- Đèn Thái-Cực
3- Trái cây
4- Bông
5- Nước trà (để bên hữu ấy là ÂM)
6- 7- và 8- Ba ly rượu
9- Nước trắng (để bên tả ấy là DƯƠNG)
10- và 12- Hai cây đèn
11- Lư hương

 


 

Chương 5:
 

CÚNG TỨ THỜI

 

I. Tứ Thời là gì?

Tứ Thời là 4 giờ đặc biệt trong một ngày mà tại 4 thời điểm đó, hai nguyên khí Âm và Dương của Trời Đất, hoặc là khởi sanh hoặc là cân bằng nhau.

Theo Tây phương thì một ngày đêm có 24 giờ, nhưng theo âm lịch của Đông phương thì một ngày đêm có 12 giờ và đặt tên giờ theo Thập nhị Địa chi.

Sự tương quan như sau:

  0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
  Sửu Dần Mẹo Thìn Tỵ Ngọ
14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24        
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi 0 1 2 3 4  
 

Giờ Tý: từ 0 giờ đến trước 2 giờ.

Giờ Sửu: từ 2 giờ đến trước 4 giờ.

Giờ Dần: từ 4 giờ đến trước 6 giờ.

Giờ Mẹo: từ 6 giờ đến trước 8 giờ.

Giờ Thìn: từ 8 giờ đến trước 10 giờ.

Giờ Tỵ: từ 10 giờ đến trước 12 giờ.

Giờ Ngọ: từ 12 giờ đến trước 14 giờ.

Giờ Mùi: từ 14 giờ đến trước 16 giờ.

Giờ Thân: từ 16 giờ đến trước 18 giờ.

Giờ Dậu: từ 18 giờ đến trước 20 giờ.

Giờ Tuất: từ 20 giờ đến trước 22 giờ.

Giờ Hợi: từ 22 giờ đến trước 24 giờ (tức 0 giờ ngày kế)

- Chánh Tý là đầu giờ Tý, tức là lúc 0 giờ.

- Chánh Ngọ là đầu giờ Ngọ, tức là lúc 12 giờ trưa.

(Chánh: nghĩa là đứng đầu).

Tại sao có việc sụt lại 1 giờ?

Thí dụ: *- giờ Mẹo: thay vì là 6 - 8 giờ, thì phải sụt lại 1 giờ, tức là 5 - 7 giờ; *- giờ Ngọ: thay vì là 12 - 14 giờ, thì phải sụt lại 1 giờ, tức là 11 - 13 giờ; v.v...

Đó là khi xem ngày giờ tốt xấu trong việc gả cưới, động thổ cất nhà, gác đòn dông, khai trương cửa hàng, v.v...

Việc coi giờ tốt xấu thì phải dùng các sách coi ngày giờ của Tàu, mà người Tàu khi làm sách thì căn cứ vào giờ của Tàu tại Bắc Kinh (BK), nên khi VN dùng các sách nầy thì phải áp dụng giờ BK, tức là phải đổi giờ VN ra giờ BK.

Giờ BK trước VN 1 giờ, ta có bảng tương ứng:

- Giờ Bắc Kinh: 6 8 10 12 14 16 18 20

- Giờ VN: 5 7 9 11 13 15 17 19

Đổi giờ BK ra giờ VN:

- Giờ Mẹo BK: 6g - 8g tương ứng VN 5g - 7g.

- Giờ Ngọ BK: 12g - 14g - - VN 11g - 13g.

Do đó, khi coi giờ tốt xấu thì phải dùng giờ BK tức là sụt giờ VN lại 1 giờ. Việc sụt lại 1 giờ chỉ đúng ở VN, nơi các nước khác không còn đúng nữa.

Như vậy, ngoài việc coi ngày giờ tốt xấu, trong tất cả trường hợp khác ở VN thì chúng ta phải dùng giờ VN.

Giờ của VN cũng là giờ tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đức Chí Tôn nhận Tây Ninh là Thánh địa, Tòa Thánh Tây Ninh là Đền Thờ của Ngài nên ngày giờ tại TTTN cũng là ngày và giờ của Thiên đình.

Sự biến đổi cường độ hai khí Âm Dương trong một ngày được biểu diễn trong đồ thị sau đây:

Biểu diễn bằng đồ thị

- Đường liền: biểu diễn sự biến đổi của khí Dương theo giờ.
- Đường đứt đoạn: biểu diễn sự biến đổi của khí Âm theo giờ.

 

1. Thời Tý, lúc 0 giờ, khí Âm cực thạnh rồi giảm dần, khí Dương khởi sanh và cường độ tăng dần.

2. Thời Mẹo, lúc 6 gờ sáng, khí Âm và khí Dương cân bằng nhau. Sau đó khí Dương tiếp tục tăng và khí Âm tiếp tục giảm.

3. Thời Ngọ, lúc 12 giờ trưa, khí Dương cực thạnh, khí Âm giảm đến mức triệt tiêu và khởi sanh trở lại với cường độ tăng dần. Lúc đó, sách Nho gọi là Dương cực Âm hồi, nghĩa là: Dương cực đại thì Âm khởi sanh trở lại.

4. Thời Dậu, lúc 18 giờ tức 6 giờ chiều, khí Âm và khí Dương cân bằng nhau.

Sau đó khí Dương tiếp tục giảm và khí Âm tiếp tục tăng, để đến lúc 24 giờ thì khí Dương giảm đến mức triệt tiêu và khởi sanh trở lại, còn khí Âm lúc đó cực thạnh.

Do đó, sách Nho gọi là: Âm cực Dương hồi, nghĩa là: Âm cực đại thì Dương khởi sanh trở lại.

Vào 4 thời điểm trên, hai nguyên khí Âm Dương của Trời Đất có sự biến đổi đặc biệt như thế nên gọi là giờ linh, sự cúng kiếng và cầu nguyện trong các giờ nầy được các Đấng tiếp nhận dễ dàng hơn vào các thời điểm khác.

II. Nghi thức cúng Tứ Thời tại tư gia:

1. Các bài kinh cúng Tứ Thời tại tư gia:

Tại Thiên bàn nơi tư gia, chỉ có cúng Đức Chí Tôn, không cúng Đức Phật Mẫu, nên các bài kinh cúng Tứ Thời tại tư gia gồm có 8 bài, kể ra:

- Niệm Hương

- Khai Kinh

- Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế

- Kinh Phật giáo. - Kinh Tiên giáo. - Kinh Nho giáo.

- Bài Dâng Rượu hay Dâng Trà.

- Ngũ Nguyện.

Việc tổ chức cúng Tứ Thời tại tư gia, giống như cúng Thượng tượng, nhưng không có Dâng Sớ và không thài hết 3 bài Dâng Tam bửu, chỉ thài bài Dâng Rượu nếu cúng lúc 12 giờ trưa hay lúc 12 giờ khuya, và thài bài Dâng Trà nếu cúng lúc 6 giờ sáng hay 6 giờ chiều. (Còn việc tụng Kinh Di-Lạc, Kinh Cứu Khổ, Kinh Sám Hối thì tùy nghi).

2. Nên cúng Tứ Thời đúng giờ.

Nên cúng Tứ Thời đúng giờ, chỉ được xê xích trong vòng 15 phút. Mỗi thời cúng tại tư gia kéo dài chừng 20 phút và thời cúng tại Thánh Thất kéo dài chừng 30 phút vì có dộng chuông trước và sau khi cúng.

Nên cúng đúng giờ qui định vì ngày giờ tại TTTN (tức là giờ VN) cũng là giờ ở Thiên đình. Vào giờ Tý, khi chúng ta cúng tại Tòa Thánh, Thánh Thất hay tư gia thì lúc ấy các Đấng thiêng liêng cũng đang chầu lễ Đức Chí Tôn ở Thiên đình. Cúng đúng giờ để tất cả tín đồ Cao Đài trên khắp nước VN đồng dâng lời cầu nguyện lên Chí Tôn và Phật Mẫu thì sức cầu nguyện tổng cộng ấy rất vĩ đại, chắc chắn hai Đấng Cha Mẹ thiêng liêng ấy rất hài lòng và ban rải hồng ân cho toàn cả chúng ta rất nên tốt đẹp.

Nhớ lại khi xưa, Đức Lý Giáo Tông muốn xin Đức Chí Tôn thêm điều mật yếu vào Tân Luật, nên Ngài yêu cầu toàn cả tín đồ cố gắng cùng với Ngài cầu nguyện Đức Chí Tôn thì mới kết quả. Ngài viết trong TNHT như sau:

"Lão tâu cùng Đại Từ Đại Bi xin thêm vào Luật những điều bí mật yếu trọng ấy. Vậy chư hiền hữu cũng phải cầu khẩn với Lão, nội hạ tuần tháng nầy thì khởi nguyện, dặn các Thánh Thất, các Đạo hữu phải để lòng thành khẩn, hiệp sức làm một với Lão mà nài xin Thánh Luật, nghe à!" (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 77)

3. Nghi thức cúng Tứ Thời tại tư gia:

Thí dụ: Cúng thời Mẹo lúc 6 giờ sáng.

Nam thì mặc quần trắng, áo dài trắng, khăn đen.

Nữ thì mặc toàn trắng giống như nam, đầu để trần.

Chăm sóc Thiên bàn cho tinh khiết, đủ bông trái.

Rót nước thiên nhiên vào chung nước trắng, đủ 8 phân; rót nước trà vào chung nước trà, 8 phân. Thời Mẹo chỉ cúng nước Âm Dương. (Nếu thời Tý hay Ngọ thì không rót nước Âm Dương, chỉ rót 3 phân Rượu vào mỗi ly).

Đốt 5 cây nhang, cầm hai tay, đứng ngay thẳng trước Thiên bàn, xá sâu xuống 3 xá, cắm nhang vào lư hương, hàng trong 3 cây, hàng ngoài 2 cây, nhìn vào thấy đủ 5 cây hương, không cây nào bị che khuất.

1. Gõ 3 tiếng chuông khởi đầu thời cúng.

2. Xá 1 xá nhập đàn. Bước vào đứng trước Thiên bàn, hai tay bắt ấn Tý, xá 3 xá, quì xuống, đưa ấn Tý lên trán lấy dấu Phật Pháp Tăng, rồi đặt giữa ngực, vừa cúi đầu vừa niệm:

- Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

- Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

- Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ.

- Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

- Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

3. Tụng kinh Niệm Hương.

Khi tụng kinh, mắt nhìn lên Thiên Nhãn.

Khi tụng đến danh hiệu các Đấng thì cúi đầu.

Tụng xong, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy (gật chậm để đủ câu niệm).

4. Tụng Khai Kinh.

Dứt bài kinh thì cúi đầu, không xá, không lạy.

5. Tụng Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Tụng xong thì lạy Đức Chí Tôn như mục 3.

6. Tụng Kinh Phật giáo.

Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

7. Tụng Kinh Tiên giáo.

Lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

8. Tụng Kinh Nho giáo.

Lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

9. Thài bài Dâng Trà.

Thài xong bài Dâng Trà thì cầu nguyện hiến dâng linh hồn của mình cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng.

Nhưng, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết trong Dâng Tam bửu có Bí pháp giải thoát, nên chúng ta dầu trong thời cúng nào cũng nên cầu nguyện dâng hết Tam bửu lên Đức Chí Tôn. (Xem phần III tiếp theo)

Chúng ta có thể nói lời cầu nguyện như sau:

"Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,

Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,

Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

Con xin dâng thể xác của con, chơn thần và linh hồn của con lên Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.

Cầu xin các Đấng thiêng liêng chứng minh."

Cầu nguyện xong, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

10. Tụng Ngũ Nguyện.

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.

11. Đứng dậy, xá Thiên bàn 3 xá, lui ra, nam tả nữ hữu.

12. Gõ 3 tiếng chuông, xá đàn, chấm dứt thời cúng.

Trong hai thời Mẹo và Dậu, tức 6 giờ sáng và 6 giờ chiều, sau khi cúng xong, chúng ta nên lấy một cái tách (hoặc cái ly), rồi thỉnh hai chung nước Âm Dương trên Thiên bàn, kề hai miệng chung lại rồi cùng đổ vào cái tách (hoặc cái ly), đứng trước Thiên bàn, đưa tách nước Âm Dương ấy lên trán cầu nguyện.... (Xin cho con uống tách nước Âm Dương nầy để thân thể con được khỏe mạnh, trí não được thông minh sáng suốt lo lập công quả phụng sự nhơn sanh)..., xong rồi thì uống cạn tách nước nầy.

Ích lợi: Hai chung nước Âm Dương sau khi cúng xong, Đức Chí Tôn đã ban thanh khí vào đó nên nước ấy khác hẳn với nước thường, khi uống là đem thanh khí vào cơ thể của chúng ta, nó sẽ lần lần hóa giải trược khí trong cơ thể mỗi ngày một ít, đến lúc nào đó, trược khí tiêu mất hết, thân thể chúng ta chỉ còn thanh khí, nên dứt hết các thứ bịnh kinh niên, làm ta khỏe mạnh. Khi thực hành lâu dài, chúng ta sẽ thấy được tác dụng huyền diệu nầy.

Các nhà khoa học đã thí nghiệm như sau:

- Với một ly nước thường, họ quan sát bằng kính hiển vi điện tử, thấy các phân tử nước di chuyển lộn xộn, không có trật tự chi cả.

- Đặt ly nước ấy vào một chỗ mà chung quanh có nhiều người chú nguyện vào ly nước, sau thời gian chừng 15 phút, các nhà khoa học đem ly nước ấy quan sát thì thấy các phân tử nước trong ly nước bây giờ có vị trí trật tự, kết lại có dạng giống như hoa sen, hay như hoa mai.

Cho nên, hai tách nước Âm Dương sau khi cúng xong, chúng ta không nên đổ bỏ, rất uổng.

III. Bí pháp giải thoát khi Dâng Tam bửu:

1. Cách cầu nguyện khi Dâng Tam bửu:

Về cách thức cầu nguyện khi Dâng Tam Bửu, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo dạy như sau:

- Hễ đưa Bông lên là dâng cái hình thể của chúng ta, ta cúi đầu cầu nguyện Đức Chí Tôn:

"Con xin dâng mảnh hình hài của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

- Khi dâng Rượu thì cầu nguyện:

"Con xin dâng cả trí thức tinh thần của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

(Trí thức Tinh thần của con người là thuộc Chơn thần).

- Khi dâng Trà cầu nguyện:

"Con xin dâng cả linh hồn của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng."

+ Câu chót, chúng ta nên nguyện gồm chung lại như vầy:

"Cả Linh hồn, cả Trí não, cả Hình hài con, do Thầy đào tạo, đó là của Thầy thì do nơi quyền hành độc đoán của Thầy định."

Khi dâng Tam Bửu lên Đức Chí Tôn, hễ dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, dâng xong một Bửu thì lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Dâng Tam Bửu cúng Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu thì cầu nguyện với Đức Phật Mẫu, dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, lời cầu nguyện giống y như lời cầu nguyện đối với Đức Chí Tôn, nhưng thay chữ Chí Tôn bằng chữ Phật Mẫu, xong mỗi Bửu thì lạy Phật Mẫu 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

2. Bí pháp dâng Tam bửu:

Tại sao Đức Chí Tôn buộc tín đồ dâng Tam Bửu?

Tại sao trong mỗi thời cúng, Đức Chí Tôn buộc các tín đồ nam nữ đều phải dâng Tam bửu lên Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu? Điều nầy có phải vì lợi ích cho Đức Chí Tôn hay cho Đức Phật Mẫu không?

Trả lời: Không, mà trái lại là hoàn toàn vì lợi ích cho tín đồ, bởi vì đây là Bí Pháp giải thoát cho mỗi tín đồ.

Bí Pháp thì phải bí mật, nhưng thời ĐĐTKPĐ nầy, Đức Chí Tôn ban cho ơn huệ là Đại Ân Xá, nên Đức Chí Tôn không giấu giếm Bí Pháp nữa, Đức Chí Tôn bày ra trước mắt nhơn sanh, để nhơn sanh thấy rõ mà thực hành.

Đức Chí Tôn nhấn mạnh: "Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi được."

Bí Pháp đó là: Đức Chí Tôn biểu chúng ta dâng Tam bửu của chúng ta (thể xác, chơn thần, linh hồn) lên cho Đức Chí Tôn để Đức Chí Tôn lấy ba thứ đó làm phương tiện PHỤNG SỰ VẠN LINH.

Tại sao gọi đó là Bí Pháp?

Bởi vì chính nó là phương cách giải thoát chúng ta khỏi luân hồi để linh hồn sau khi thoát xác, trở về hiệp nhứt với Đức Chí Tôn, tức là đắc đạo vậy.

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải thích như sau:

"Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Đền Thánh kêu Đức Chí Tôn, kêu Tam Giáo và các Đấng Thiêng liêng mà phân chứng trước: Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến cho Đức Chí Tôn, làm tôi tớ cho vạn linh, thay thế cho Đức Chí Tôn.

Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội mà chúng ta không làm điều gì thêm nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thế gì định tội được.

Đức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát."

Như vậy, mỗi ngày chúng ta cúng Đức Chí Tôn, chúng ta đều cầu nguyện dâng Tam bửu (thể xác, chơn thần, linh hồn, tượng trưng bằng Bông, Rượu, Trà) là dâng toàn thể con người chúng ta cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng, tức là chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào Chí Tôn sai khiến định liệu trong công cuộc Phụng Sự Vạn Linh. Chúng ta không còn điều gì để lo lắng ngoài sự lo lắng làm thế nào thực hiện cho hoàn tất mệnh lệnh của Đức Chí Tôn giao phó.

Bí Pháp Giải thoát ấy, Đức Chí Tôn để hiển hiện ngay trước mắt nhơn sanh mà ít ai để ý suy nghĩ.

Nhưng việc thực hiện Bí Pháp nầy được trọn vẹn thì cũng khó khăn vô cùng. Nhưng càng khó khăn thì càng có giá trị xứng đáng. Đâu có dễ gì! Nhưng không phải là quá khó khăn để chúng ta không thể thực hiện được.

Nếu chúng ta có một Đức Tin mạnh mẽ nơi Đức Chí Tôn và có một tấm lòng hy sinh, quên mình thì mọi việc đều trở nên dễ dàng.

Cái tấm thân của ta đây, cả chơn thần và linh hồn nữa, chúng ta đã giao hết cho Chí Tôn, giao thật sự với đầy đủ ý nghĩa của nó, thì ta không còn gì là của ta nữa, đừng nói chi là của cha mẹ ta hay vợ con ta.

Như vậy, cái TA tức là cái NGÃ không còn nữa, thì đâu còn gì để CHẤP NGÃ. Đây là một phương pháp PHÁ CHẤP triệt để, hiệu quả hơn tất cả phương pháp khác.

Sự dâng hiến nầy là để Phụng Sự Vạn linh, nếu chúng ta thi hành một cách chí thành thì đủ đem chúng ta trở về cùng Đức Chí Tôn, mà không cần làm thêm một điều gì khác nữa. Trong TNHT, Đức Chí Tôn có dạy rằng:

"Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong.

Vậy muốn đắc quả, thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao." (TNHT1-2 hợp nhứt, B108)

Trong Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn cấm hẳn lối tu "Độc thiện kỳ thân" một lối tu ích kỷ, chỉ biết lo riêng mình.

Thể pháp và Bí pháp của Đạo Cao Đài đều đặt việc PHỤNG SỰ VẠN LINH là trên hết.

Tóm lại, Đức Chí Tôn buộc chúng ta dâng Tam bửu cho Ngài là vì Ngài muốn chúng ta thay thế Ngài mà lo Hoằng khai Đại Đạo, Phổ độ chúng sanh, tức là lo Phụng Sự Vạn Linh, bởi vì đó là Bí pháp đắc đạo để chúng ta trở về hội hiệp cùng Đức Chí Tôn và Phật Mẫu. (Trích trong Giải Nghĩa Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo)

IV. Ích lợi của việc cúng kiếng:

1. Đức Chí Tôn có dạy rằng:

"Luôn dịp, Thầy nói cho các con biết:

Cúng Tứ Thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy. Nếu cúng được thường thì lòng dạ nở nang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bịnh tiêu diệt." (TNST. Q1 B 39)

2. Đức Quan Âm Bồ Tát cũng giáng cơ dạy rằng:

"Các em phải cúng kiếng thường.

1. Một là tập cho chơn thần được gần gũi các Đấng thiêng liêng cho đặng sáng lạn.

2. Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.

3. Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.

4. Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ.

Các em nhớ à!" (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 162)

3. Thất Nương DTC cũng có nói rằng:

"Lễ bái thường hành tâm đạo khởi."

Sự thờ phượng hiến dâng cũng là hình thức để thể hiện lòng tôn kính, chớ không phải vì sự thờ phượng hiến dâng ấy mà được độ rỗi an bài và siêu thoát.

Nếu trong nếp sống thường nhựt, bản thân mình không được trong sạch, lương thiện, hành động mình thất đức, lời nói bất nhơn, các đối xử mình tàn ác, thì dầu chay lạt suốt đời, cúng lạy Tứ thời hiến dâng lễ vật đầy chùa thất cũng không được sự hộ trì và cứu rỗi.......

- Sự lễ bái cúng lạy quì mọp, ngoài ý nghĩa trịnh trọng thi lễ với Phật Trời, lại còn có ý nghĩa câu thúc thân mình trong sự khó khăn để trừ bớt nghiệp thân.

- Tịnh khẩu hoặc niệm Phật tụng kinh để trừ bớt nghiệp khẩu.

- Nhắm mắt tham thiền, hoặc ngó ngay vào Thiên Nhãn, hoặc ngọn nhang, ngọn đèn lưu ly là để trừ lần nghiệp nhãn.

- Tham thiền định ý, khép chặt tư tưởng suy nghĩ vẩn vơ phóng túng là để trừ lần nghiệp ý.

- Thiền định không chấp nhận mọi tiếng động vào tai là để trừ lần nghiệp nhĩ.

Tóm lại, tất cả những điều ấy là những phương pháp trợ giúp cho người tu hành được yên ổn trả dứt nghiệp cũ, không gây nghiệp mới và tạo thêm âm chất để làm vốn liếng sản nghiệp vô hình cho kiếp lai sanh hoặc cho bên kia thế giới.

Chúng ta cúng lạy Đấng Thượng Đế là để nhớ tưởng và biết ơn Đấng đã sanh ra linh hồn ta và dùng khí sanh quang nuôi nấng linh hồn và chơn thần của chúng ta.

Chúng ta cúng lạy các Đấng Tiên Phật là để nhớ tưởng tấm gương cao cả của các Đấng ấy đã hy sinh trọn đời lo cứu độ chúng sanh.

Chúng ta không nên cúng lạy với tinh thần vị kỷ, cầu lợi cho mình: cúng Phật để cầu Phật ban ơn cho mình, cúng Tiên để cầu Tiên ban phước cho mình, mà nên cúng lạy với tinh thần tôn kính các bậc phi thường và nguyện noi gương các Đấng ấy.

Có người ngoại đạo cho rằng: Chúng ta thờ phượng và cúng lạy một tấm giấy. Nói như thế thật là ngu muội đáng trách! Bởi vì mỗi ngày các nhân viên của cơ quan nhà nước chào quốc kỳ, cái chào đó không phải là chào một miếng vải màu, mà là chào cái tinh thần của tổ quốc, cái hồn nước của chúng ta, mà có biết bao người qua bao nhiêu thế hệ đã hy sinh để bảo vệ cái tinh thần ấy, cái linh hồn của tổ quốc, của dân tộc.

Khi cúng Đức Chí Tôn, chúng ta nhìn Thiên Nhãn vẽ trên tờ giấy, chúng ta không còn thấy tờ giấy nữa, mà chúng ta chỉ thấy một Đấng vô cùng cao cả, Đấng Cha lành thiêng liêng đầy tình thương yêu nhơn sanh và lúc nào cũng muốn cứu vớt nhơn sanh ra khỏi biển khổ trầm luân để trở về ở trong lòng Ngài.

Khi cúng Tứ Thời, chúng ta tụng kinh thì cần phải học hỏi để hiểu ý nghĩa lời kinh. Với tấm lòng kính thành, hợp với sự hiểu biết ý nghĩa lời kinh, làm cho tâm hồn ta yên lặng, bớt vọng động, bớt phóng tâm nghĩ quấy, để lần lần chúng ta kềm giữ cái tâm, cái ý, để sau cùng đạt được trạng thái định ý định tâm. Tụng kinh cũng là để cho lời kinh dạy cái tâm của ta, vì các kinh tụng đều là tâm kinh.

Mặt khác, khi chúng ta tụng kinh thì những vong linh vô hình ở chung quanh chúng ta cũng được nghe kinh, nhờ đó họ có thể sớm giác ngộ mà hưởng được ân huệ của các Đấng thiêng liêng, sớm cho đi tái kiếp.

V. Giải nghĩa các từ ngữ đã dùng:

1. Tam bửu: Tinh Khí Thần:

Có hai trường hợp: Tam bửu dâng lên Đức Chí Tôn và Tam bửu trong phép luyện đạo.

- Tam bửu dâng lên Đức Chí Tôn:

Tinh là thể xác, tượng trưng bằng cái Hoa.

Khí là chơn thần, tượng trưng bằng Rượu.

Thần là linh hồn, tượng trưng bằng Trà.

- Tam bửu trong phép luyện đạo:

Luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hiệp Thần, luyện Thần hoàn Hư.

Tinh là chất tinh túy nhứt trong thân thể để di truyền nói giống. Đối với người nam, Tinh là chất tinh trùng; đối với người nữ, Tinh là noãn châu.

Khí là chất bổ dưỡng cao cấp, theo máu đi nuôi dưỡng các cơ quan trong thân thể cho được cường tráng, nhứt là nuôi bộ não cho được minh mẫn sáng suốt.

Thần là chơn thần của mỗi người. Thể xác cường tráng tinh anh thì chơn thần thanh nhẹ và mạnh mẽ.

Tinh của con người là do máu thanh lọc và tích tụ chất tinh túy tạo thành. Theo lẽ tự nhiên thì chất Tinh nầy tiết ra khỏi cơ thể theo đường tình dục để kết hợp với noãn châu của người nữ, tạo thành thai nhi, lưu truyền nòi giống. Đó là thuận chuyển. Bây giờ nghịch chuyển, luyện cho chất Tinh nầy đi ngược lại, biến hóa trở lại thành chất bổ dưỡng cao cấp, gọi là Khí. Luyện được như vậy gọi là Luyện Tinh hóa Khí.

Luyện cho chất Khí ấy theo máu nuôi dưỡng cơ thể cho được cường tráng, nhứt là đem lên bồi bổ não bộ cho sung mãn, làm cho não bộ trở nên sáng suốt tinh anh. Não bộ là trung tâm hoạt động của chơn thần, nên chơn thần người luyện đạo nhờ vậy mà được trong sáng, mạnh mẽ, ấy là do được nuôi dưỡng bởi cái Tinh của người ăn chay trường rất thanh, nên Khí cũng rất thanh. Luyện đặng như vậy gọi là Luyện Khí hiệp Thần. Dùng chữ hiệp là vì mỗi người đều có sẵn một chơn thần (xác thân thiêng liêng), chớ không phải do luyện đạo mới có chơn thần.

Cái chơn thần của người chưa luyện đạo thì tầm thường yếu ớt mờ tối. Nhờ luyện đạo mà chơn thần của hành giả được trong sáng, nhẹ nhàng, mạnh mẽ, hào quang ẩn ẩn muốn lòa, nhưng chưa huyền diệu vì chưa thể xuất ra khỏi thể xác mà vân du thiên ngoại.

Phải luyện cho cái chơn thần ấy được huyền diệu, có thể xuất ra hoặc nhập vào thể xác theo cái cửa là Nê hoàn cung, tùy theo ý muốn của hành giả. Luyện được như vậy gọi là Luyện Thần hoàn Hư, đắc đạo tại thế.

 


 

Chương 6:
 

Nghi tiết cúng đàn tại
THÁNH THẤT

 

I. Nghi tiết cúng Đại Đàn tại Thánh Thất:

Đại Đàn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa.

Thí dụ: Đại Đàn cúng Vía Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ ngày 18-8 âl hằng năm, tại Thánh Thất của Châu Đạo, có Chức sắc Pháp Chánh HTĐ và Chức sắc Phước Thiện tham dự.

Gần tới 12 giờ trưa, bổn đạo tụ tập trước Thánh Thất. Đầu Tộc Đạo sắp đặt các Chức việc Bàn Trị Sự và Đạo hữu đứng có hàng ngũ chỉnh tề, nam tả nữ hữu.

6 Lễ sĩ mặc áo rộng màu xanh da trời, đội mão trắng, chia làm 3 cặp đi vào chánh điện. Cặp Lễ xướng đứng 2 bên ngoại nghi giữ phận sự xướng lễ.

Đúng 12 giờ, cặp Lễ Xướng khởi xướng:

1. Tịnh túc thị lập. (Đều nghiêm trang đứng hầu)

2. Chấp sự giả các tư kỳ sự.

(Người được phân công phần việc nào thì đến giữ việc ấy).

Các Ban: Nhạc, lễ sĩ, đồng nhi, lễ vụ, kiểm đàn sẵn sàng thi hành phận sự trong đàn cúng.

3. Lôi Âm Cổ khởi. (Bắt đầu đánh trống Lôi Âm)

Vị Chức việc hầu trống nơi Lôi Âm Cổ Đài khởi đánh trống. Trước tiên đánh 3 tiếng trống, rồi kệ 4 câu, dứt mỗi câu kệ thì đánh 1 tiếng trống lớn. Bài kệ chép ra sau đây:

Lôi Âm Thánh cổ triệt hư không,

Truyền tấu càn khôn thế giới thông.

Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.

Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.

Kế đó, Chức việc hầu trống nhịp lên mặt trống 12 tiếng trống nhỏ liên tiếp gọi là lôi 12 điểm, rồi đánh tiếp 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 dùi, lúc đầu đánh chậm, sau đánh liên dùi thúc cho mau, sau cùng đánh chậm rãi 3 dùi (2 nhặt 1 thưa) rồi dứt.

Cặp Lễ Xướng tiếp:

4. Bạch Ngọc Chung minh. (dộng chuông Bạch Ngọc)

Vị Chức việc hầu chuông nơi Bạch Ngọc Chung Đài, khởi dộng 3 tiếng chuông, rồi kệ 4 câu kệ chuông. Dứt mỗi câu kệ thì dộng 1 tiếng chuông lớn. Bài kệ chuông chép ra sau đây:

Thần chung thinh hướng phóng Phong Đô,

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

Kế đó, Chức việc hầu chuông nhịp 12 tiếng chuông nhỏ liên tiếp, rồi dộng tiếp 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 tiếng, lúc đầu đánh chậm, sau đánh thúc cho mau, cuối cùng đánh chậm rãi 3 tiếng (2 nhặt 1 thưa) rồi dứt.

5. Cung thành thứ tự Chức sắc nhập đàn.

(Các Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu nam nữ đi hàng một vào chánh điện, nam bên tả, nữ bên hữu, đi vào trật tự và im lặng).

Chức sắc Pháp Chánh đi vào trước vì thuộc HTĐ.

Sau đó là Giáo Hữu Khâm Châu Đạo, Chí Thiện Quản Châu Đạo PT, Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo, Giáo Thiện Quản Tộc Đạo PT, các vị Chánh Trị Sự, Hành Thiện PT, Đầu Phòng Văn, Phó Trị Sự, Thông Sự, Thính Thiện, các Đạo hữu từ từ đi vào chánh điện.

Nữ phái Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu cũng sắp đặt trật tự y như bên nam phái đi vào chánh điện, đứng bên phía nữ phái.

Hai bên nam nữ tạo thành hai ban đứng hầu nơi chánh điện, đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý.

6. Nội Nghi, Ngoại Nghi tựu vị.

CSCĐ xá đàn 1 xá, bước vào đứng trước Nội nghi, CVNN cũng xá đàn, bước vào đứng trước Ngoại nghi, nhìn lên bửu điện.

7. Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị.

(Chức sắc Thiên phong sắp xuống, vị trí của ai nấy đứng).

Vị hầu chuông khắc 3 tiếng chuông lớn làm hiệu, các Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ đồng xá đàn một xá, bước vô, xoay người đứng hướng mặt lên bửu điện.

Chức sắc Pháp Chánh thì đứng trước bàn thờ Đức Hộ Pháp, tay bắt ấn Tý, nhìn vào chánh điện và đứng như vậy suốt thời cúng.

8. Nhạc tấu Quân Thiên.

Đầu tiên, nhạc và trống trổi khúc nhạc Tiếp Giá, Đức Chí Tôn và các Đấng giáng đàn. Dứt trống, nhạc đờn 5 bài hiến lễ vì là vía Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm. [Nếu Ban Nhạc của Thánh Thất thiếu Nhạc sĩ thì đờn 3 bài, hoặc là đờn 3 hiệp Ngũ đối hạ]

9. Nghệ hương án tiền. (Bước tới đứng trước bàn hương)

LSĐĐ bước vào đứng trước vị CVNN. Hai Lễ sĩ đài, một bên đặt bó hương 5 cây bó lại, chưa đốt; một bên đặt một cái lư trầm cũng chưa đốt. [Nếu không có trầm thì dùng nhang thơm cắt khúc bó lại tạo thành bó lớn đặt vào lư].

10. Giai quì. (đều quì xuống)

Chuông khắc 3 tiếng, mọi người xá 3 xá, đồng quì xuống,

Những người không có chỗ quì thì đứng hầu đàn.

11. Phần hương. (đốt nhang)

CVNN lấy bó hương 5 cây, đưa vô hai ngọn đèn của cặp Lễ sĩ đăng đang dụm lại, đốt cháy, xá 3 xá, trao cho Lễ sĩ cầm đài, rồi đốt lư trầm, cũng xá 3 xá, trao cho Lễ sĩ cầm đài kia.

LSĐĐ đứng dậy, lui ra, xoay người hướng vào bửu điện, chuẩn bị điện vào nội nghi để đem bó hương cho CSCĐ cầu nguyện dâng hương lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.

12. Điện hương.

(Lễ sĩ điện lễ dâng hương, bước đi theo hình chữ Tâm).

LSĐĐ cung tay lên ngang mày, nghe theo điệu trống, bước đi theo hình chữ Tâm (cách đi lễ đặc biệt của Đạo Cao Đài), điện từ ngoại nghi vào tới nội nghi.

13. Quì. Trống đổ 3 hồi cho các Lễ sĩ quì.

Bốn Lễ sĩ đăng đài đồng quì xuống, đối diện nhau, trước vị Chức sắc chứng đàn, rồi trao bó hương cho CSCĐ, trao lư trầm cho vị Chức sắc nữ phái quì kế CSCĐ.

Khắc chuông, CSCĐ hai tay cầm bó hương đưa lên trán thỉnh Thánh và niệm:

- Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

- Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,

- Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,

- Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,

- Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân,

- Nam mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần.

Các vị khác trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán lấy dấu Phật Pháp Tăng và niệm y như vị CSCĐ.

14. Thành kính tụng Niệm Hương chú.

(Thành kính tụng kinh Niệm Hương). Các Giáo nhi và đồng nhi tụng kinh Niệm Hương giọng Nam ai. (Ban Nhạc và các đồng nhi đều đứng trên lầu HTĐ). CSCĐ hai tay cung kính nâng bó hương lên ngang trán trong suốt thời gian đồng nhi tụng kinh. Khi tụng danh hiệu các Đấng thì khắc 1 tiếng chuông để mọi người cúi đầu.

15. Thượng hương. (Đem hương lên cắm vào lư hương)

Hai vị tiếp lễ, một cầm bó hương đem lên cắm vào giữa 5 cây hương sẵn có trong lư hương, một bưng lư trầm đặt kế lư hương. Nhạc đánh thét, LSĐĐ đứng lên, lui ra, trở bộ quay về ngoại nghi.

16. Cúc cung bái. (Cúi mình lạy xuống)

Người hầu chung lần lượt khắc 3 tiếng chuông, toàn thể lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

17. Thành kính tụng Khai Kinh chú.

(Thành kính tụng bài Khai Kinh).

Nhạc gài đờn Nam ai, đồng nhi tụng Khai kinh.

Khi dứt bài thì tất cả cúi đầu, không xá, không lạy.

18. Thành kính tụng Ngọc Hoàng Kinh.

(Thành kính tụng kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế). Đồng nhi tụng kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, giọng Nam xuân.

19. Cúc cung bái.

Nhạc đánh lập ban. Lễ vụ khắc chuông. Toàn thể lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

20. Thành kính tụng Phật giáo Tâm kinh.

(Thành kính tụng kinh Phật giáo). (Tâm kinh là kinh dạy về Tâm pháp). Đồng nhi tụng kinh Phật giáo, giọng Nam xuân.

21. Cúc cung bái.

Toàn thể lạy Đức Phật Nhiên Đăng 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

22. Thành kính tụng Tiên giáo Tâm kinh.

Thành kính tụng kinh Tiên giáo, giọng Nam xuân.

23. Cúc cung bái.

Lạy Đức Thái Thượng 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

24. Thành kính tụng Thánh giáo Tâm kinh.

Thành kính tụng kinh Thánh giáo, giọng Nam xuân.

25. Cúc cung bái.

Lạy Đức Khổng Thánh 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

26. Cung hiến Tiên hoa. (Kính cẩn dâng hoa quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một bình hoa nhỏ đủ 5 sắc hoa tươi, một bên có 1 trái cây, rồi LSĐĐ đồng đến đứng trước CVNN, day mặt vào nhau.

27. Quì. (4 Lễ sĩ đăng đài quì xuống)

28. Chỉnh Tiên hoa. (Sửa sang hoa quí)

CVNN chỉnh sửa hoa và quả cho ngay ngắn, cầm bình hoa và dĩa quả xá xuống 3 xá, rồi trao cho hai Lễ sĩ đài.

Nhạc đổ 3 hồi, LSĐĐ đứng dậy, lui ra hai bên, quay mặt hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện dâng hoa và quả.

29. Điện Tiên hoa. (Lễ sĩ điện dâng hoa quí)

Lễ sĩ điện dâng hoa giống y như lúc Điện Hương. Lúc Lễ sĩ điện thì đồng nhi thài bài Dâng Hoa theo giọng Đảo Ngũ Cung. Khi dứt thài thì Lễ điện cũng vừa tới nội nghi, day mặt vào giữa.

30. Quì. Nhạc đổ 3 hồi, LSĐĐ quì xuống.

Vị Chức sắc chứng đàn tiếp lấy bình hoa, xá 3 xá, đưa bình hoa lên trán cầu nguyện, đồng thời tất cả mọi người trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Hoa: "Con xin dâng hình hài của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng."

Vị Chức sắc nữ phái quì bên cạnh CSCĐ, hai tay bưng dĩa trái cây, cũng xá 3 xá rồi đưa lên trán cầu nguyện, cử chỉ giống như CSCĐ nam phái.

31. Thượng Tiên hoa. (Đem Hoa đặt lên bàn thờ)

Cầu nguyện xong đưa bình hoa và dĩa trái cây cho 2 vị tiếp lễ đem lên đặt trên bàn thờ. Trong lúc đó, trống đổ, LSĐĐ đứng lên, trở bộ quay lại đi về ngoại nghi.

32. Cúc cung bái.

Nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

33. Cung hiến Tiên tửu. (Cung kính dâng rượu quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một ly nhỏ để đựng rượu, một bên có một cái nhạo rượu trắng tinh khiết, rồi 4 Lễ sĩ đăng đài đồng đến đứng trước CVNN, day mặt vào nhau.

34. Quì. LSĐĐ đều quì xuống trước CVNN.

35. Chước tửu. (Rót rượu)

Vị CVNN cầm nhạo rót rượu vào ly, nhắm chừng đủ 9 phân rượu, hai tay cầm ly rượu nâng lên xá 3 xá rồi trao cho Lễ sĩ đài.

36. Điện Tiên tửu. (Lễ sĩ đi điện dâng rượu lên)

Công việc giống y như Điện Tiên hoa.

Đồng nhi thài bài Dâng Rượu, Lễ sĩ điện lên nội nghi.

37. Quì. LSĐĐ quì xuống trước CSCĐ.

CSCĐ tiếp ly rượu, vị Chức sắc nữ phái quì kế bên tiếp nhạo rượu, xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Rượu: "Con xin dâng chơn thần của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng."

38. Thượng Tiên tửu. (Đem rượu lên đặt trên bàn thờ)

Cầu nguyện xong, trao ly rượu và bình rượu cho tiếp lễ đem lên bàn thờ. Trống đổ, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.

39. Cúc cung bái.

Lạy Chí Tôn 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm chú của Thầy.

40. Cung hiến Tiên trà. (Cung kính dâng trà quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt, một bên đặt 1 bình trà, một bên đặt 1 cái tách để dựng nước trà. LSĐĐ cùng vào đứng trước CVNN.

41. Quì. LSĐĐ quì xuống trước CVNN.

42. Điểm trà. (Rót nước trà)

CVNN cầm bình trà, rót vào tách, nhắm chừng đủ 8 phân nước trà, hai tay nâng tách trà lên trán xá 3 xá, trao cho Lễ sĩ đài.

43. Điện Tiên trà. (Lễ sĩ điện trà dâng lên)

Công việc giống y như Điện Tiên hoa.

Đồng nhi thài bài Dâng Trà, Lễ sĩ điện lên nội nghi.

44. Quì. LSĐĐ quì xuống trước CSCĐ.

CSCĐ tiếp tách trà, vị Chức sắc nữ phái quì kế bên tiếp bình trà, xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Trà tức là dâng linh hồn, nhưng lần cầu nguyện chót nầy nên dâng cả Tam bửu lên Đức Chí Tôn, vì đây là Bí pháp giải thoát: "Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng."

45. Thượng Tiên trà. (Đem trà lên đặt trên bàn thờ)

Cầu nguyện xong, trao tách trà và bình trà cho tiếp lễ đem lên bàn thờ. Trống đổ, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.

46. Cúc cung bái. (lạy 1 lạy 4 gật giống như mục 39)

47. Sớ văn thượng tấu. (Sớ văn tâu lên)

Hai Lễ sĩ đăng đi lên nội nghi, bước thường, không điện.

48. Quì.

Hai vị tiếp lễ, 1 vị cầm dĩa đựng sớ văn, 1 vị cầm cái thố (hay cái bình) để đựng tro lúc đốt sớ, quì phía trên cặp Lễ sĩ đăng. Một vị có phận sự đọc sớ lên quì gần CSCĐ.

CSCĐ cầm sớ xá 3 xá, cầu nguyện, rồi rút tờ sớ ra trao cho người đọc sớ, còn vị CSCĐ hai tay cầm bao sớ cung kính nâng lên ngang trán và giữ tư thế nầy trong suốt thời gian đọc sớ.

49. Thành độc sớ văn. (Thành kính đọc bài văn sớ)

Vị đọc sớ, cao giọng đọc to lên, đến danh hiệu của các Đấng thì dừng lại một chút để khắc chuông cúi đầu kỉnh lễ.

Bài văn sớ cúng Vía Đức Lý Đại Tiên chép ra như sau:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Thất thập . . . niên)

Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, bát ngoạt, thập bát nhựt, ngọ thời, hiện tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . . Châu, . . . . . Tộc, . . . . . Hương, cư trụ Thánh Thất chi trung.

Kim đệ tử . . . (phẩm tước và Thánh danh của vị Chức sắc chứng đàn). . . công đồng chư Chức sắc hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng quì tại điện tiền, thành tâm trình tấu.

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI:

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO:

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,

Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,

Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM:

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,

Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,

Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,

Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì, tiết chí Trung Thu kiết nhựt lương thần, chánh thị Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm Thánh đán, chư Thiên phong nghiêm thiết đàn tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng nguyện Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm đạt đắc trí dõng thiên tài, thảo hích man thơ, thanh danh quán thế, phụng thừa Thiên mạng, bảo thủ Đại Đạo chơn truyền, phò trì chư đệ tử đào luyện trí thức tinh thần, thật hành chánh giáo, phổ hóa nhơn sanh hiệp hòa chủng tộc, giải cứu chiến tranh khổ nạn, vãn hồi trật tự an ninh, cộng hưởng thạnh trị thái bình, thanh nhàn hạnh phước.

Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu

Dĩ văn.

Đệ tử: (phẩm tước và Thánh danh của Chức sắc chứng đàn)

 

50. Cung phần Sớ văn. (Cung kính đốt sớ)

Vị CSCĐ đặt lá sớ vào bao sớ, cầm bao sớ xá 3 xá, hai Lễ sĩ đăng dụm hai ngọn đèn lại cho Chức sắc đốt sớ, thấy cháy được phân nửa thì bỏ vào thố, vị tiếp lễ đem thố đặt lên bàn thờ, hai Lễ sĩ quay trở về ngoại nghi, vị đọc sớ trở về chỗ cũ.

51. Cúc cung bái.

Mục nầy là lạy và niệm danh hiệu của Đấng ghi trong lòng sớ, chỗ Ngưỡng vọng hay Ngưỡng nguyện:

- Trong đàn nầy, Vía Đức Lý Thái Bạch: Ngưỡng nguyện Lý Đại Tiên Trưởng, nên chúng ta lạy Đức Lý 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ.

- Nếu lòng sớ ghi là: Ngưỡng vọng Vô Trung Từ Phụ, chúng ta lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú Thầy.

- Nếu lòng sớ ghi là: Ngưỡng nguyện Đức Thích Ca Mâu Ni, chúng ta lạy Đức Phật Thích Ca 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. v.v...

52. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện.

Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện, giọng Nam xuân.

53. Cúc cung bái. (Lạy Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)

54. Hưng bình thân. (Cất mình đứng lên)

Khắc chuông. Mọi người đứng dậy, xá sâu xuống 3 xá, quay trở ra xá chữ KHÍ sau bàn thờ Đức Hộ Pháp 1 xá.

55. Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.

(Cung kính, thứ tự, phân ra đứng thành hai ban)

Tất cả Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu trong đàn, lui ra 2 bên, nam tả nữ hữu, đứng trật tự thành hai ban nam nữ như lúc nhập đàn.

56. Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập nội nghi.

Chức sắc HTĐ đi vào nội nghi, xá 3 xá, quì, thỉnh Thánh, cầu nguyện, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy, quay trở ra xá chữ KHÍ 1 xá, xong đi trở về vị trí cũ.

Các Ban: Đồng nhi, Lễ sĩ, lễ vụ, kiểm đàn, lần lượt vào chánh điện lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm câu chú Thầy.

Những người hầu đàn tiếp tục vào lạy Đức Chí Tôn.

Ban Nhạc quì ngay trên lầu HTĐ lạy Đức Chí Tôn sau chót.

Đến đây, xem chừng có Chức sắc thuyết đạo không?

Nếu có thì giữ im lặng nghe thuyết đạo.

Xong thì dộng chuông bãi đàn: Người hầu chuông nơi Bạch Ngọc Chung Đài dộng trước 3 tiếng chuông, rồi kệ bài Kệ chuông bãi đàn, kệ xong 1 câu thì dộng 1 tiếng chuông lớn.

Bài kệ chuông bãi đàn có 3 câu:

Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên,

vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận. ↓

Thiên phong hải chúng, quốc thái dân an,

hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.

Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Tiếng chuông kệ bãi đàn vừa dứt, cặp lễ sĩ xướng:

57. Lễ thành. (cuộc lễ cúng tế đã xong)

Nhạc đánh thét rồi dứt. Mọi người xá đàn 1 xá.

Chức sắc từ bên trong đi ra trước, đi hàng một, đi ra cũng trật tự như khi đi vào nhập đàn.

Khi ra khỏi chánh điện thì mới được xả ấn Tý.

Đại Đàn tại Thánh Thất có tất cả 57 Nghi tiết.

 

Viết tắt:

CSCĐ: Chức sắc chứng đàn (quì tại Nội nghi).
CVNN: Chức việc quì Ngoại nghi.
LSĐĐ: Hai cặp Lễ Sĩ Đăng Đài (2 Lễ sĩ cầm đèn, 2 Lễ sĩ cầm đài)

II. Nghi tiết cúng Tiểu Đàn tại Thánh Thất:

Tiểu Đàn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa.

Các nghi tiết Tiểu đàn đơn giản hơn nhiều so với Đại Đàn, vì không lập ngoại nghi, không Chức việc quì ngoại nghi, Lễ sĩ không điện, Nhạc Tấu Quân Thiên đờn 3 bài.

Do đó, trong Nghi tiết Tiểu đàn, bãi bỏ các mục:

- Điện hương, - Chỉnh Tiên hoa,

- Chước tửu, - Điểm trà.

Tiểu đàn, bỏ bớt 8 mục, còn lại: 49 mục.

Nghi tiết Tiểu đàn tại Thánh Thất:

1. Tịnh túc thị lập.

2. Chấp sự giả các tư kỳ sự.

3. Lôi Âm Cổ khởi.

4. Bạch Ngọc Chung minh.

5. Cung thành thứ tự Chức sắc nhập đàn.

6. Nội nghi tựu vị.

7. Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị.

8. Nhạc Tấu Quân Thiên. (Nhạc tiếp giá rồi đờn 3 bài)

9. Nghệ hương án tiền. (4 Lễ sĩ đăng đài, một bên có bó hương 5 cây, một bên có lư trầm, bưng đi vào nội nghi, đi thường, không điện, đứng hai bên CSCĐ, quay mặt vào giữa).

10. Giai quì. (Tất cả mọi người trong đàn đều quì xuống, trống đổ cho 4 lễ sĩ đăng đài quì, lễ sĩ trao bó hương cho CSCĐ và trao lư trầm cho vị Chức sắc nữ phái quì kế bên).

11. Phần hương.

12. Thành kính tụng Niệm Hương chú.

13. Thượng hương. (Trong lúc 2 tiếp lễ đem bó hương và lư trầm lên bàn thờ thì trống đổ cho 4 lễ sĩ đứng lên, trở bộ đi trở xuống).

14. Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn)

15. Thành kính tụng Khai Kinh chú.

16. Thành kính tụng Ngọc Hoàng Kinh.

17. Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)

18. Thành kính tụng Phật giáo Tâm kinh.

19. Cúc cung bái. (Lạy Đức Nhiên Đăng Cổ Phật)

20. Thành kính tụng Tiên giáo Tâm kinh.

21. Cúc cung bái. (Lạy Đức Thái Thượng Đạo Tổ)

22. Thành kính tụng Thánh giáo Tâm kinh.

23. Cúc cung bái. (Lạy Đức Khổng Thánh).

24. Cung hiến Tiên hoa. (4 lễ sĩ đăng đài bưng bình hoa và dĩa quả đi lên nội nghi, đi thường, không điện, vào đứng 2 bên CSCĐ, day vào giữa)

25. Quì. (4 lễ sĩ đăng đài quì xuống, trao bình hoa cho CSCĐ, và trao dĩa quả cho vị Chức sắc nữ quì kế bên).

26. Điện Tiên hoa. (CSCĐ hai tay cầm bình hoa xá 3 xá, đưa lên trán cầu nguyện Dâng Hoa, mọi người trong đàn cùng cầu nguyện Dâng Hoa, rồi CSCĐ cung kính nângbình hoa lên ngang trán trong lúc đồng nhi thài bài Dâng Hoa)

27 Thượng Tiên hoa. (CSCĐ cầm bình hoa xá 3 xá, rồi trao cho 2 tiếp lễ đem hoa và quả lên đặt trên bàn thờ, trống đổ, 4 lễ sĩ đứng dậy, trở bộ quay lại, đi xuống).

28. Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)

29. Cung hiến Tiên tửu. (Giống như mục 24, nhưng dâng ly rượu và nhạo rượu)

30. Quì.

31. Điện Tiên tửu. (Giống mục 26)

32. Thượng Tiên tửu.

33. Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)

34. Cung hiến Tiên trà. (Giống như mục 24, nhưng dâng tách trà và bình trà)

35. Quì.

36. Điện Tiên trà.

37. Thượng Tiên trà.

38. Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)

39. Sớ văn thượng tấu.

40. Quì.

41. Thành độc Sớ văn.

42. Cung phần Sớ văn.

43. Cúc cung bái. (Sau khi đốt sớ thì lạy và niệm danh Đấng ghi trong lòng sớ, chỗ Ngưỡng nguyện, hay Ngưỡng vọng: Thí dụ như:

- Ngưỡng vọng Vô Trung Từ Phụ: chúng ta lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.

- Ngưỡng nguyện Đức Hộ Pháp: chúng ta lạy Đức Hộ Pháp 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn. v.v...

44. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện.

45. Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)

46. Hưng bình thân.

47. Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.

48. Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập nội nghi.

49. Lễ thành.

Tiểu đàn cúng tại Thánh Thất có tất cả 49 Nghi tiết.

III. Nghi tiết cúng Tứ Thời tại Thánh Thất:

Tại Thánh Thất, cúng Tứ Thời vào 4 thời điểm: Tý (0 giờ), Ngọ (12 giờ), Mẹo (6 giờ) và Dậu (18 giờ).

Cúng Tứ thời tại Thánh Thất có nghi tiết giống y như cúng Tứ thời tại tư gia, chỉ khác là lúc khởi đầu thời cúng có dộng chuông và kệ chuông I - II, và lúc sau cùng có kệ chuông và dộng chuông bãi đàn.

Diễn tiến: Đúng giờ cúng, trên Bạch Ngọc Chung Đài, vị Chức việc khởi dộng chuông nhứt.

Trước hết dộng 3 tiếng chuông, kệ 3 câu, mỗi câu dộng 1 tiếng chuông. Bài kệ chuông nhứt:

Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.

Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Khi hết chuông nhứt, các Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ tham dự cúng Tứ thời đi vào chánh điện, sắp hàng hai bên, nam nữ đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý, chờ nghe chuông nhì.

Kệ chuông nhì, dứt mỗi câu thì dộng 1 tiếng:

Nhứt vi u ám tất giai văn. ↓

Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Người hầu chuông nơi chánh điện gõ 3 tiếng chuông, hai bên xá đàn 1 xá, bước vào trong, nhìn lên Thiên bàn, gõ chuông 3 lần, xá 3 xá, quì xuống.

Gõ chuông lấy dấu Phật Pháp Tăng, thỉnh Thánh ...

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

(giống y như khi cúng Tứ thời tại tư gia)

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Khi đến phần Dâng Tam bửu, tùy theo thời mà thài.

- Cúng khuya và trưa: thài bài Dâng Rượu.

- Cúng sáng và chiều: thài bài Dâng Trà.

- Khi cúng có Dâng sớ (sớ tân cố, sớ tuần cửu, sớ tiểu tường, đại tường, v.v...): thài đủ 3 bài: Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà.

Dù thài dâng 1 bửu hay thài dâng đủ 3 bửu, chúng ta cũng cứ cầu nguyện dâng đủ Tam bửu lên Đức Chí Tôn vì đây là Bí pháp giải thoát chúng ta khỏi luân hồi:

"Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,

Nam mô Tam Tông Chơn Giáo,

Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,

Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.

Cầu xin các Đấng thiêng liêng chứng minh."

Tụng Ngũ Nguyện, lạy xong đứng dậy, xá 3 xá, quay ra xá chữ Khí 1 xá, lui ra hai bên, chờ kệ chuông bãi đàn.

Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên . . . . .

Dứt kệ chuông bãi đàn, hai bên xá đàn 1 xá, bắt đầu đi ra, trong đi ra trước, lần lần tới ngoài. Hết.

IV. Nghi tiết cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ tại Thánh Thất:

1. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại Thánh Thất:

Đây là bàn thờ Ông Bà Chung cho các tín đồ cư ngụ trong một Tộc Đạo.

Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ được thiết lập nơi nhà hậu của Thánh Thất hoặc hậu điện Điện Thờ Phật Mẫu.

Cách sắp đặt trên bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại hậu điện Thánh Thất hay Điện Thờ nên theo mẫu thống nhứt là bàn thờ Phước Lộc Thọ nơi hậu điện Báo Ân Từ.

Mẫu nầy đã được trình bày nơi Chương 4 mục VII.

2. Nghi tiết cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ:

Vào ba ngày rằm lớn, tại Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu đều có tổ chức cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ, có một cặp lễ xướng, hai người tiếp lễ, ban nhạc và đồng nhi.

Các nghi tiết cúng tế giống y như nghi tiết CÁO TỪ TỔ trong Tang lễ.

Nghi châm chước cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ:

Cặp lễ bắt đầu xướng:

1. Tử tôn tựu vị. (con cháu tới đứng tại vị trí của mình)

Người chủ tế đứng hàng đầu, tay bắt ấn Tý.

Tất cả những người quì tế phải mặc áo dài trắng quần trắng, nam đội khăn đóng đen, nữ để đầu trần.

2. Giai quì. (đều quì xuống). Tất cả xá 3 xá, quì xuống.

3. Phần hương. (đốt nhang)

Tiếp lễ đốt 3 cây hương, trao cho người chủ tế.

4. Nguyện hương. (cầm nhang cầu nguyện)

Chủ tế cầm 3 cây hương đưa lên trán cầu nguyện.

5. Thượng hương. (dâng hương cắm vào lư nơi bàn thờ)

Người tiếp lễ tiếp 3 cây hương đem cắm vào lư hương.

6. Cúc cung bái. (cúi mình lạy xuống)

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

7. Chước tửu. (rót rượu)

Người tiếp lễ lấy nhạo rót rượu vào ly rượu trên bàn thờ.

8. Cúc cung bái.

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

9. Ai chúc. (đọc kinh tế lễ với giọng Nam ai)

Đồng nhi tụng Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu, rồi tụng tiếp ba biến Kinh Cứu Khổ. Chỗ cứu hộ đệ tử thì tụng là: cứu hộ Cửu Huyền Thất Tổ thoát ly khổ nạn... ...

10. Cúc cung bái.

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

11. Điểm trà. (rót nước trà)

Người phụ lễ rót nước trà vào tách nước trà trên bàn thờ.

12. Cúc cung bái.

Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.

13. Hưng bình thân. (cất mình đứng thẳng lên)

Tất cả những người quì tế đứng dậy, xá 3 xá.

14. Tử tôn dĩ hạ giai xuất. (Tất cả con cháu từ đó sắp xuống đều bước ra ngoài).

15. Lễ thành. (Cuộc tế lễ đã xong).

V. Giải thích các chi tiết:

1*. Nhạc tấu Quân Thiên: 樂奏鈞天

Quân là cái bàn xoay của người thợ nặn đồ gốm. Quân Thiên là chỉ Đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế.

Nhạc tấu Quân Thiên là những khúc nhạc tấu lên để hiến lễ Đức Chí Tôn.

Điển tích: Quân Thiên Nhạc.

Theo Sử Ký, Triệu Giản Tư mắc bệnh, năm ngày liền không nhận ra người thân. Biển Thước đến thăm bịnh, coi mạch xong, Đổng An Vu hỏi, Biển Thước trả lời:

- Không có gì lạ cả, trước kia Tần Mục Công cũng bị bệnh như thế, 7 ngày sau mới tỉnh.

Trong lúc bị bệnh như thế, Triệu Giản Tư thấy mình đi lên chơi chốn Thiên đình, nghe tấu một điệu nhạc rất hay, xúc động cả tâm can, gọi là Quân Thiên Nhạc.

Hai ngày rưỡi sau, Triệu Giản Tư tỉnh lại, nói với một quan Đại Phu rằng: - Dữ bách Thần du ư Quân Thiên, quảng nhạc cửu tấu vạn vũ, bất loại tam đại chi nhạc, kỳ thanh động nhân tâm. Nghĩa là: Cùng trăm Thần ruổi chơi nơi Quân Thiên, quảng nhạc tấu 9 khúc, vạn điệu múa, không khúc nào giống khúc nào thời tam đại, tiếng nhạc làm xúc động lòng người.

Lâu nay, chúng ta thường viết NHẠC TẤU HUÂN THIÊN, nên sửa lại viết là Quân Thiên mới đúng chánh tả.

Có 3 trường hợp Nhạc tấu Quân Thiên (NTQT):

1. Cúng Tiểu đàn: NTQT chỉ đờn 3 bài:

- Ngũ đối hạ. - Long đăng. - Tiểu khúc.

2. Cúng Đại Đàn 3 Đấng Giáo chủ Tam giáo, Tam Trấn Oai Nghiêm và Đức Chúa Jésus: NTQT đờn 5 bài:

- Xàng xê. - Ngũ đối thượng.

- Ngũ đối hạ. - Long đăng. - Tiểu khúc.

3. Cúng Đại Đàn Vía Đức Chí Tôn (mùng 9 tháng giêng), và 3 ngày rằm lớn của Tam nguơn:

Nhạc tấu Quân Thiên đờn 7 bài, ý nghĩa như sau:

1. Xàng xê: nghĩa là đưa qua trộn lại, không ở một chỗ, ấy là Hỗn độn sơ khai (khi nổ ra một tiếng).

2. Ngũ đối thượng: nghĩa là 5 từng trên, trên trời có Ngũ Khí, ấy là khí thanh nổi lên làm trời.

3. Ngũ đối hạ: nghĩa là 5 từng dưới, đó là Ngũ Hành, ấy là trược khí hạ xuống làm đất.

4. Long đăng: nghĩa là rồng lên, ấy là Dương.

5. Long ngâm: nghĩa là rồng xuống, ấy là Âm.

6. Vạn giá: nghĩa là muôn việc đã định rồi, ấy là muôn loài vật đều có tên.

7. Tiểu khúc: nghĩa là sự nhỏ, ngắn, ấy là sự nhỏ ngắn đều có định luật và có tên.

Khi Nhạc tấu Quân Thiên thì Bát hồn vận chuyển dâng sự sống lên Đức Chí Tôn, nên chúng ta phải xem trọng giờ phút ấy, giữ mình cẩn thận, phải đứng im lặng, nghiêm trang, không được nói chuyện hay đi tới lui, hoặc cử động như đập muỗi, gãi chỗ ngứa,... giữ tư tưởng trong sạch tưởng niệm Đức Chí Tôn.

Tại các Thánh Thất địa phương thường thiếu nhạc sĩ, nên không có khả năng đờn đủ 5 bài hay 7 bài theo như nghi lễ qui định, lúc đó chỉ đờn 3 bài (Ngũ đối hạ, Long đăng, Tiểu khúc); nếu như không đờn được 3 bài nầy thì chỉ đờn 1 bài Ngũ đối hạ, mà đờn 3 hiệp.

2*. Giải nghĩa các bài Kệ trống và chuông:

- Lôi Âm Cổ Đài: cái đài có đặt trống Lôi Âm, thường gọi là Lầu trống. Lôi là sấm, âm là tiếng, cổ là cái trống. Lôi âm cổ là cái trống phát ra tiếng lớn như tiếng sấm.

- Bạch Ngọc Chung Đài: cái đài có đặt chuông Bạch Ngọc, thường gọi là Lầu chuông.

1. Kệ trống:

C.1: Lôi Âm thánh cổ triệt hư không.

Tiếng trống Lôi Âm thiêng liêng thấu suốt tới cõi Hư không.

C.2: Truyền tấu càn khôn thế giới thông.

Tiếng trống truyền đi để tỏ bày cho cả càn khôn thế giới rõ.

C.3: Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.

Giáo lý của Đạo Cao Đài hiện nay nêu cao cho mọi người biết, đây là một nền tôn giáo chơn chánh.

C.4: Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.

Ánh sáng thiêng liêng chiếu sáng rực rỡ tòa Bạch Ngọc Kinh.

2. Kệ chuông Đại đàn và Tiểu đàn:

C.1: Thần chung thinh hướng phóng Phong đô.

Tiếng chuông thiêng liêng phát ra hướng đến cõi Phong đô.

C.2: Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

Đức Địa Tạng Bồ Tát mở cửa phóng thích, tha các tội hồn.

C.3: Tam kỳ vận chuyển kim quang hiện.

ĐĐTKPĐ vận chuyển làm hiện ra một dải ánh sáng vàng.

C.4: Sám hối âm hồn xuất u đồ.

Các chơn hồn nơi cõi Phong đô sám hối tội tình thì đi ra khỏi nơi tối tăm ấy bằng con đường là dải kim quang nói trên.

3. Kệ chuông bãi đàn:

C.1: Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên,

vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.

Đàn cúng tế đã đầy đủ và trọn vẹn, Chức sắc trở lại chỗ cũ,

lâu dài gội nhuần ơn huệ của Chí Tôn, gió hòa mưa thuận.

C.2: Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an,

hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.

Trời ban cho dân chúng, nước thạnh dân yên,

hồi hướng công đức nơi đàn cúng tế, thâu hết pháp giới.

C.3: Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Câu mật chú bằng tiếng Phạn, có ý nghĩa: Cầu nguyện chúng sanh được tiêu tai tăng phước, đắc thành Phật đạo, chư Phật chứng minh.

4. Kệ chuông nhứt:

C.1: Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.

Nghe tiếng chuông, cúi mình xuống hướng đến cái trí huệ lớn của Trời Đất.

C.2: Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

Nhơn sanh nơi các cõi trần cùng lên bờ giải thoát.

C.3: Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

5. Kệ chuông nhì:

C.1: Nhứt vi u ám tất giai văn.

Tất cả trong phạm vi cõi Phong đô ắt hẳn đều nghe biết.

C.2: Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

Tất cả chúng sanh đều thành bậc chánh giác (Phật).

C.3: Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

3*. Giải nghĩa lòng sớ (Vía Đức Lý Thái Bạch).

Nay vì đến tiết Trung Thu, ngày lành giờ tốt, chính là ngày Thánh đản (ngày sanh) của Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm của ĐĐTKPĐ.

Các Chức sắc Thiên phong nghiêm chỉnh thiết lập đại đàn cúng tế gồm nhang, đèn, bông, trà, trái cây, rượu tinh khiết làm thành nghi thức thành tâm dâng lễ.

Ngưỡng nguyện Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm, đạt được trí dũng thiên tài, viết bài văn hồi đáp vua Phiên*, tiếng tăm tốt đứng trên cả một đời, vâng theo mạng lịnh của Đức Chí Tôn, bảo thủ chơn truyền Đại Đạo, phò hộ gìn giữ các đệ tử, đào tạo và rèn luyện trí thức tinh thần cho tài giỏi, thực hành chánh giáo, phổ độ và giáo hóa nhơn sanh hiệp hòa chủng tộc, cởi bỏ và cứu giúp các khổ nạn của chiến tranh, vãn hồi an ninh trật tự, cho dân chung hưởng cảnh thái bình thạnh trị, an nhàn hạnh phúc.

(* Thảo: viết ra. Hích: hịch, bài văn để lên án hay để kêu gọi. Man: mọi rợ, chỉ nước Bắc phiên. Thơ: thư, văn thư.)

 


 

Chương 7:
 

Nghi tiết cúng đàn tại
ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU

 

I. Tại sao chúng ta thờ Đức Phật Mẫu?

Theo vũ trụ quan của Đạo Cao Đài, thuở đầu tiên của càn khôn vũ trụ, trong khoảng không gian bao la, chỉ có một chất khí hỗn độn gọi là Khí Hư Vô (Hư Vô chi Khí), chuyển động quay cuồng, phát nổ ra một tiếng lớn (big bang), sanh ra một Đấng gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế, trọn lành trọn tốt, ngôi của Ngài là Thái cực.

Đấng Thượng Đế phân Thái cực ra Lưỡng nghi: Âm quang và Dương quang. Đấng Thượng Đế chưởng quản Dương quang, còn Âm quang chưa có người chưởng quản. Thượng Đế tự hóa thân ra Đức Phật Mẫu để chưởng quản khí Âm quang. Từ đây mới bắt đầu có Ngôi Âm.

Đức Phật Mẫu cho hai Khí Âm quang và Dương quang phối hợp với nhau để tạo ra càn khôn vũ trụ và vạn vật. Trong vạn vật có chúng sanh. Trong chúng sanh, loài người khôn ngoan và linh thiêng liêng hơn hết vì Thượng Đế ban cho mỗi người một điểm linh hồn.

Nói riêng về con người, mỗi người chúng ta có Tam thể xác thân:

- Xác thân phàm: do cha mẹ phàm trần sanh ra và được nuôi dưỡng bằng thực phẩm vật chất phàm trần.

- Xác thân thiêng liêng, thường gọi là chơn thần, do Đức Phật Mẫu dùng hai nguyên khí nơi Diêu Trì Cung tạo ra, được Đức Phật Mẫu nuôi dưỡng bằng khí Sanh quang do Thái cực phát ra.

- Linh hồn hay chơn linh là một điểm linh quang của Thượng Đế lấy ra từ khối Đại linh quang của Ngài để ban cho mỗi người, tạo ra sự sống và sự suy nghĩ hiểu biết.

Do đó, Thượng Đế là Cha của chơn linh, Đức Phật Mẫu là Mẹ của chơn thần, còn thể xác thì có cha mẹ phàm trần. Chúng ta phải thờ, trước hết là cha mẹ thể xác, kế đó là phải thờ hai Đấng Cha Mẹ thiêng liêng: Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

Thờ Đức Chí Tôn, thờ Đức Phật Mẫu, thờ cha mẹ phàm trần là để chúng ta luôn luôn nhớ tưởng đến công ơn sanh thành và dưỡng dục của các Đấng ấy.

II. Hai kiểu thờ tại Điện Thờ Phật Mẫu:

Tại địa phương, ngôi nhà thờ Đức Chí Tôn được gọi là Thánh Thất, ngôi nhà thờ Đức Phật Mẫu gọi là Điện Thờ Phật Mẫu (ĐTPM). Tại Thánh địa Tây Ninh, Hội Thánh chưa xây cất Đền Thờ Phật Mẫu Trung Ương, nên tạm thời thờ Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ.

1. Kiểu thứ nhứt (thờ giống như ở Báo Ân Từ):

ĐTPM thường cất có 3 gian:

- Gian chính giữa thờ: Diêu Trì Kim Mẫu (Đức Phật Mẫu), Cửu Vị Tiên Nương và Bạch Vân Động Chư Thánh.

- Gian bên tả thờ: Chư Chơn Linh Nam Phái.

- Gian bên hữu thờ: Chư Chơn Linh Nữ Phái.

Các long vị đều được viết bằng chữ Nho đại tự.

     




     




 







     




     
1. Kiểu thứ nhứt (thờ giống như nơi Báo Ân Từ)
     



     
 


 
     




     
2. Kiểu thứ nhì (thờ giống như ở ĐTPM Trí giác Cung)

Khi nào Hội Thánh xây dựng được Đền Thờ Phật Mẫu Trung Ương thì mới có thể thống nhứt nghi lễ thờ Đức Phật Mẫu.

2. Kiểu thứ nhì (thờ giống ĐTPM Trí Giác Cung):

ĐTPM nơi Trí Giác Cung (Trường Qui Thiện cũ) không thờ Chư Chơn Linh Nam Phái và Nữ Phái, chỉ thờ Đức Phật Mẫu, Cửu vị Nữ Phật, Bạch Vân Động Chư Thánh.

- Gian giữa thờ: Diêu Trì Kim Mẫu (Đức Phật Mẫu)

- Gian hữu thờ: Cửu Vị Nữ Phật (Cửu Vị Tiên Nương).

- Gian tả thờ: Bạch Vân Động Chư Thánh.

III. Nghi tiết cúng đàn tại ĐTPM:

Đại Đàn cúng Đức Chí Tôn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa. Do đó, đàn cúng Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu địa phương phải dời lại cúng lúc 6 giờ chiều, tức là 18 giờ, nhằm giờ Dậu.

Cúng Đức Phật Mẫu tại ĐTPM chỉ có một nghi tiết, không phân ra Đại đàn hay Tiểu đàn, nhưng vì Lễ sĩ đều điện lễ khi Dâng hương hay Dâng Tam bửu, từ Ngoại nghi đến Nội nghi, nên nghi tiết cúng đàn Đức Phật Mẫu có phần giống Đại đàn cúng Đức Chí Tôn tại Thánh Thất.

Nhưng khi cúng đàn Đức Phật Mẫu, về Nhạc Tấu Quân Thiên (NTQT), phân ra hai trường hợp: đờn 3 bài và đờn 5 bài.

* NTQT đờn 5 bài: Vía Đức Phật Mẫu ngày 15 tháng 8, ba ngày rằm lớn của ba nguơn: 15 tháng giêng, 15 tháng 7 và 15 tháng 10.

* NTQT đờn 3 bài: các ngày sóc vọng thường lệ.

Trường hợp NTQT đờn đủ 5 bài chỉ có nơi Báo Ân Từ, còn các ĐTPM địa phương vì Ban nhạc thiếu nhạc sĩ nên chỉ đờn 3 bài.

Khi cúng đàn Đức Phật Mẫu, tất cả Chức sắc đều không mặc áo mão Chức sắc, chỉ mặc áo dài chẹt trắng y như các Đạo hữu mà thôi, bởi vì tất cả đều là con của Đức Phật Mẫu, không phân biệt phẩm tước.

Trong đàn cúng Đức Phật Mẫu, mọi người đều mặc đạo phục như nhau, thể hiện một sự bình đẳng rõ rệt giữa con cái của Phật Mẫu. Nơi đây chỉ có tình MẸ CON, và tình anh chị em với nhau mà thôi.

Đặc biệt chỉ có 6 Lễ sĩ mặc áo rộng màu vàng, đội mão trắng, mang giày bố trắng, phân ra 3 cặp: 1 cặp lễ xướng đứng hai bên Ngoại nghi, 1 cặp đăng và 1 cặp đài.

Gần tới 6 giờ chiều, các ban bộ có phận sự trong đàn cúng đi vào trước để chuẩn bị các việc, còn các nam nữ tín đồ thì sắp hàng đứng phía trước Điện Thờ.

Đúng 6 giờ chiều, nơi lầu chuông, vị chấp sự khởi kệ chuông nhứt: đầu tiên dộng 3 tiếng chuông, kệ 3 câu, dứt mỗi câu kệ thì dộng 1 tiếng chuông.

Bài kệ chuông nhứt giống y như kệ chuông cúng Tứ Thời: "Văn chung khấu hướng... ... ..."

Xong kệ chuông nhứt, Lễ sĩ khởi xướng:

1. Tịnh túc thị lập. (Đều nghiêm trang đứng hầu)

2. Chấp sự giả các tư kỳ sự. (Người được phân công phần việc nào thì đến giữ phần việc ấy)

Kế tiếp kệ chuông nhì.

Người chấp sự trên lầu chuông dộng 3 tiếng trước khi kệ, rồi kệ xong một câu thì dộng 1 tiếng chuông.

Bài kệ chuông nhì: "Nhứt vi u ám... ... ..."

Cặp Lễ Xướng tiếp:

3. Cung thành thứ tự nam nữ nhập đàn.

Tất cả các tín đồ nam nữ đi vào đàn cúng, tay bắt ấn Tý, đứng day ngang. Người hầu chuông nơi nội nghi gõ 1 tiếng chuông, mọi người xá đàn 1 xá, bước vào chánh điện, quay người hướng lên bàn thờ, đứng im lặng nghiêm trang.

4. Nhạc tấu Quân Thiên.

Nhạc khởi đánh trống Tiếp Giá, rồi bắt qua đờn 3 bài như đã nói ở trên.

5. Nghệ hương án tiền.

(Bước tới đứng trước bàn hương)

Hai cặp Lễ sĩ đăng đài (LSĐĐ) đến đứng trước và hai bên Chức việc quì ngoại nghi (CVNN). Hai Lễ sĩ đài, một bên có một bó nhang 3 cây cột lại chưa đốt, một bên có lư trầm. Nếu không có trầm thì dùng nhang thơm cắt ra bó lại thành bó lớn đăït vào lư.

6. Giai quì. (Tất cả đều quì xuống)

Vị hầu chuông lần lượt khắc 3 tiếng, tất cả nam nữ đồng xá 3 xá rồi quì xuống.

7. Phần hương. (đốt nhang)

Vị quì ngoại nghi cầm bó nhang 3 cây, đốt nhang và đốt lư trầm xá 3 xá rồi trao cho cặp Lễ sĩ đài. Nhạc đánh thét cho 4 Lễ sĩ đứng dậy, lui ra, quay mặt vào chánh điện, chuẩn bị điện hương.

8. Điện hương.

LSĐĐ theo tiếng trống nhạc, điện dâng hương và dâng lư trầm từ ngoại nghi vào nội nghi.

9. Quì. LSĐĐ quì phía trước vị CSCĐ.

Lễ sĩ trao bó hương cho vị chứng đàn và lư trầm cho vị quì kế bên. Hầu chuông lần lượt khắc 3 tiếng, CSCĐ hai tay cầm bó hương cùng với mọi người xá 3 xá, vừa xá vừa niệm 3 lần:

- Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

- Nam mô Cửu Vị Tiên Nương.

- Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh.

10. Thành kính tụng Niệm hương chú.

Đồng nhi tụng kinh Niệm Hương, giọng Nam ai. CSCĐ hai tay cầm bó hương kính cẩn nâng lên ngang trán và giữ như thế trong suốt thời gian đồng nhi tụng kinh Niệm Hương. Vị quì kế bên CSCĐ cũng nâng lư trầm lên ngang trán giống như CSCĐ.

11. Thượng hương. (Đem hương lên cắm vào lư hương)

CSCĐ cầm bó hương và vị quì kế bên cầm lư trầm, đồng xá 3 xá rồi trao cho hai vị tiếp lễ, một đem bó hương lên cắm vào lư hương trên bàn thờ, một cầm lư trầm lên đặt trên bàn thờ. Bốn Lễ sĩ đăng đài lui ra, trở bộ quay trở về ngoại nghi.

12. Cúc cung bái. (Cúi mình lạy xuống)

Nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy Đức Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

13. Thành kính tụng Khai Kinh chú.

Đồng nhi tụng bài Khai Kinh, giọng Nam ai.

Dứt bài kinh thì cúi đầu, không xá, không lạy.

14. Thành kính tụng Phật Mẫu Chơn Kinh.

Nhạc gài trống đờn Nam xuân, đồng nhi tụng bài Phật

Mẫu Chơn Kinh, giọng Nam xuân.

15. Cúc cung bái. (giống như mục số 12)

16. Cung hiến Tiên hoa. (Kính cẩn dâng hoa quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một bình hoa nhỏ đủ 5 sắc hoa tươi, một bên có 1 trái cây, rồi 4 Lễ sĩ đăng đài đồng đến đứng trước vị quì ngoại nghi, day mặt vào nhau.

17. Quì. Bốn Lễ sĩ đăng đài quì xuống.

18. Chỉnh Tiên hoa. (Sửa sang hoa quí)

Vị quì ngoại nghi chỉnh sửa hoa và quả cho ngay ngắn, cầm bình hoa và dĩa quả xá xuống 3 xá, rồi trao cho hai Lễ sĩ đài.

Nhạc đổ 3 hồi, 4 Lễ sĩ đứng dậy, lui ra hai bên, quay mặt hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện dâng hoa và quả.

19. Điện Tiên hoa. (Lễ sĩ điện dâng Hoa quí)

Lễ sĩ điện dâng hoa giống y như lúc Điện Hương. Trong lúc Lễ sĩ điện thì đồng nhi thài bài Dâng Hoa theo giọng Đảo Ngũ Cung. Khi thài tới chữ Thượng Đế thì đổi lại là: Phật Mẫu.

Cúi mong Phật Mẫu rưới ân Thiên.

Khi dứt thài, Lễ điện vừa tới nội nghi, day mặt vào giữa.

20. Quì. LSĐĐ và 2 tiếp lễ đều quì xuống trước CSCĐ.

CSCĐ tiếp lấy bình hoa, vị quì kế bên tiếp lấy dĩa trái cây, đồng xá 3 xá, rồi đưa lên trán cầu nguyện, có điểm chuông, đồng thời tất cả mọi người trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Hoa: "Con xin dâng hình hài của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng."

21. Thượng Tiên hoa. (Đem hoa quí đặt lên bàn thờ)

Cầu nguyện Dâng Hoa xong thì đưa bình hoa và dĩa trái cây cho hai vị tiếp lễ đem đặt lên bàn thờ. Nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.

22. Cúc cung bái.

Tất cả trong đàn cúng đều lạy Phật Mẫu giống như mục 12. Lưu ý: Dâng mỗi bửu đều lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm danh hiệu Phật Mẫu: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

23. Cung hiến Tiên tửu. (Cung kính dâng rượu quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một ly nhỏ để đựng rượu, một bên có một cái nhạo rượu trắng tinh khiết, rồi 4 Lễ sĩ đăng đài đồng đến đứng trước vị quì ngoại nghi, day mặt vào nhau.

24. Quì. LSĐĐ quì xuống trước vị CVNN.

25. Chước tửu. (Rót rượu)

Vị CVNN cầm nhạo lên rót rượu vào ly, rồi hai tay cầm ly rượu xá 3 xá, trao lại cho Lễ sĩ đài. LSĐĐ đồng đứng dậy, lui ra, quay người hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện dâng rượu.

26. Điện Tiên tửu. (Lễ sĩ điện dâng rượu quí )

Công việc giống y như Điện Tiên Hoa.

Đồng nhi thài bài Dâng Rượu, Lễ sĩ điện lên nội nghi.

27. Quì. LSĐĐ và 2 tiếp lễ đồng quì xuống trước CSCĐ.

Vị chứng đàn tiếp ly rượu, vị quì kế bên tiếp nhạo rượu, cầm lên xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Rượu: "Con xin dâng chơn thần của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng."

28. Thượng Tiên tửu. (Đem rượu lên đặt trên bàn thờ)

Cầu nguyện xong, xá 3 xá, rồi trao ly rượu và bình rượu cho hai vị tiếp lễ đem đặt lên bàn thờ.

Nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ đi về ngoại nghi.

29. Cúc cung bái. (giống như mục số 22)

30. Cung hiến Tiên trà. (Cung kính dâng trà quí)

Hai Lễ sĩ đài sắp đặt, một bên đặt 1 bình trà, một bên đặt 1 cái tách để dựng nước trà. LSĐĐ cùng đến đứng trước vị CVNN.

31. Quì. LSĐĐ quì xuống trước vị CVNN.

32. Điểm trà. (Rót nước trà)

CVNN cầm lấy bình trà, rót nước trà vào tách, cầm tách trà đưa lên trán xá 3 xá, rồi trao lại cho Lễ sĩ đài. LSĐĐ đứng dậy, lui ra, quay người hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện trà.

33. Điện Tiên trà. (Lễ sĩ điện dâng trà quí)

Công việc giống y như Điện Tiên Hoa.

Đồng nhi thài bài Dâng Trà, Lễ sĩ điện vào nội nghi.

34. Quì. LSĐĐ và 2 tiếp lễ đồng quì xuống.

Vị chứng đàn tiếp tách trà, vị quì kế bên tiếp bình trà, đồng xá 3 xá rồi đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Trà tức là dâng linh hồn, nhưng lần cầu nguyện chót nầy nên dâng cả Tam bửu lên Đức Phật Mẫu, vì đây là Bí pháp giải thoát:

"Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng."

35. Thượng Tiên trà. (Đem trà lên đặt trên bàn thờ)

Cầu nguyện xong, xá 3 xá, trao tách trà và bình trà cho hai vị tiếp lễ đem đặt lên bàn thờ.

Nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ đi về ngoại nghi.

36. Cúc cung bái. (giống như mục số 22)

37. Sớ văn thượng tấu. (Sớ văn tâu lên)

Hai Lễ sĩ đăng đi lên nội nghi, bước đi thường, không điện,

38. Quì.

Hai vị tiếp lễ, 1 vị cầm dĩa đựng sớ văn, 1 vị cầm cái thố (hay cái bình) để đựng tro lúc đốt sớ, quì phía dưới cặp Lễ sĩ đăng. Một vị có phận sự đọc sớ lên quì gần CSCĐ.

CSCĐ cầm sớ xá 3 xá, cầu nguyện, rồi rút tờ sớ ra trao cho người đọc sớ, còn vị CSCĐ hai tay cầm bao sớ cung kính nâng lên ngang trán trong suốt thời gian đọc sớ.

39. Thành độc sớ văn. (Thành kính đọc bài văn sớ)

Vị đọc sớ, cao giọng đọc lên, đến danh hiệu của các Đấng thì dừng lại một chút để khắc chuông cúi đầu kỉnh lễ.

Bài văn sớ cúng Đức Phật Mẫu ngày mùng 1 thường lệ (Sóc lệ) chép ra như sau:

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Thất thập . . . niên)

Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, . . . ngoạt, sơ nhứt nhựt, Dậu thời, hiện tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . . Châu, . . . . . Tộc, . . . . . Hương, cư trụ Điện Thờ Phật Mẫu chi trung.

Kim đệ tử . . . (tên họ của vị chứng đàn). . . công đồng chư thiện nam tín nữ đẳng quì tại điện tiền, thành tâm trình tấu.

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI:

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO:

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,

Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,

Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM:

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,

Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,

Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,

Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì, sóc nhựt lương thần, chư thiện nam tín nữ đẳng nghiêm thiết đàn tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng vọng Đức Kim Bàn Phật Mẫu, dĩ đức từ bi, chuyển họa vi phước, thoát ách tiêu tai, thế giới an ninh, cộng hòa nhơn loại, Tổ quốc Việt Nam đạt vinh quang, sanh chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi Đường Ngu chi phong hóa.

Ngưỡng vọng Đức Kim Bàn Phật Mẫu, phát hạ hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận chúng sanh, hiệp trí hòa tâm, tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng chánh giáo, giải thoát tiền khiên, triêm ngưỡng Mẫu ân tứ phước.

Ngưỡng vọng Đức Kim Bàn Phật Mẫu, cứu độ các đẳng chơn linh quá vãng tảo đắc siêu thăng, an nhàn Cực Lạc.

Chư đệ tử đồng thành tâm khẩn nguyện cúc cung khấu bái thượng tấu

Dĩ văn.

Đệ tử: . . . (tên họ của vị chứng đàn) . . .

 

40. Cung phần Sớ văn. (Cung kính đốt sớ)

Vị chứng đàn đặt lá sớ vào bao sớ, cầm sớ xá 3 xá, hai Lễ sĩ đăng dụm hai ngọn đèn lại cho vị chứng đàn đốt sớ, thấy cháy được phân nửa thì bỏ vào thố, vị tiếp lễ đem thố đặt lên bàn thờ, hai Lễ sĩ trở về ngoại nghi, vị đọc sớ trở về chỗ cũ.

41. Cúc cung bái. (giống như mục số 12)

42. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện.

Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện.

43. Cúc cung bái. (giống như mục số 12)

44. Hưng bình thân. (Cất mình đứng thẳng lên)

Mọi người trong đàn cúng đứng thẳng dậy tại vị trí của mình. Khắc chuông, mọi người đứng xá sâu xuống 3 xá, quay trở ra sau xá 1 xá để kỉnh khí Sanh quang.

45. Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.

(Cung kính, thứ tự, phân ra đứng thành hai ban: nam và nữ)

Tất cả tín đồ trong đàn cúng, lui ra hai bên, đứng trật tự như lúc mới nhập đàn.

Các Ban: Đồng nhi, lễ sĩ, lễ vụ, kiểm đàn, những người hầu đàn lần lượt vào chánh điện lạy Đức Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: "Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn."

Riêng Ban Nhạc thì quì ngay trên lầu lạy Đức Phật Mẫu, vì còn phận sự đánh nhạc.

Người chấp sự trên lầu chuông dộng chuông bãi đàn.

Dộng trước 3 tiếng chuông, rồi kệ bài Kệ chuông bãi đàn, kệ xong 1 câu thì dộng 1 tiếng chuông lớn. Bài kệ chuông bãi đàn: "Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên,... ... ..."

Tiếng chuông kệ bãi đàn vừa dứt, Lễ xướng:

46. Lễ thành. (Cuộc lễ cúng tế đã xong)

Nhạc đánh thét rồi dứt. Mọi người xá đàn 1 xá rồi bắt đầu đi ra. Các vị bên trong đi ra trước, đi hàng một, đi ra cũng trật tự như khi đi vào nhập đàn. Khi ra khỏi chánh điện mới xả ấn Tý.

Tất cả có 46 Nghi tiết trong lễ cúng đàn Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu địa phương.

IV. Nghi tiết cúng Tứ Thời tại ĐTPM:

Cúng Tứ Thời tại ĐTPM vào 4 thời điểm: Tý (0 giờ tức 12 giờ khuya), Mẹo (6 giờ sáng), Ngọ (12 giờ trưa), Dậu (18 giờ tức 6 giờ chiều).

1* Đúng giờ cúng, trên lầu chuông, vị chấp sự khởi dộng Chuông Nhứt.

Trước hết dộng 3 tiếng chuông, kệ 3 câu, mỗi câu dộng 1 tiếng chuông. Bài kệ chuông nhứt: "Văn chung khấu hướng... ... ..."

Khi hết chuông nhứt, các tín đồ tham dự cúng Tứ thời đi vào chánh điện, sắp hàng hai bên, nam nữ đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý, chờ nghe chuông nhì.

2* Kệ chuông nhì, dứt mỗi câu thì dộng 1 tiếng: "Nhứt vi u ám... ... ..."

3* Người hầu chuông nơi nội nghi gõ 1 tiếng chuông, hai bên xá đàn 1 xá, bước vào trong, nhìn lên bàn thờ, gõ chuông 3 lần, xá 3 xá, quì xuống.

4* Người hầu chuông lần lượt khắc 3 tiếng, mọi người đưa ấn Tý lên trán vừa xá vừa niệm 3 lần:

- Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

- Nam mô Cửu Vị Tiên Nương.

- Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh.

5* Đồng nhi tụng kinh Niệm Hương, giọng nam ai.

Lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: "Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn."

6* Đồng nhi tụng Khai Kinh, giọng nam ai.

Dứt bài Khai Kinh thì cúi đầu, không xá, không lạy.

7* Đồng nhi tụng Phật Mẫu Chơn Kinh.

Lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm: "Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn."

8* Đồng nhi tụng bài Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu: "Kể từ Hỗn độn sơ khai,... .... ..."

(Bài Tán Tụng Công Đức DTKM chỉ tụng khi cúng Tứ Thời, còn khi cúng đàn thì không tụng).

Lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, niệm danh hiệu Phật Mẫu.

9* Đến phần Dâng Tam bửu, tùy theo thời mà thài.

- Cúng khuya và trưa: thài bài Dâng Rượu.

- Cúng sáng và chiều: thài bài Dâng Trà.

Dù thài dâng Rượu hay dâng Trà, chúng ta cũng cứ cầu nguyện dâng đủ Tam bửu lên Đức Phật Mẫu, giống y như cầu nguyện dâng Tam bửu lên Đức Chí Tôn, vì đây là Bí pháp giải thoát chúng ta khỏi luân hồi:

Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn,

Nam mô Cửu Vị Tiên Nương,

Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng.

Cầu xin các Đấng thiêng liêng chứng minh.

Lạy Đức Phật Mẫu 3 lạy 9 gật và niệm như trên.

10* Tụng Ngũ Nguyện.

Lạy Đức Phật Mẫu như trên.

Đứng dậy, xá 3 xá, quay ra sau xá 1 xá, lui ra đứng hai bên chánh điện như lúc mới nhập đàn. Chờ kệ chuông bãi đàn.

11* Kệ chuông bãi đàn: "Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên... ... ..."

Dứt kệ chuông bãi đàn, vị hầu chuông nơi nội nghi khắc 1 tiếng chuông, hai bên xá đàn 1 xá, rồi bắt đầu đi ra, trong đi ra trước, lần lần tới ngoài. Hết.

Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương
và 4 Tiên đồng nữ nhạc cỡi chim Thanh loan bay xuống cõi trần.

(Tượng thờ Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương nơi Báo Ân Từ)

V. Giải thích các chi tiết:

1. Cửu vị Tiên Nương - Cửu vị Nữ Phật:

Cửu vị Tiên Nương là 9 vị Nữ Tiên hầu Đức Phật Mẫu và giúp việc cho Đức Phật Mẫu.

Trong thời khai Đạo, Cửu vị Tiên Nương lập được nhiều công quả nên đắc thành Phật vị, gọi là Cửu vị Nữ Phật.

Nhưng, 9 Đấng ấy, khi thi hành nhiệm vụ giáo hóa và phổ độ nhơn sanh thì xưng là Cửu vị Tiên Nương; khi an ngự trên ngôi vị thì xưng là Cửu vị Nữ Phật.

Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương ngự tại DTC nơi từng trời thứ 9: Tạo Hóa Thiên của Cửu Trùng Thiên.

Trong Cửu vị Tiên Nương, các Đấng thường giáng cơ dạy đạo là: Bát Nương, Thất Nương, Lục Nương, Ngũ Nương. Kể từ khi Thất Nương đảm nhận nhiệm vụ giáo hóa các nữ tội hồn tại cõi Âm Quang thì Thất Nương ít có thời giờ rảnh để giáng cơ dạy Đạo.

2. Bạch Vân Động chư Thánh:

Bạch Vân Động là một cái động trên Mặt Trăng, làm nơi cư ngụ cho các vị Thánh, mà Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ tức là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Động chủ.

Các vị Thánh nơi Bạch Vân Động có nhiệm vụ bảo vệ Đức Phật Mẫu mỗi khi Đức Phật Mẫu du hành hay đi xuống cõi trần. Cho nên khi thờ Đức Phật Mẫu, chúng ta cũng thờ luôn Bạch Vân Động chư Thánh.

Trước khi Chí Tôn mở ĐĐTKPĐ, các vị Thánh Bạch Vân Động được lịnh giáng sanh xuống cõi trần để Đức Chí Tôn lập thành Hội Thánh trong buổi đầu khai đạo.

Đối với nhơn loại thì con người không thể ở trên Mặt Trăng vì nơi ấy không có nước và không khí, nhưng đối với các Đấng thiêng liêng, Mặt Trăng là nơi để dừng chân trước khi các Đấng ấy giáng xuống cõi trần (tức là đi xuống địa cầu của nhơn loại).

3. Giải thích lòng sớ cúng Đức Phật Mẫu:

"Nay vì ngày mùng 1 giờ tốt, các vị thiện nam tín nữ nghiêm trang thiết lập đàn cúng tế với nhang đèn, bông trà trái cây, rượu tinh khiết làm nghi thức, thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng vọng Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, lấy đức từ bi chuyển họa làm phước, thoát khỏi khổ ách, tiêu tan tai nạn, thế giới được an ninh, nhơn loại cộng hòa, Tổ quốc Việt Nam đạt được vinh quang, dân chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi nền phong hóa như thuở vua Nghiêu vua Thuấn.

Ngưỡng vọng Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, ban xuống hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận chúng sanh, hiệp trí hòa tâm, tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng chánh giáo, giải thoát khỏi các tiền khiên nghiệp chướng, chiêm ngưỡng ơn phước của MẸ ban cho.

Ngưỡng vọng Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, cứu độ các cấp chơn linh đã quá vãng, sớm được siêu thăng, an nhàn nơi cõi Cực Lạc.

Các đệ tử đồng thành tâm cầu khẩn mong ước, cúi mình lạy xuống, tâu lên.

Kính trình."

 


 

Chương 8:
 

HÀNH CHÁNH ĐẠO
địa phương

 

I. Các cấp Hành Chánh Đạo địa phương:

"Hành Chánh Đạo là cơ quan để thi hành các luật lịnh của Hội Thánh hoặc của chúng sanh dâng lên mà đã có Quyền Chí Tôn phê chuẩn, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y luật pháp mà đi trên con đường đạo đức cho đặng thong dong, hòa bình, trật tự, hạnh phúc, an nhàn, tức là thật hành cả khuôn viên luật pháp cho ra thiệt tướng." (Đạo luật năm Mậu Dần 1938)

Hành Chánh Đạo là thi hành cho đúng những qui điều trong chơn pháp để dìu độ chúng sanh lánh khỏi tội tình, hiệp về cội Đạo.

Cầm quyền Hành Chánh Đạo là phận sự của Chức sắc Cửu Trùng Đài thay mặt cho Trời mà thực thi nhơn nghĩa đạo đức để phục vụ nhơn sanh về phần vật chất tức là phần đời. Bảo thủ chơn truyền chẳng để cho Chánh giáo trở nên Phàm giáo là nhiệm vụ của Chức sắc Hiệp Thiên Đài can hệ về phần tinh thần tức là phần Đạo.

Thiết nghĩ, Chức sắc Cửu Trùng Đài được quyền sử dụng những luật lệ do nhơn sanh lập thành, nên phải gìn giữ nhắc nhở nhơn sanh tuân hành nghiêm chỉnh giáo điều Tân luật, để khỏi bị phạm luật phạm pháp mà thất thệ và lỗi đạo.

Vả lại, Chức sắc Hội Thánh Cửu Trùng Đài cũng không nên quên rằng, chính mình cũng phải chịu dưới luật lệ ấy vì nó đã thành Thiên điều tại thế rồi.

Vì thế, để xứng đáng là người hướng đạo tinh thần cho nhơn sanh, chư Chức sắc Thiên phong cần ý thức rõ vai tuồng Hành Chánh Đạo của mình, đừng vì một sự sơ suất hiểu lầm do phàm tâm lấn áp mà biến sự phục vụ thành quyền cai trị, gây thống khổ cho nhơn sanh mà đắc tội với Đại Từ Phụ, sanh điều phản khắc với tôn chỉ và chủ nghĩa của nền Đại Đạo.

Để nhắc nhở chư Chức sắc Thiên phong, Hội Thánh Cửu Trùng Đài hiểu rõ vai trò Hành Chánh Đạo của mình, Hội Thánh xin giải rõ ý nghĩa, mục đích và cứu cánh của ba chữ: Hành Chánh Đạo.

1. Thích nghĩa ba chữ Hành Chánh Đạo:

Hành là làm, chánh là ngay thẳng, không xiên vẹo, nghĩa là làm cho ra thiệt tướng nền chơn đạo của Đức Chí Tôn trong sứ mạng tận độ.

Hành Chánh Đạo (viết tắt HCĐ) thật là bao la và tổng quát vô cùng.

Tại sao nơi cửa Đạo Cao Đài lại có HCĐ, mà không như các tôn giáo hằng hữu ngồi yên để tịnh luyện?

Xin thưa: Đối với Đạo Cao Đài, HCĐ là một cơ cấu bỉnh cán các đẳng chơn linh hạ trần nương theo đó mà hồi cựu vị. HCĐ có nghĩa rộng là làm sáng tỏ những điều chánh đáng của một nền tôn giáo mà Đấng đề xướng là Đức Chí Tôn, Chúa tể cả vạn loại.

2. Mục đích của Hành Chánh Đạo:

Mục đích của HCĐ là phục vụ nhơn sanh trong tinh thần giáo hóa để giác ngộ, hầu hướng dẫn nhơn sanh lập công bồi đức, chuộc lỗi tiền khiên, qui hồi cựu vị.

Hành Chánh Đạo là một danh từ rất kêu đối với đời, nhưng nó là một danh từ trống rỗng ở cửa Đạo về mặt uy quyền cũng như lợi lộc. Đạo Cao Đài sở dĩ có Hành Chánh Đạo là vì muốn cho có đẳng cấp trật tự đi trong lẽ phải, thực hành chơn lý, để mỗi chơn linh dù lớn dù nhỏ, có phương tiện nương theo đó mà lập vị mình, hầu trở lại quê xưa hay là tiến hóa.

Chức sắc Hội Thánh Cửu Trùng Đài có phận sự phải thực thi Hành Chánh Đạo một cách công minh, nghĩa là chúng ta là kẻ tay sai cho tất cả sanh chúng, nhờ ta kêu gọi dìu dẫn mà họ sớm giác ngộ, cải tà qui chánh, thoát khỏi tục trần, lánh vòng phiền não sa đọa.

Chúng ta nên hiểu rằng, mục tiêu chánh của Hành Chánh Đạo là giáo hóa, chớ không phải như Hành Chánh của đời là cai trị.

Các bậc Giáo chủ của các nền tôn giáo xưa kia đâu cần phải có hình thức quan lại trong khuôn khổ trị dân, để giáo Đạo đâu? Các Đấng ấy đi ta bà để khuyến dân dạy đời và thức tỉnh nhơn loại, rồi các đạo giáo ấy cũng thành hình trong sự dạy dỗ.

Vậy, chúng ta cả thảy nên nhìn vào sự giáo hóa mà tiến lên, đừng để hình thức cai trị bắt buộc phải theo đạo thì hình thức ấy chỉ là lầu đài trên bãi cát.

3. Cứu cánh của Hành Chánh Đạo:

Cứu cánh của Hành Chánh Đạo là đoạt vị tại thế trong chiều hướng tận độ chúng sanh đưa về cựu phẩm.

Chúng ta biết rằng, nhơn hồn có nhiều bực cấp của chơn hồn, từ nguyên nhơn đến hóa nhơn và quỉ nhơn. Hành Chánh Đạo chẳng phải kêu gọi hàng nguyên nhơn mà còn độ rỗi hóa nhơn và trừ khử quỉ nhơn nữa. (Quỉ nhơn là tà tâm dục vọng).

Bởi cớ nên Đại Từ Phụ lập ra Cửu Trùng Đài để sắp xếp các đẳng linh hồn đã xuống thế, tùy theo căn nguyên biết mộ đạo tu tỉnh mà trở lại nguyên căn ở cõi vô hình hay là thượng giới.

Ngoài ra, bên quỉ vị, vì lẽ công bình của tạo đoan nên cũng có thành lập Tam thập lục động đối chiếu với Tam thập lục Thiên để khảo duợt các chơn linh trước khi trở về đến Ngọc Hư Cung.

Do dó, Hành Chánh Đạo là làm thế nào cho sáng tỏ chơn lý, rạng rỡ nét công, không còn lẽ tà vạy trong hàng Chức sắc Thánh thể của Đức Chí Tôn, cũng như trong bổn đạo là con chung của Đại Từ Phụ.

Nếu mỗi mỗi trong Thánh thể của Đức Chí Tôn biết nêu cao lẽ chánh thì con đường tận độ sẽ thênh thang, cả nguyên nhơn lẫn hóa nhơn có thể trở lại ngôi xưa hay hóa kiếp để đoạt vị một cách dễ dàng, bằng ngược lại thì sẽ bị rơi vào cái bẫy khảo duợt của chúa quỉ, tức nhiên là lọt vào tay của Kim Quang Sứ vậy. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Hành Chánh Đạo được tổ chức một cách chặt chẽ. Bất cứ nơi nào có ánh sáng mặt trời cũng có vết chân của các môn đồ của Thầy đến để cứu rỗi nhơn loại. Nhơn loại cũng nương theo đường lối Hành Chánh Đạo mà tạo vị, lập công để chuộc tội tiền khiên, tiêu trừ nghiệt chướng.

Đức Chí Tôn dạy rằng: Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

Ân huệ và hạnh phúc thay cho chúng sanh! Thầy đã lập một trường thi công quả hy hữu trước mắt, chúng sanh muốn tu hay chẳng muốn, sau nầy không còn chối cãi vì mê muội mà lạc bước sa vòng tà mị. (Trích bài giảng Hạnh Đường của Ngài Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh).

Hành Chánh Đạo có một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương ở Tòa Thánh đến các địa phương, phân cấp phân nhiệm rất rõ ràng để sự làm việc điều hòa tốt đẹp.

Trong hệ thống tổ chức Hành Chánh Đạo CTĐ, từ Cửu Viện đổ lên thuộc về HCĐ Trung Ương, từ Cửu Viện trở xuống thuộc HCĐ Địa phương.

HCĐ địa phương tổ chức trong nước Việt Nam gồm: Trấn Đạo, Châu Đạo, Tộc Đạo và Hương Đạo.

Trấn đạo là cấp cao nhứt của HCĐ địa phương. Trong nước VN có nhiều Trấn đạo.

- Một Trấn Đạo có nhiều Châu Đạo. Đứng đầu Trấn Đạo là một vị Khâm Trấn Đạo, phẩm Giáo Sư, do Hội Thánh bổ nhiệm.

- Một Châu Đạo có nhiều Tộc Đạo. Đứng đầu Châu Đạo là một vị Khâm Châu Đạo, phẩm Giáo Hữu, do Hội Thánh bổ nhiệm.

- Một Tộc Đạo có nhiều Hương Đạo. Đứng đầu Tộc Đạo là một vị Đầu Tộc Đạo, phẩm Lễ Sanh, do Hội Thánh bổ nhiệm.

- Một Hương Đạo có nhiều Ấp Đạo, đứng đầu Hương Đạo là một vị Đầu Hương Đạo, phẩm Chánh Trị Sự, do các Chức việc Bàn Trị Sự của Hương Đạo bầu lên.

(Xem Sơ đồ tổ chức HÀNH CHÁNH ĐẠO địa phương)

- Một Ấp Đạo có 2 vị: Phó Trị Sự và Thông Sự trông coi đạo sự trong Ấp Đạo của mình. Phó Trị Sự và Thông Sự do các Đạo hữu trong Ấp Đạo bầu lên.

Như vậy, một Hương đạo chỉ có một Chánh Trị Sự Đầu Hương Đạo, nhưng lại có nhiều Phó Trị Sự và Thông Sự phụ trách trong các Ấp Đạo.

Đặc biệt trong Đạo Cao Đài, Hành Chánh Đạo nói riêng và các tổ chức khác của Đạo nói chung, đều phân ra hai phái NAM và NỮ.

Hai phái nầy có tổ chức Đạo hoàn toàn giống nhau, các cấp bực đều tương ứng nhau, nhưng điều hành việc Đạo riêng theo mỗi phái, phái nầy không xen qua phái kia, quyền hành nam nữ riêng biệt.

HCĐ NAM PHÁI

HCĐ NỮ PHÁI

KHÂM TRẤN ĐẠO
Giáo Sư
NỮ KHÂM TRẤN ĐẠO
Nữ Giáo Sư
KHÂM CHÂU ĐẠO
Giáo Hữu
NỮ KHÂM CHÂU ĐẠO
Nữ Giáo Hữu
ĐẦU TỘC ĐẠO
Lễ Sanh
NỮ ĐẦU TỘC ĐẠO
Nữ Lễ Sanh
ĐẦU HƯƠNG ĐẠO
Chánh Trị Sự
Phó Trị Sự
Thông Sự
NỮ ĐẦU HƯƠNG ĐẠO
Nữ Chánh Trị Sự
Nữ Phó Trị Sự
Nữ Thông Sự
NAM ĐẠO HỮU NỮ ĐẠO HỮU

Phẩm tước hay chức vụ của Chức sắc nữ phái giống y như bên nam phái, nhưng thêm chữ NỮ phía trước.

II. Tổ chức điều hành một Thánh Thất.

Mỗi Tộc Đạo cần phải xây dựng một Thánh Thất để làm nơi thờ cúng Đức Chí Tôn, các Đấng thiêng liêng và để qui tụ các tín đồ tổ chức các sinh hoạt của tôn giáo.

Vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo cai quản đạo sự trong Tộc Đạo thì cũng cai quản luôn cả Thánh Thất của Tộc Đạo.

Giúp việc văn phòng cho Đầu Tộc Đạo thì có một vị Đầu Phòng Văn khoa mục do Hội Thánh bổ nhiệm.

Nếu không có Đầu Phòng Văn thì các Chức việc Bàn Trị Sự (BTS) của Tộc Đạo phải cử ra một Thơ Ký để giúp việc văn phòng cho Tộc Đạo.

Phần cai quản Thánh Thất thì có một Ban Tứ Vụ giúp việc cho Đầu Tộc Đạo.

Sơ đồ tổ chức như sau:

(Xem Sơ đồ tổ chức điều hành một Thánh Thất)

Viết tắt: - BTS: Bàn Trị Sự. - CTS: Chánh Trị Sự. - HT: Hội Thánh. - ĐTĐ: Đầu Tộc Đạo.

 

* Đầu Phòng Văn của Văn phòng Tộc Đạo phải lập đầy đủ hồ sơ, sổ sách và giấy tờ cần thiết sau đây:

  1. Hồ sơ Sắc lịnh, Thánh lịnh, Huấn lịnh của HT.

  2. Hồ sơ Thánh huấn, Huấn thị, Châu tri của HT.

  3. Hồ sơ văn thư của Hội Thánh gởi xuống.

  4. Hồ sơ văn thư của Khâm Châu Đạo gởi xuống.

  5. Hồ sơ văn thư của Đầu Tộc Đạo gởi đi.

  6. Hồ sơ văn thư của Chức việc BTS gởi lên.

  7. Hồ sơ Vi bằng nhóm lệ BTS hằng tháng.

  8. Hồ sơ lưu chiếu các vụ kiện thưa, hòa giải.

  9. Sổ nhựt ký Tắm Thánh, Giải oan, Nhập môn.

  10. Sổ nhựt ký Cầu siêu các bổn đạo qui liễu.

  11. Sổ nhựt ký Khai sanh, Khai tử, Hôn phối.

  12. Sổ nhựt ký giấy tờ gởi đi.

  13. Sổ nhựt ký giấy tờ nhận được.

  14. Bộ Chức việc và Đạo hữu.

Ngoài ra còn nhiều hồ sơ linh tinh khác tùy theo Tộc đạo có nhiều hay ít công việc đạo.

* BAN TỨ VỤ của Thánh Thất:

Ban Tứ Vụ là một ban gồm có 4 vụ: Hộ vụ, Lễ vụ, Lương vụ và Công vụ. Mỗi vụ có phần hành riêng biệt.

- Hộ vụ: lo việc thâu giữ tiền bạc của Thánh Thất do các tín đồ đóng góp để hành hương hay làm việc công ích trong Thánh Thất, giữ sổ thâu xuất hằng ngày.

- Lễ vụ: lo việc nghi lễ, cúng Tứ thời, đàn lệ, sớ văn, quả phẩm, nhang đèn và sắp xếp các ban trực thuộc: lễ, nhạc, đồng nhi, thực hiện tang sự cho bổn đạo.

- Lương vụ: lo lương thực nuôi ăn Chức sắc và các nhân viên công quả. Lương vụ quản lý phòng trù (nhà bếp)

- Công vụ: lo việc tu bổ, bảo trì Thánh Thất và các nhà cửa làm cơ quan của Tộc đạo.

Ban Tứ vụ là một bộ phận rất quan trọng trong công việc điều hành một Thánh Thất, cho nên Đầu Tộc Đạo phải chọn cử người có uy tín và kinh nghiệm trong bổn đạo, thông thường thì chọn các cựu Chức việc mà vì hoàn cảnh gia đình chưa đi cầu phong được.

Sự chọn cử phải được toàn cả Chức việc BTS trong Tộc Đạo bỏ thăm tín nhiệm, để vị ấy có đủ uy tín làm việc.

Các ban chuyên môn:

Phần Lễ vụ có các ban chuyên môn trực thuộc: Ban nhạc, Ban lễ sĩ , Ban đồng nhi, Ban kiểm đàn.

. Ban nhạc có một Nhạc sĩ cầm đầu. Nhạc sĩ nầy phải thi đậu cấp bằng Nhạc sĩ của Bộ Nhạc Lễ và được Hội Thánh bổ nhiệm. (Xem Phần phụ: Thánh Lịnh thành lập Bộ Nhạc)

. Ban lễ sĩ có một Lễ sĩ cầm đầu. Lễ sĩ nầy phải thi đậu cấp bằng Lễ sĩ của Bộ Nhạc Lễ và cũng được Hội Thánh bổ nhiệm. (Xem Phần phụ: Sắc lệnh về Lễ sĩ và Giáo nhi)

- Ban đồng nhi có một cô Giáo nhi cầm đầu.

Giáo nhi là cô giáo dạy các đồng nhi tụng kinh, đã thi đậu bằng cấp Giáo nhi và được Hội Thánh bổ nhiệm.

- Ban kiểm đàn để sắp đặt và gìn giữ trật tự trong đàn cúng. Nhơn viên trong Ban kiểm đàn phải lựa chọn trong hàng Chức việc hay Đạo hữu gương mẫu.

Các con em trong nhà đạo, tuổi từ 6 đến 15, tuyển vào Ban đồng nhi. Có thể tổ chức hai ban đồng nhi: nữ và nam. Khi các em nầy lớn lên thì có thể đưa vào học tập trong Ban lễ sĩ hay Ban nhạc.

III. Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo:

Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo rất nặng nề, vì đây là cấp Hành Chánh Đạo cơ sở, làm việc trực tiếp với nhơn sanh, chịu hệ thống nhiều cấp chỉ huy, cho nên ngoài khả năng điều hành công việc, Pháp Chánh Truyền còn buộc Lễ Sanh ĐTĐ phải là người có đầy đủ đức hạnh mới có thể nhẫn nại vượt qua những nỗi khó khăn gặp phải.

Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo có hai phần: đối ngoại và đối nội.

A. ĐỐI NGOẠI:

Đối với chánh quyền địa phương cấp quận, huyện hay cấp xã; đối với các tôn giáo bạn và các chi phái.

1. Đối với chánh quyền địa phương:

Đầu Tộc Đạo dùng sự chơn thật và hiền hòa của người tu hành tạo sự giao thiệp tốt đẹp với các quan chức của chánh quyền đời, tham gia tích cực vào các hoạt động từ thiện và các hoạt động văn hóa nâng cao dân trí, luôn luôn bày tỏ chủ trương thuần túy đạo đức tu hành của tôn giáo Cao Đài, dứt khoát không dung túng các phần tử xấu ẩn núp trong tôn giáo để gây chia rẽ hay mượn danh đạo làm chánh trị để tạo danh đời.

2. Đối với các tôn giáo bạn:

Đầu Tộc Đạo không nên chỉ trích hay bài bác các tôn giáo khác, cho rằng hiện nay chỉ có Đạo Cao Đài là chánh pháp, còn các tôn giáo khác là mạt pháp. Đây là điều tối kỵ mà nếu đụng vào thì hư hết các mối giao hảo.

Tôn chỉ "Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt" của Đạo Cao Đài chỉ có Đức Phật Di-Lạc mới thực hiện được và cũng không biết đến bao giờ, còn đối với người đạo chúng ta trong kiếp sanh nầy thật là quá lý tưởng, cho nên điều nầy không làm cho các tôn giáo bạn hài lòng.

Đầu Tộc Đạo lấy tinh thần hòa đồng trong sự bình đẳng giữa các tôn giáo với mục đích chung là giáo dân vi thiện, cứu khổ ban vui, làm phương châm giao tiếp gây cảm tình với các tôn giáo bạn.

3. Đối với các chi phái của Đạo Cao Đài:

Hiện nay, những tín đồ trong các Chi phái của Đạo Cao Đài chỉ là những nạn nhân của một số ít Chức sắc tiền bối mà trước đây vì bất đồng quan điểm với Tòa Thánh Tây Ninh, quí vị nầy tách ra để lập Chi phái.

Đáng thương hơn nữa là họ có mặc cảm tự ti bởi Đạo Nghị Định số 8 ngày 15-7-Giáp Tuất (1934) của Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp, cho rằng Chi phái là bàng môn tả đạo.

Tình thế hiện nay có nhiều đổi khác, vì từ năm 1934 đến nay trải qua gần 70 năm, việc đời việc Đạo biết bao thương hải tang điền, nền văn minh tiến hóa vượt bực, thì tư duy của người đạo cũng cần phải thay đổi theo cho phù hợp với tình thế mới.

Chính Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp cũng đã nói từ năm 1957 và năm 1964 rằng:

"Về Đạo Nghị Định của Lão đối với Chi phái là phương pháp lúc trước để phổ độ nhơn sanh mà thôi, hiện giờ cửa Đạo đã mở rộng thì cơ qui nhứt thế nào cũng thực hiện được." (TNST. Q4 B 11)

"Vậy ngày giờ đã gần đến nên Bần đạo để lời khuyên cả Chức sắc và toàn đạo ráng thế nào thống nhứt Đạo cho được mới có đủ sức mạnh để làm gương cho vạn quốc." (TNST. Q4 B 33)

Việc phân chia Chi phái là một vết thương âm ỉ trong lòng của mỗi tín đồ Cao Đài có nhiệt tâm vì Thầy vì Đạo, khi nhắc đến thì đau buốt cả tâm can, vì bao nhiêu lời dạy bảo thương yêu của Đức Chí Tôn đều bị phàm tâm bỏ chảy theo dòng sông ô nhiễm.

Người tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh mà không thương yêu được tín đồ Cao Đài của các Chi phái thì làm sao dám nói đến sự thương yêu đối với tín đồ các tôn giáo khác trong tôn chỉ qui nguyên phục nhứt. Cho nên, ưu tiên hàng đầu của Đạo Cao Đài là thực hiện cơ qui nhứt, như lời dạy của Đức Hộ Pháp, một là để có đủ sức mạnh phổ độ nhơn sanh, hai là làm gương tốt cho thế giới.

Cần mở rộng vòng tay đón mời các huynh đệ trong các Chi phái với một tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Còn nếu chúng ta vẫn giữ theo nếp suy nghĩ cũ, xem những người Chi phái như những kẻ hồi chánh, lầm đường lạc lối trở về, lại tự cho mình là kẻ bề trên, thì cơ qui hiệp biết đến bao giờ mới thực hiện được!

Cũng có nhiều vị tự cho mình là người đạo kỳ cựu nhưng họ tu lè phè, phất phơ theo cuộc thủy triều, không siêng năng cúng kiếng và làm công quả, thì bước đường tiến hóa của họ đi được bao nhiêu mà khoe là kỳ cựu?

Tuy rủi ở trong Chi phái nhưng có nhiều người có trí thức cao, đạo hạnh tốt, trình độ tiến hoá tâm linh đáng trọng. Dù ở vị trí nào, ở hoàn cảnh nào, cũng có thể tu hành chơn chánh được, miễn là biết giữ tâm cho chơn chánh, xa lánh điều tà vạy; nhưng nếu ở trong nghịch cảnh hoài thì sự tiến hóa ắt phải khó khăn chậm trễ, chi bằng chuyển đổi hoàn cảnh cho thuận chiều Thiên lý thì sự tiến hóa tâm linh ắt dễ dàng nhanh chóng.

Chúng ta cũng cần kêu gọi những tín đồ Chi phái nên đặt lợi ích chung, danh dự chung của Đạo Cao Đài, hy sinh phần nào quyền lợi cá nhân, xem phẩm tước phàm trần là giả tạm, mà qui tụ đoàn kết với nhau trong một Hội Thánh duy nhứt, một Tòa Thánh duy nhứt, làm vui lòng hai Đấng Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu, hầu tạo được phẩm vị chơn thật nơi cõi thiêng liêng.

Con đường tiến hóa tất yếu của Đạo Cao Đài là phải qui hiệp, những chướng ngại trên con đường tiến hóa nầy sẽ bị dẹp bỏ, ai giữ mãi tinh thần chia rẽ sẽ bị đào thải là lẽ tất nhiên không thể nào tránh khỏi.

B. ĐỐI NỘI:

1. Cấp trên trực tiếp của Đầu Tộc Đạo là Khâm Châu Đạo, nên tất cả Đạo sự trong Tộc đạo, Đầu Tộc Đạo phải báo cáo đầy đủ chi tiết lên Khâm Châu Đạo, gặp những việc khó khăn thì phải xin ý kiến của Khâm Châu Đạo giải quyết. Ngoài ra, Đầu Tộc Đạo còn phải làm đủ tất cả các phúc trình Đạo sự gởi lên Châu đạo, Trấn đạo và Hội Thánh ở Trung ương.

2. Đầu Tộc Đạo phải ban hành các các giấy tờ của Đạo do cấp trên gởi xuống như: Đạo lịnh, Thánh lịnh, Huấn lịnh, Thông tri, Châu tri, v.v...

3. Thiết lập các đàn cúng Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng vào những ngày Vía hay Sóc Vọng.

Sau thời cúng thì đọc Thánh Ngôn hay thuyết đạo, nhưng cần ngắn ngọn vì các tín đồ đã mỏi mệt nhiều.

4. Đầu Tộc Đạo lo nhập môn cho Tân tín đồ, khai đàn, thượng tượng và dẫn giải lễ nghi thờ cúng của Đạo.

5. Đầu Tộc Đạo chủ tọa các phiên họp của các Chức việc Bàn Trị Sự và Ban Tứ Vụ của Thánh Thất, Đầu Phòng Văn làm Từ hàn lập biên bản các phiên họp.

6. Đầu Tộc Đạo cùng Chức việc BTS, Ban Tứ Vụ lo tang tế sự cho các bổn đạo trong địa phận của mình, hoặc đi thăm viếng và giúp đỡ các gia đình đạo gặp khó khăn.

7. Đầu Tộc Đạo chủ tọa việc công cử các chức vụ Bàn Trị Sự khi bị khuyết, có mời vị Pháp Chánh của Tộc đạo đến giám thị. (Xem chi tiết nơi phần sau).

8. Về quyền sửa trị và giáo hóa của Đầu Tộc Đạo:

Lễ Sanh khi đã nhậm chức Đầu Tộc Đạo (ĐTĐ) thì có quyền giáo hóa chư Chức việc và tín đồ trong Tộc đạo mình cai quản và có quyền hòa giải những sự xích mích giữa người bổn đạo.

Khuyên giải: Khi có người phạm lỗi nhẹ về Thế luật hoặc thiếu hạnh kiểm làm mất tư cách người đạo, làm tổn thương đến danh thể chung của người đồng đạo thì Lễ Sanh ĐTĐ phải có bổn phận dạy khuyên cho người biết ăn năn chừa lỗi.

Răn phạt: Nếu vị nào chẳng biết sửa mình chừa lỗi, lại còn tái phạm thì Đầu Tộc Đạo có quyền răn phạt bằng cách quì hương tụng kinh Sám Hối.

Hòa giải: Những việc xích mích tranh tụng thường sự giữa người đồng đạo, dầu thuộc về việc đời hay việc đạo, Đầu Tộc Đạo chẳng nên dễ dãi bỏ qua để mất hòa khí, sanh những mầm hờn giận ghét ganh, mất tình tương thân tương ái cùng nhau.

Trong trường hợp nầy, Đầu Tộc Đạo cần mời tất cả đôi bên đến, dùng lời lẽ đạo đức giải thích phép đời luật đạo, lời thuận lẽ êm, cân phân phải quấy, cho đôi bên hiểu rõ, rồi hòa giải cho được thuận hòa cùng nhau.

Răn trị: Người giữ đạo buộc phải tuân y luật pháp của Đạo:

- Luật có Tân Luật,

- Pháp có Pháp Chánh Truyền.

Thoảng như có vị nào phạm luật, phạm pháp về mấy khoản nặng mà Lễ Sanh ĐTĐ đặng hiểu biết hay do Chức việc BTS phúc tờ lên thì ĐTĐ chẳng nên im ẩn mà chính mình phải đích thân đến tận nơi mở cuộc minh tra cho minh bạch, hoặc mời đến văn phòng hạch vấn cho ra lẽ, rồi phúc sự lên Giáo Hữu Khâm Châu Đạo để cho người liệu phương giáo hóa, hay Khâm Châu Đạo tư tờ về Hội Thánh định đoạt.

Kiện tụng: Thoảng như có việc kiện tụng rắc rối đại sự, ĐTĐ đã hết lời hòa giải mà chẳng đặng, đôi đàng vẫn cố tình tranh đua hơn thiệt, hoặc vì quyền lợi, hoặc vì danh thể cá nhân, có ảnh hưởng đến quyền dân sự, chừng đó mới buộc lòng để hai đàng kiện đến tòa án quốc gia.

Còn những vụ tranh tụng về đạo mà Đầu Tộc Đạo hòa giải không đặng thì nên dùng quyền điều tra riêng, với tư cách vô tư, rồi phúc sự nội vụ lên cho Giáo Hữu Khâm Châu Đạo phân xử.

Chú ý: Lễ Sanh ĐTĐ cần phải am hiểu bộ Luật lệ xử đoán đã ban hành ngày 29-5-Đinh Dậu (1957) của Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh.

Để có thực lực hữu hiệu điểm tô nghiệp đạo tại địa phương được tốt đẹp, ĐTĐ phải đặt tình thương lên trên hết, thật hành bác ái, vị tha, hướng dẫn điều hành thuộc cấp. Về tâm lý, phải sửa sai những lầm lẫn trong trách vụ, vui nhận mọi ý kiến của đàn em xây dựng mới đáng bậc đàn anh, có như vậy mới đẩy mạnh guồng máy Hành Chánh Đạo được nhịp nhàng và đắc nhơn tâm, thực hành đúng câu thể Thiên hành hóa mà Hội Thánh tin giao cho mỗi vị ĐTĐ đó vậy. (Trích tài liệu Hạnh Đường Lễ Sanh)

IV. Nhiệm vụ của Chức việc Bàn Trị Sự:

Chức việc Bàn Trị Sự (BTS) gồm 3 phẩm cấp: Chánh Trị Sư (CTS)ï, Phó Trị Sự (PTS), Thông Sự (TS), chịu dưới quyền trực tiếp của ĐTĐ, nên phải sát cánh cùng ĐTĐ trong các đạo sự tại Hương đạo. Mọi đạo sự trong Hương đạo đều phải báo cáo với Đầu Tộc Đạo.

1. Bổn phận Chức việc BTS đối với Hội Thánh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: "Thầy dùng lương sanh mà cứu vớt quần sanh. Cả lương sanh ấy, Thầy dụng quyền thiêng liêng dạy dỗ, trước un đúc nơi lòng một khiếu từ bi cho tâm địa có tính ái vật ưu sanh theo tánh đức háo sanh của Thầy, dùng lợi khí phàm tục để độ rỗi người phàm tục. Những lương sanh ấy hiệp lại làm một, lập thành Hội Thánh, là xác thân phàm, tức hình thể hữu vi của Thầy tại thế để thể Thiên hành hóa, làm gương mẫu giáo hóa dìu dắt con cái của Thầy trên đường Đạo và đường Đời trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ, để Thầy tránh khỏi phải hạ trần như lúc Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ."

Bổn phận của Chức việc BTS là phải tuân mạng lịnh của Hội Thánh truyền dạy, không được phép trái với sở định của bề trên, chẳng lấy ý riêng của mình mà canh cải, bất tùng giáo hóa. Phải giữ lễ nghĩa khiêm cung đối với Chức sắc Hội Thánh cho vẹn toàn bổn phận làm em, dầu có người kém tài trí đi nữa, đàn em cũng chẳng nên khinh khi, vi lịnh. Khinh khi vi lịnh người tức là buộc vào mình tội bất tuân luật pháp.

Thảng như Chức sắc bề trên cầm quyền Hành Chánh Đạo rủi có việc chi ngộ bất cập lượng, sai suyễn một đôi điều không phù hạp luật thương yêu và quyền công chánh, thì bổn phận của đàn em được phép gián can với lễ độ của tình huynh đệ nhất gia, chỉ rõ những việc khuyết điểm để cho đàn anh suy độ mà cải cách hành vi cho phù hạp nhơn tâm, thuận tùng Thiên lý. Một điều nên ghi nhớ trong Tứ Đại Điều Qui là: Dưới gián trên đừng thất khiêm cung mà lỗi đạo làm em và bị phạm luật đạo.

Tóm lại, bổn phận Chức việc BTS, đã mang danh là Hội Thánh Em, mà đối với Hội Thánh cùng Chức sắc đàn anh bề trên được như vậy thì bao giờ Hội Thánh cũng tín nhiệm đàn em có tâm vì Đạo và cũng là làm tròn sứ mạng thiêng liêng của một Chức việc đối với Hội Thánh.

2. Bổn phận Chức việc BTS đối với bổn đạo.

Chúng ta công nhận Đức Chí Tôn là Ông Cha chung của nhơn loại về phần thiêng liêng, tức nhiên nhơn loại là anh em với nhau, mặc dù khác màu da sắc tóc, cái tình huynh đệ nầy giữa người đồng Đạo càng thêm thâm thúy và mật thiết hơn.

Đức Chí Tôn có giảng dạy:

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Đạo tức một Cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.

Vậy Chức việc BTS đối với bổn đạo đàn em phải hết dạ thương yêu, thành thật giúp đỡ và dìu dắt đàn em trên đường Đạo cũng như trên đường đời. Phải giữ hạnh khiêm cung từ nhượng, dùng lời dịu ngọt mà dạy dỗ, nhứt là phải đối xử cho công bình, giữ mình trong sạch để nêu gương tốt cho đàn em bắt chước.

Chức việc BTS được quyền sai khiến đàn em trong phạm vi quyền hạn của mình. Phải chỗ khiến thì ôn tồn mà khiến, chẳng phải chỗ sai chớ cưỡng bách mà sai, đừng làm điều chi quá quyền mà mất niềm hòa khí cùng nhau trong tình huynh đệ của đại gia đình tôn giáo.

Chức việc BTS là người thay Hội Thánh, thân cận với nhơn sanh trong Hương đạo, thì bổn phận của mỗi vị cần phải thực thi đúng trách nhiệm của mình y theo Pháp Chánh Truyền, tóm lược sau đây:

Chánh Trị Sự: Mỗi Hương đạo có một Chánh Trị Sự, thay mặt Hội Thánh làm đầu tín đồ, gọi là Đầu Hương Đạo, làm anh cả trong địa phận ấy, chịu trách nhiệm về phần Đời và phần Đạo đối với Hội Thánh.

Vì vậy, Chánh Trị Sự phải là người đầy đủ đạo hạnh, hiểu biết về Luật pháp Chơn truyền của Đại Đạo, có đủ năng lực dìu dẫn bổn đạo được trong ấm ngoài êm, chăm nom giúp đỡ sanh hoạt của môn đệ Thầy, giúp khó trợ nghèo, coi cả tín đồ như em ruột.

Chánh Trị Sự cầm quyền Luật pháp và Hành Chánh Đạo. Tại sao người cầm hết hai quyền? Bởi vì CTS là Đầu Sư Em, nên phải kiêm cả hai quyền và làm đầu trong một Hương đạo. Trong Luật pháp, cấm CTS không được xâm phạm ranh giới của CTS khác. Ngoài ra, luật pháp còn nghiêm cấm không cho công cử CTS Nội dung, CTS Đầu văn phòng, hoặc CTS Phổ tế.

Phó Trị Sự: là người thay mặt Chánh Trị Sự trong một Ấp, gọi là Tri Lý Đạo để lo về phần hành chánh đạo, đặng phép sửa đương giúp đỡ, dìu dắt, dạy dỗ chư tín đồ trong địa phận trấn nhậm.

Về mặt xã hội, giúp đỡ bổn đạo trong xóm ấp được tương thân tương trợ, gặp người hoạn nạn thì Phó Trị Sự phải sốt sắng kêu gọi bổn đạo chung tâm trợ giúp. Phó Trị Sự có quyền giáo hóa chớ không có quyền sửa trị.

Phó Trị Sự cầm quyền hành chánh tức là Chánh Trị Đạo, ở Pháp Chánh Truyền gọi là Giáo Tông Em. Hễ quyền trên lớn lao bao nhiêu thì quyền dưới cũng thế, nhưng Phó Trị Sự chỉ cầm quyền một Ấp đạo.

Hai vị Phó Trị Sự và Thông Sự đều đồng thể, không ai lớn ai nhỏ, cũng như Giáo Tông và Hộ Pháp, song quyền hành riêng biệt: Phó Trị Sự có quyền về Hành Chánh Đạo, còn Thông Sự có quyền về Luật lệ. Phó Trị Sự và Thông Sự đều có quyền ứng cử chức Chánh Trị Sự.

Thông Sự: là người thay mặt Chánh Trị Sự trong một Ấp, gọi là Thông Lý Đạo, để lo về phần luật lệ.

Thông Sự có quyền răn dạy người đạo phạm luật pháp của đạo bằng cách giải thích khuyên lơn, nếu đôi ba lần mà người phạm lỗi không biết ăn năn chừa cải thì Thông Sự có quyền phúc sự lên CTS khuyên giải hoặc định hình phạt sám hối. Thông Sự là người cầm luật pháp, nên trong Pháp Chánh Truyền gọi là Hộ Pháp Em, nghĩa là đồng quyền đồng thể, không hơn không kém, nhưng Hộ Pháp cầm quyền toàn Đạo khắp thế giới, còn Thông Sự chỉ cầm quyền trong địa phận một Ấp đạo mà thôi, vì thế mới gọi là Hộ Pháp Em. (Trích Hạnh Đường Huấn Luyện BTS)

V. Bổn phận của Đạo hữu:

Người tín đồ, tuy đã nhập môn vào Đạo Cao Đài, nhưng vẫn là một công dân của quốc gia, một thành viên của xã hội và của gia đình, nên người tín đồ Cao Đài phải có bổn phận trước hết là đối với quốc gia, đối với xã hội và sau đó là đối với gia đình. Đó là phần Nhơn đạo.

Nhơn đạo có lo tròn thì mới có thể tu hành cầu phần Thiên đạo giải thoát.

Phần Nhơn đạo của người tín đồ thì rất rõ ràng và có nhiều sách khai triển chi tiết, nhứt là các sách thuộc Nho giáo. Ở đây, trong phần nầy, xin nêu ra một số bổn phận của người Đạo hữu Cao Đài trong phạm vi tôn giáo.

Trong tôn giáo Cao Đài, một Đạo hữu cần có các bổn phận căn bản sau đây:

1. Phải tuân theo và gìn giữ luật pháp chơn truyền của Đại Đạo.

2. Luôn luôn ghi nhớ lời Minh Thệ lúc nhập môn cầu Đạo và giữ mình không được thất thệ.

3. Phải tuân lời dạy của Hội Thánh và của Chức sắc bề trên, nhưng cũng phải có sự nhận định sáng suốt đúng theo lẽ đạo.

4. Phải ăn chay tối thiểu 10 ngày trong một tháng, gìn giữ Ngũ giới cấm và Tứ đại điều qui theo Tân Luật.

5. Phải năng hầu đàn tại Thánh Thất và cúng Tứ thời tại tư gia.

Vào đạo rồi chớ nên lầm tưởng rằng, nhà mình có lập Thiên bàn thờ Thượng Đế, mỗi bữa cúng Tứ thời là đủ, cần chi phải đến Thánh Thất hầu đàn, vì ở đâu cũng Thầy vậy. Nghĩ như thế rất sai. Thánh Thất là nhà thờ chung lập ra cho chư Đạo hữu tới ngày sóc vọng (mùng 1 và 15) tựu đến, trước là dâng đại lễ cúng Thầy, cùng nghe thuyết pháp, sau nữa là có dịp cho mình hội hiệp nhau để luận bàn đạo đức, cùng xe chặt mối tương thân.

Thánh Thất lại là nơi biểu hiệu nền chơn đạo của Đấng Chí Tôn, do đó mà nhơn sanh mới biết cách hành đạo cùng cách sắp đặt đạo nghi niêm thức của mình ra thể nào, do đó mà đạo dễ phổ thông. Cho nên ngày sóc vọng, chư Đạo hữu nơi nào cần đến Thánh Thất nơi đó hầu đàn cho đông đảo thì đạo mới ra vẻ thạnh hành.

Nếu mỗi người cứ nói ở nhà cũng có Thầy, rồi nhà ai nấy cúng mãi, thì Thánh Thất tất phải bỏ không, ấy có phải là điều đại quan hệ cho nền đạo lắm chăng?

Điều lệ hầu đàn: Cúng tế Trời Phật quí tại lòng thành kỉnh. Chư Đạo hữu nam nữ đến hầu đàn phải cho tinh khiết nghiêm trang.

Vậy, trước khi đến hầu đàn, phải dọn mình cho sạch sẽ, hết lòng thành kính khẩn nguyện cùng Trời Phật. Đến đàn rồi, phải giữ lễ nghi cho nghiêm trang. Trước khi chỉnh đàn, không đặng ở trước Thiên bàn mà giỡn cợt hay là nói điều chi hoại sự hay là khạc nhổ trong đàn.

Dầu chỉnh đàn rồi, dầu chưa chỉnh đàn cũng vậy, nam nữ phải cho phân biệt thứ tự hẳn hòi, cứ trong ngó ra thì nam tả nữ hữu, không được lộn xộn, không phép nói cười lả lơi, không đặng lời to tiếng nhỏ, không đặng phép đem chuyện người ngoài mà thuật lại, không đặng luận bàn quốc sự, không đặng đồn đãi điều chi huyễn hoặc, không đặng nhắc chuyện bất bình buổi trước mà cãi lẫy nhau, không đặng hơn thua rầy rà, không đặng nói chuyện của Đạo hữu vắng mặt, không đặng dùng lời quanh co soi bói nhau, không đặng giả ý nói chơi mà kỳ trung châm chích nhau, không đặng đem đến đàn những sách vở chi khác hơn là sách vở mà Hội Thánh đã phê chuẩn.

Khi nhập đàn: Nhập đàn phải khăn đen áo dài trắng, môn đệ của Đấng Chí Tôn thì sắc phục cứ tuân theo Thánh ý, mỗi người ai phải lo phận nấy, giữ cho khỏi vô lễ với Đấng Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Chỉnh đàn rồi, phải phân hàng đứng hầu lẳng lặng, khi cúng phải cho đại tịnh.

Những người uống rượu lỡ thì không nên nhập đàn.

Hầu đàn thì thân thể phải cho tinh sạch, lòng dạ kỉnh thành. Việc tinh khiết cùng chẳng tinh khiết trong mình thì ai biết nấy, chớ người nào khác hơn mình thì không thể rõ đặng. Ai đến lỡ mà trong mình không tinh khiết thì chẳng khá nhập đàn, e mang lỗi cùng Trời Phật. (Trích Phương Châm Hành Đạo của Đức Quyền Giáo Tông)

6. Học tập cho nhuần nhuyễn 4 quyển sách căn bản của Đại Đạo là:

▪ Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.
▪ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
▪ Pháp Chánh Truyền.
▪ Tân Luật.

Tại sao chúng ta phải học đạo? Học đạo để biết Đấng Thượng Đế là ai? Ta là ai? Tại sao chúng ta phải tu? Mục đích của đời sống con người là gì? v.v....

Trong các việc học thì học đạo là khó khăn nhất, vì học chữ chỉ dùng trí não để lãnh hội, còn học đạo thì dùng cả trí não và tâm hồn mới lãnh hội được.

7. Đạo hữu còn phải học tập thêm các kinh sách khác của Đạo để trau giồi kiến thức và nhờ đó được:

- củng cố và phát triển đức tin,

- từ bỏ mê tín, chỉ còn chánh tín,

- biệt phân thiện ác, chánh tà.

Sách kinh luật lệ trong Đạo chẳng khác nào ngọn đèn để soi tỏ bước đường cho người giữ đạo.

Người ít học cần năng đọc sách xem kinh, một là mở mang kiến thức cho mình, hai là đặng rõ thông đạo lý. Luật đạo là qui tắc dọn sẵn để mọi người do theo mà hành đạo cho có chuẩn thằng, cho khỏi phạm điều giới cấm. Có người nhập môn rồi mà không lo học hỏi theo kinh sách, giữ mình theo luật lệ, mỗi ngày chỉ cúng Tứ thời là gọi đủ, rồi than phiền rằng: Vào Đạo rồi mà không thấy ai chỉ bày tâm pháp, đạo lý chi hết. Than phiền như vậy rất sai lầm, vì số bổn đạo vẫn hằng ức hằng triệu, ai hơi đâu chỉ biểu từ người. Thiên thơ sẵn, chơn kinh sẵn, tại mình không thỉnh mà xem, để than phiền trái lẽ.

Đó là phần người ít học. Còn phần người trí thức, tuy mình tài cao trí rộng mặc dầu, chớ mới bước chơn vào cửa Đạo, không thế nào hiểu đạo cho rành, mà dầu có hiểu thông đạo lý đi nữa, cũng nên xem kinh sách nào thuở nay mình chưa đọc đến, vì kinh sách ấy có lẽ cũng giúp thêm kiến thức cho mình nhiều ít. Vả lại, tuy mình tài trí mặc dầu, chớ mới vào đạo, thế nào hiểu thấu tôn chỉ cùng luật pháp đạo mầu cho rành rẽ. Ví dụ như một người thông minh kia sang đến xứ lạ nọ, muốn biết đường sá nơi ấy cần phải hỏi thăm người bổn thổ, chớ có đâu tự phụ rằng, mình là người thông thái, không cần chi phải hỏi han đến kẻ thường nhơn thiểu học.

Việc Đạo cũng vậy, mình giỏi là giỏi về phương diện khác mà thôi, chớ mới vào cửa Đạo, tức cần phải hỏi đạo nơi người thông đạo trước mình, hoặc là học cứu nơi kinh sách. Đến khi rõ thông đạo lý rành rẽ rồi, nhờ trí thức của mình ra công nghiên cứu thêm nữa, có lẽ mình sẽ trổi hơn người đã chỉ dẫn cho mình trước đó, rồi mình có thể trước tác ra nhiều sách vở có giá trị hơn sách vở mà mình đã xem trong buổi nhập môn cầu đạo.

Phải xem kinh sách thế nào?

Kinh sách vẫn do các Ngài rõ thông đạo lý soạn ra, song các bực ấy vốn cũng người phàm như mình, nên cũng có chỗ sai lầm sơ sót, vì vậy mà kinh sách tự nơi mấy vị ấy soạn ra cũng có chỗ khuyết điểm sai lầm. (Xin chớ lầm tưởng rằng, kinh điển xưa vẫn là của Thánh Tiên làm ra hết; dầu cho thiệt của Thánh Tiên đi nữa, chớ lúc soạn ra kinh điển ấy, các Ngài vẫn cũng còn phàm thì tất phải còn lầm lạc).

Vả lại, kinh sách làm ra phải hạp thời tùy thế. Có nhiều quyển kinh xưa, sách cũ đối với đời trước thì rất hạp thời, mà đối với đời nay lại có lắm điều không hạp (Tác giả [Đức Quyền Giáo Tông] không trưng bằng cớ ra đây là không muốn kích bác đến kinh sách nào cả).

Vậy nên, muốn đọc kinh sách nào cho được bổ ích, ta cần biết suy nghĩ nghiên cứu, khoản nào chánh lý thì để lòng, đoạn nào mờ hồ thì chớ nên tin vội, chỗ nào hạp theo thời thế thì nghe, khoản nào nghịch với tôn chỉ thì bỏ. Chẳng nên quá tin nơi kinh sách, chớ nên tưởng rằng, kinh sách của Thánh Hiền làm ra cả thảy, nên dạy sao phải nghe nấy. Đọc sách như vậy thì nguy lắm đó!

Kinh sách có chỗ đáng tin mà có chỗ cũng không nên tin. Nếu tin hết thì phải lầm lạc. Đọc kinh sách mà không biết phân biệt điều nào hữu lý, điều nào phi lý; đọc kinh sách mà tri thức không biết mở mang, tư tưởng không biết độ lượng, thành ra đã tốn công vô ích, lại còn làm nô lệ kinh sách nữa. Như vậy, thà đừng đọc là hơn.

Sách có câu: Tận tín thư bất như vô thư, nghĩa là: Tin hết sách chẳng bằng không đọc sách.

Thuở nay, nhiều người quá tin nơi kinh sách điển xưa, cứ nhắm mắt tin theo từng chữ, nghe từng câu, rồi hiểu sái tin lầm, khổ tâm luyện đạo. Than ôi! đã không ấn chứng thì chớ, lại còn hại đến tinh thần là khác.

Ấy vậy, xem kinh sách để rõ thông đạo lý thì nên, chớ do theo đó mà luyện đạo thì nguy lắm, vì hễ hiểu lầm một mảy thì cũng đủ hại cho châu thân.

Muốn luyện đạo cho ấn chứng, trước hết ta cần phải tu âm chất và lập công bồi đức cho đầy đủ, đến khi công viên quả mãn rồi, một câu tâm pháp chơn truyền của Thầy ta là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng đủ cho ta hiểu đạo.

Vả lại Đức Thượng Đế có dạy rằng: "Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh chẳng khác chi đũa ăn cơm. Chẳng có nó, kẻ ăn cơm bốc tay cũng ăn đặng."

Ý Đấng Chí Tôn muốn nói như vầy: Kinh điển tỉ như đũa, luyện đạo tỉ như ăn cơm. Người đủ âm chất đạo đức, rõ thông kinh điển thì luyện đạo rất giản tiện, tỉ như người ăn cơm có đũa vậy. Còn người có đủ âm chất đạo đức mà không rõ thông kinh điển đi nữa, bất quá luyện đạo khó một chút vậy thôi, thế nào luyện cũng thành đặng, tỉ như kẻ ăn cơm, dầu không đũa, bốc ăn cũng xong vậy.

Tóm lại, vào cửa Đạo rồi, bất kỳ kinh xưa sách nay, thảy đều nên xem cho biết, song cần phải xét suy chiêm nghiệm, phân biệt giả chơn, thì đọc mới bổ ích.

(Trích trong Phương Châm Hành Đạo của Đức Quyền Giáo Tông)

8. Bổn phận quan trọng nhứt là làm công quả.

Làm công quả là làm những công việc nơi cõi trần để hưởng cái kết quả ích lợi nơi cõi thiêng liêng.

Không phải chỉ có vô Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu làm những công việc nơi đó mới gọi là công quả. Chúng ta phải hiểu cho rộng rãi hơn, nghĩa là làm tất cả công việc giúp đời, giúp người, nói chung là cứu khổ ban vui cho chúng sanh mà không nhận tiền thù lao với tấm lòng vui vẻ tự nguyện thì gọi là công quả.

Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy, muốn đắc đạo thành Tiên, Phật thì phải làm công quả.

Trong TNHT, Đức Chí Tôn xác định rằng:

"Người dưới thế nầy, muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của; còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc đạo phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng là tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ." (Xem tiếp: Phương pháp tu hành trong thời Đại Ân Xá).

9. Người Đạo hữu, khi đi trên con đường đạo, gặp phải nhiều khó khăn chướng ngại thì nên xin thọ Phép Giải Oan nơi vị Giáo Hữu Khâm Châu Đạo trong những ngày mùng 1 hay 15 tại Thánh Thất. Hiệu quả của Phép Giải Oan được nói rõ trong bài Kinh Giải Oan in trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

Ngoài ra, đối với con cháu thiếu nhi dưới 17 tuổi trong gia đình, nên đưa đến Thánh Thất thọ lễ Tắm Thánh và xin cấp cho đứa nhỏ một Giấy chứng nhận Tắm Thánh. Giấy nầy có giá trị đối với đứa nhỏ như là Sớ Cầu Đạo của người Đạo hữu vậy.

Ý nghĩa của việc Tắm Thánh được nói rõ trong bài Kinh Tắm Thánh. Sự Tắm Thánh nầy còn có ý nghĩa là tẩy rửa chơn thần của đứa bé cho trong sạch để mở mang trí thông minh của nó, học hành mau tiến bộ.

(Lưu ý: Thanh niên đủ 18 tuổi mới được nhập môn cầu đạo và được cấp giấy Sớ Cầu Đạo).

VI. Luật công cử Chức việc Bàn Trị Sự:

A. Công cử Chánh Trị Sự:

Chánh Trị Sự (CTS) phải chịu cho toàn cả Phó Trị Sự và Thông Sự trong Hương đạo xúm nhau công cử.

Đạo hữu được mời đến dự kiến để phê bình chỉ trích hoặc đồng ý với ứng cử viên, ký tên vào Vi bằng công cử, nhưng không có quyền bỏ thăm bầu cử CTS.

Hồ sơ Ứng cử viên gồm có:

1. Đơn xin ứng cử.

2. Chứng chỉ Hạnh kiểm.

3. Tờ khai lý lịch và công nghiệp.

Chỉ có Phó Trị Sự hoặc Thông Sự đương quyền mới được ứng cử chức Chánh Trị Sự. Đạo hữu không có quyền ứng cử chức CTS. Hồ sơ ứng cử phải nạp cho Đầu Tộc Đạo.

Chánh Trị Sự là người có đầy đủ đạo hạnh, hiểu biết về luật pháp chơn truyền của Đại Đạo, có đầy đủ năng lực dìu dẫn bổn đạo được trong ấm ngoài êm, chăm nom giúp đỡ sanh hoạt của môn đệ Thầy, giúp khó trợ nghèo, coi cả tín đồ như anh em ruột. Do đó, việc công cử một vị Chánh Trị Sự phải cho châu đáo. Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo cần quan sát kỹ lưỡng hạnh kiểm và năng lực hành đạo của ứng cử viên trước khi đem ra công cử.

Sau khi Đầu Tộc Đạo xem xét xong hồ sơ mỗi vị rồi, phải gởi danh sách cho toàn Chức việc trong Hương đạo hiểu biết và định ngày công cử, ít nhứt là trước 10 ngày.

Chánh Trị Sự đắc cử mỗi nhiệm kỳ là 5 năm.

Đắc cử rồi mà vô cớ phế phận, không trọn khóa đắc cử thì không được kể công nghiệp, mặc dù có viện lý do.

Chánh Trị Sự mãn khóa được quyền ra ứng cử và tái cử lại một khóa nữa (Thủ tục cũng như mới ra ứng cử).

Một khi có cuộc công cử Chức việc Bàn Trị Sự thì phải thành lập một Ủy Ban chứng sự, xem xét cuộc công cử hầu tránh điều gian lận trong khi đầu phiếu.

Ủy Ban nầy có ba nhân viên:

- Đầu Tộc Đạo sở tại làm Chủ Tọa.

- Luật Sự Pháp Chánh địa phương làm Giám Thị.

- Chánh Trị Sự Đầu Hương Đạo kế cận chứng kiến.

Sau cuộc đầu phiếu công cử xong, phận sự của Ủy Ban nầy là tuyên bố liền tên họ của người đắc cử, kế lập Vi Bằng công cử và tờ cử 3 bổn y nhau, gởi về cho Khâm Châu Đạo nhờ xem xét và phê kiến, rồi giao trả cho Tộc Đạo 1 bổn để hồ sơ lưu chiếu, 1 bổn để hồ sơ văn phòng Khâm Châu Đạo, còn 1 bổn gởi về văn phòng Lại Viện.

Đến mãn hạn kỳ 6 tháng tạm vị, nếu xét đủ tinh thần phục vụ, hạnh kiểm tốt, không phạm luật đạo, Đầu Tộc Đạo lập phúc trình và hồ sơ ứng cử, Vi bằng Công cử, Tờ cử, đính theo ba ảnh bán thân (4 x 6), Hội Thánh sẽ ban Đạo Cấp chánh vị. Đó là cuộc công cử đúng phép.

Về việc bỏ thăm bầu cử: có hai cách:

- hoặc bỏ thăm kín bằng cách viết tên người mà mình lựa chọn trên lá thăm,

- hoặc bỏ thăm hở bằng cách đưa tay.

Nhưng cách bỏ thăm kín hay hơn, cốt để tránh việc xu hướng và vị nể.

Lúc khui thăm, Chủ tọa mở các lá thăm đọc rõ từng tên cho Thơ ký ghi chép để xem ai nhiều ít. Vị nào đắc cử là chiếm được đa số thăm hơn hết, song ít nhất được 1 thăm trội hơn phân nửa tổng số thăm mới đặng.

Thí dụ: Số cử tri là 10 thì số thăm tối thiểu để đắc cử phải là: 5 + 1 = 6 lá thăm.

Nhược bằng cuộc bầu cử lần đầu không có người chiếm đủ đa số thăm như vậy thì Chủ tọa tuyên bố tái bầu cử, ai được nhiều thăm hơn là đắc cử, khỏi luật buộc 1 thăm hơn phân nửa tổng số.

B. Công cử Phó Trị Sự và Thông Sự:

Mỗi tín đồ, sau khi đổi Sớ Cầu Đạo Tạm, lấy Sớ Cầu Đạo Thiệt Thọ rồi, đều có quyền bầu cử và ứng cử chức Phó Trị Sự hay Thông Sự, nhưng nam nữ riêng biệt vì hai hệ thống Hành Chánh Đạo nam và nữ riêng biệt nhau.

Ứng cử viên Phó Trị Sự và Thông Sự phải là người Đạo hữu giữ thập trai, có đạo tâm, sốt sắng và có năng lực hành sự. Mỗi Ấp đạo chỉ có một Phó Trị Sự và một Thông Sự làm đầu. Phó Trị Sự và Thông Sự đồng thể cùng nhau, song quyền hành riêng biệt: Phó Trị Sự có quyền về Hành Chánh Đạo, còn Thông Sự có quyền về Luật lệ.

Khi công cử thì Đầu Tộc Đạo chủ tọa, Chánh Trị Sự sở tại thị chứng, Pháp Chánh làm giám thị, các Đạo hữu trong Ấp đạo làm cử tri (người bỏ thăm).

Số Đạo hữu đến bỏ thăm không được dưới 12 người.

Các văn kiện sau khi đắc cử cũng làm y như trường hợp công cử Chánh Trị Sự.

Trường hợp đặc biệt Hương đạo mới thành lập: Đề cử

Hương đạo mới phổ độ thành lập thì Đầu Tộc Đạo có quyền đề cử, nghĩa là lựa chọn trong hàng Đạo hữu, những vị nào có hạnh kiểm tốt, đạo tâm sốt sắng, để thành lập Bàn Trị Sự đầu tiên, gồm có:

- 1 Chánh Trị Sự, - 1 Phó Trị Sự, - 1 Thông Sự.

Sau khi đề cử xong, Đầu Tộc Đạo phải đệ tờ về Hội Thánh xin xác nhận mới có giá trị.

(Trích trong tài liệu Hạnh Đường Huấn Luyện Lễ Sanh và Huấn Luyện Bàn Trị Sự)

VII. Phụ lục: Sắc lệnh của Đức Hộ Pháp về Bộ Nhạc, Lễ sĩ, Giáo nhi.

Để có sự hiểu biết về các Ban chuyên môn: Nhạc, Lễ và Đồng nhi, chúng tôi xin chép ra sau đây Thánh Lịnh của Đức Phạm Hộ Pháp qui định về Lễ sĩ, Giáo nhi và Thánh Lịnh thành lập các phẩm Chức sắc của Bộ Nhạc.

1. Về Lễ Sĩ và Giáo Nhi:

Văn phòng ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
PHẠM HỘ PHÁP (Thập nhi niên)
---ooo---
Số: 51
TÒA THÁNH  TÂY NINH
 

SẮC LỊNH

Nghĩ vì Tân Kinh là Kinh Tận độ đã ra, nên cần nhứt phải có Lễ sĩ và Giáo nhi dạy mấy em Đồng nhi cho thành thuộc, phòng độ rỗi phần hồn của toàn con cái Chí Tôn khắp cả các nơi mà phướn đạo đã đủ huyền linh che chở,

Nghĩ vì Hội Thánh mong mỏi mở rộng con đường Thánh đức cho đoàn hậu tấn bước vào Thánh Thể của Chí Tôn đặng lập vị,

Nghĩ vì trẻ em đồng nhi từ 11 năm mở Đạo đến nay đã trưởng thành nên buộc Hội Thánh định phần phong thưởng công nghiệp, nên:

SẮC LỊNH:

Từ đây mở khoa mục mỗi năm cho Lễ sĩ và Giáo nhi thi cử.

Lễ sĩ thi theo mặt kinh luật của đạo về Quan, Hôn, Tang, Tế, nhứt là về Lễ Nhạc. Buộc Lễ sĩ phải cần cho hay một món đờn trong mấy thứ âm nhạc: Tam, Tiêu, Tranh, Đản, Kìm, Tỳ, Cò, Độc.

Giáo nhi thì phải thuộc lòng Tân Kinh và cũng phải thuộc một môn âm nhạc như Lễ sĩ.

Những Đồng nhi nam nữ có đủ giấy chứng của Tòa Thánh, lớn trên 20 tuổi mới đặng thi Lễ sĩ và Giáo nhi, và phải biết viết với đọc chữ quốc ngữ.

Mỗi năm mở khoa mục ngày rằm tháng 10 tại Tòa Thánh. Hội Thánh chia ra hai thứ Lễ sĩ và Giáo nhi:

* Thứ nhứt là những hạng Lễ sĩ và Giáo nhi trọn hiến thân cho Hội Thánh, nhứt là Giáo nhi đã tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì sẽ đặng thuyên bổ hành đạo trong các Thánh Thất bất cứ nơi nào. Hễ đủ 5 năm công nghiệp thì thăng Lễ Sanh, khỏi phải cầu phong lại nữa.

Hạng Lễ sĩ và Giáo nhi nầy trên quyền Chánh Trị Sự và dưới quyền Lễ Sanh, nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào Chánh trị đạo hay luật pháp Tòa Đạo.

* Thứ nhì là hạng Lễ sĩ và Giáo nhi ở lại gia đình, nhứt là Giáo nhi có chồng con theo thế thì không đặng vào nơi Thánh Thất nào mà hành đạo hết, duy hành đạo nơi xóm làng của mình mà thôi, lại buộc mỗi năm phải dạy ít nữa là trên 36 đứa Đồng nhi; Lễ sĩ thì dạy Nam, Giáo nhi thì dạy Nữ, chớ không đặng dạy lộn xộn Nam Nữ chung nhau. Cấm nhặt Lễ sĩ không đặng dạy Đồng nhi Nữ.

Nếu mỗi năm có một phái Chức sắc, Chức Việc sở tại nói rằng dạy thiếu và không đi hành đạo thì bị ngưng chức liền. Hội Thánh không cần minh tra lại nữa.

Hạng nầy tùng quyền Chánh Trị Sự và ngang quyền Phó Trị Sự, Thông Sự nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào Chánh trị đạo hay luật pháp Tòa Đạo. Đủ 8 năm công nghiệp đổ lên mới đặng cầu phong Lễ Sanh, nhưng do nơi tờ yêu cầu của Chức sắc và Chức Việc sở tại mới đặng.

* Lễ sĩ mặc như Lễ Sanh Nam phái, nhưng trên mão ngay trán có Tam Sắc Đạo và Cổ pháp của Giáo Tông là Thư Hùng Kiếm, Long Tu Phiến và cây Phất Chủ thêu trên. (1)

* Giáo nhi mặc Đại phục như Lễ Sanh Nữ phái nhưng không đặng giắt bông sen trên đầu tóc, còn Tiểu phục cũng vậy nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.

Kiểu y phục nầy phải do nơi tiệm Linh Đức.

Kỳ dư mấy vị Lễ sĩ và Giáo nhi đương thời hành đạo trong Hội Thánh và có tờ của Hội Thánh công nhận chánh thể rồi; Hội Thánh nhứt định cấm nhặt không ai đặng xưng danh hiệu Lễ sĩ hay Giáo nhi mà không có khoa mục và cấp bằng của Hội Thánh ban cho đủ lẽ.

Khai Pháp, Tiếp Thế, Tiếp Đạo HTĐ, Quyền Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối Sư, Nữ Chánh Phối Sư và Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo, mỗi vị tùy phận sự thi hành Sắc lịnh nầy.

Lập tại Tòa Thánh Tây Ninh, ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý.

(22 Décembre 1936)

HỘ PHÁP

Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng (ấn ký)

TĐ ĐPHP: Giáo nhi từ trước cho lên Giáo Thiện (CQPT) là thể theo lòng từ bi bác ái của Đức Chí Tôn mà ân tứ. Nhưng kể từ nay, Giáo nhi có thể lên Lễ Sanh, chớ không được lên Giáo Thiện vì thiếu luật tạo nghiệp cho 12 gia đình.

(1) Đạo phục của Lễ sĩ ngày nay không có Tam sắc đạo và cổ pháp Giáo Tông, nay chỉ có một bông sen trên mão giữa trán.

2. Về các phẩm Chức sắc Bộ Nhạc:

Văn phòng ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
PHẠM HỘ PHÁP Thập nhi lục niên)
---ooo---
Số: 25
TÒA THÁNH  TÂY NINH
 

THÁNH LỊNH
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (15-2-1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ đến ngày có Đầu Sư chánh vị;

Chiếu y Sắc Lịnh số 51 ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý (22-12-1936) định phần phong thưởng cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi đầy đủ 5 năm công nghiệp;

Nghĩ vì Ban Lễ đã định phận thì Bộ Nhạc cũng được hưởng đặc ân của Hội Thánh đặng tiến bước lập vị.

THÁNH LỊNH:

Điều thứ 1: Trong Bộ Nhạc của Tòa Thánh có 9 phẩm ân phong như sau nầy:

1. Nhạc Sĩ 2. Bếp Nhạc 3. Cai Nhạc
4. Đội Nhạc 5. Quản Nhạc 6. Lãnh Nhạc
7. Đề Nhạc 8. Đốc Nhạc 9. Nhạc Sư.

Điều thứ 2: Bộ Nhạc chuyên chú về tài năng nghệ thuật thì từ hạ phẩm đến thượng phẩm, mỗi cấp đều có khoa mục đặng tuyển chọn danh nhơn điều khiển nội ban.

Trong mỗi kỳ khoa mục, vị nào đủ tài ứng thí thì được phép xin thi và mỗi khi thi đậu là mỗi lần được thăng phẩm, nhưng không được xin ứng thí vượt bậc.

Điều thứ 3: Nếu thi rớt vì không đủ tài thì ở lại phẩm cũ, chờ đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu ân phong.

Phẩm Nhạc Sư đủ 5 năm công nghiệp thì thăng lên Phối Sư hay là Tiếp Lễ Nhạc Quân nếu có khuyết.

Điều thứ 4: Chín phẩm trong Bộ Nhạc đối với 9 phẩm của HTĐ hay các phẩm khác của CTĐ và Phước Thiện như sau nầy:

BỘ NHẠC PH. CHÁNH CỬU TRÙNG P. THIỆN
Nhạc Sĩ Luật Sự Chánh Trị Sự Hành Thiện
Bếp Nhạc
Cai Nhạc
Sĩ Tải Lễ Sanh Giáo Thiện
Đội Nhạc
Quản Nhạc
Lãnh Nhạc
Truyền Trạng
Thừa Sử
Giáo Hữu Chí Thiện
Đề Nhạc
Đốc Nhạc
Nhạc Sư
Giám Đạo
Cải Trạng
Giáo Sư Đạo Nhơn
Chơn Nhơn
  Chưởng Ấn
Tiếp Dẫn Đạo Nhơn
Phối Sư
Chánh Phối Sư
Hiền Nhơn
Thánh Nhơn
  Thập nhị Thời Quân Đầu Sư Tiên Tử

Điều thứ 5: Chư vị: Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Thượng Thống Lại Viện, Đạo Nhơn Chưởng Quản Phước Thiện, Phụ Thống Lễ Viện Hành Chánh, Phụ Thống Lễ Viện PT, Nhạc Sư Bộ Nhạc, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

Tòa Thánh, ngày 29 tháng 3 năm Tân Mão (4-5-1951)

HỘ PHÁP (ấn ký)

Đạo phục của các Chức sắc Bộ Nhạc:

"Ngày 22-8-Đinh Hợi (6-10-1947), quí ông Nhạc Sư Võ Văn Chở, Đốc Nhạc Đinh Văn Biện và Đề Nhạc Hồ Văn Sai có văn bản thỉnh giáo Đức Hộ Pháp về Đạo phục của Chức sắc Bộ Nhạc, được Đức Ngài bút phê, như sau:

"Bần đạo đã dạy trước rằng, mặc sắc phục hồng (màu đỏ), áo đỏ, quần trắng, như các vị võ sĩ cựu, có viền kim tuyến bạc nơi cổ nơi tay, ngay ngực có mang ba màu đạo, chính giữa thêu hình cây đờn tỳ bà. Dưới cây đờn thì để chức tước của vị Chức sắc ấy, áo cụt khỏi trôn mà thôi. Từ Nhạc Sĩ trở lên tới Lãnh Nhạc viền kim tuyến bạc, từ Đề Nhạc đổ lên viền kim tuyến vàng."

Như vậy, Chức sắc Bộ Nhạc đều mặc đại phục y như nhau theo lời dạy trên, chỉ phân biệt tước phẩm ghi ở phía dưới cây đờn tỳ bà trên tam sắc đạo thêu nơi ngực và màu kim tuyến viền nơi cổ và nơi tay áo.

Đức Hộ Pháp không có dạy về mão và tiểu phục của Chức sắc Bộ Nhạc, nhưng trên thực tế thì Chức sắc Bộ Nhạc đội mão và mặc tiểu phục như sau:

a) Mão đại phục: Gọi là Hỗn Nguơn mạo có hình dáng như mão Ngưỡng Thiên của Giáo Hữu phái Ngọc nhưng thấp hơn một chút (cao khoảng 12 cm), giữa mão, ngay trước trán có Tam sắc đạo, gác xéo một cây đờn tỳ bà.

b) Tiểu phục: Từ Nhạc Sư đổ xuống Nhạc Sĩ đều mặc áo tràng trắng, có thắt ngang lưng một sợi dây nịt trắng như tiểu phục của Chức sắc HTĐ từ phẩm Cải Trạng đổ xuống Luật Sự. Đầu đội Bán Nguyệt mạo như cái ca-lô trắng (giống mão của Đầu Phòng văn), ngay giữa trán có huy hiệu hình chữ nhựt bằng kim khí, trên có Tam sắc đạo và cây đờn tỳ bà gác xéo.

***

Năm 1952, Đức Phạm Hộ Pháp ra Thánh Lịnh mở khóa thi tuyển Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc đặng bổ khuyết cho đủ số ứng dụng trong Đạo.

Nguyên văn Thánh Lịnh ấy chép ra dưới đây:

HỘ PHÁP ĐƯỜNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Văn phòng ((Thập nhi thất niên)
---ooo---
Số: 13
TÒA THÁNH  TÂY NINH
 

THÁNH LỊNH
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (15-2-1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ đến ngày có Đầu Sư chánh vị;

Nghĩ vì cần mở Khoa thi Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc đặng bổ khuyết cho đủ số ứng dụng trong cửa Đạo.

Do theo lời phê của Hộ Pháp ngày 6 tháng 10 Tân Mão phân định thể thức khoa mục Nhạc Sĩ và các cấp trong Bộ Nhạc.

THÁNH LỊNH

Điều thứ 1: Khoa thi Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc sẽ mở tại Tòa Thánh ngày rằm tháng chạp Tân Mão tại Báo Ân Từ đúng 3 giờ chiều. Những đơn xin thi phải đệ lên Văn phòng HTĐ ngày 14 tháng chạp Tân Mão là ngày chót.

Điều thứ 2: Thể thức thi Nhạc Sĩ là: Biết cầm một cây đờn và trọn hiểu nhạc khi có Tiểu đàn và Đại đàn, nhạc trống tiếp giá.

Thể thức thi Bếp Nhạc là: Biết trọn nghi lễ và nhạc nghệ về tài tử.

Điều thứ 3: Ban Giám khảo trong cuộc thi nầy là:

Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo . . Chủ tọa.

Nhạc Sư Võ Văn Chở . . . . . . . . . . . . Giám khảo.

Giáo Hữu Thái Huỡn Thanh . . . . . . . . Giám khảo.

Chí Thiện Lê Văn Phuông . . . . . . . . . .Giám khảo.

Điều thứ 4: Vị Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo và Chức sắc có danh sách trong Ban Giám khảo, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

Lập tại Tòa Thánh, ngày 9 tháng 12 Tân Mão (5-1-1952)

HỘ PHÁP (ấn ký)

 


 

Chương 9:
 

PHÁP CHÁNH

 

I. Thành lập Bộ Pháp Chánh:

Khi Đức Chí Tôn lập pháp Hiệp Thiên Đài, Đức Chí Tôn giao cho HTĐ hai nhiệm vụ:

- Nhiệm vụ thiêng liêng: phò cơ cho Đức Giáo Tông thông công với các Đấng Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng.

- Nhiệm vụ phàm trần: cầm quyền luật lệ của Đạo.

Lúc đó, HTĐ chỉ có 15 vị: Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, và 12 Thời Quân.

Sau đó, ngày 16-2-Ất Hợi (dl 20-3-1935) Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn vâng lịnh Đức Chí Tôn, giáng cơ lập 7 phẩm Chức sắc dưới Thập nhị Thời Quân, kể ra:

▪ Tiếp Dẫn Đạo Nhơn (Instructeur)
▪ Chưởng Ấn (Chancelier)
▪ Cải Trạng (Avocat)
▪ Giám Đạo (Inspecteur)
▪ Thừa Sử (Commissaire de justice)
▪ Truyền Trạng (Greffier)
▪ Sĩ Tãi (Secretaire Archviste)

Đức Hộ Pháp lập thêm một phẩm Luật Sự (Agent judiciaire) theo Sắc lịnh số 34 ngày 23-5-Bính Tý (dl 11-7-1936), và muốn vào phẩm nầy phải thi tuyển.

Chúng ta nhận thấy tên của các phẩm Chức sắc nầy đều có ý nghĩa về luật pháp.

Nhờ số Chức sắc dưới Thập nhị Thời Quân, Hội Thánh HTĐ thành lập Tòa Đạo để cầm quyền Tư Pháp của Đạo vào năm Mậu Dần (1938), lập ra các Tòa Đạo để xử trị các Chức sắc và Đạo hữu vi phạm luật pháp của Đạo.

(Tư pháp có nghĩa là quản lý luật pháp, lập ra các Tòa án để xét xử những người vi phạm luật pháp)

Ngày 15-10-Đinh Hợi (dl 27-11-1947), Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa đang đảm nhận nhiệm vụ Chưởng Quản Tòa Đạo, lập ra cách Tổ Chức và Nội Luật của Bộ Pháp Chánh, thì danh từ Bộ Pháp Chánh mới được sử dụng, và ngày 15-10-Đinh Hợi được xem là ngày thành lập Bộ Pháp Chánh, thay thế Tòa Đạo.

Bộ Pháp Chánh là cơ quan Trung ương tại Tòa Thánh coi về Tư Pháp của Đạo, dưới quyền Chưởng quản của một vị Thời Quân chi Pháp HTĐ. (Nếu không có Thời Quân chi Pháp thì Thời Quân chi Đạo hay chi Thế đều có thể nắm quyền chưởng quản Bộ Pháp Chánh)

II. Nhiệm vụ và quyền hành:

Bộ Pháp Chánh là cơ quan để bảo thủ luật pháp chơn truyền, dìu dẫn và lập vị cho nhơn sanh trong khuôn viên đạo pháp, gìn giữ cân công bình thể Thiên hành hóa, không ai qua luật mà Hiệp Thiên Đài không biết.

Bộ Pháp Chánh lập ra các Tòa đạo cốt yếu là để binh vực những người bị uất ức, trừng phạt những người phạm luật pháp, gìn giữ quyền hành phân minh, đẳng cấp trật tự cho nền Hành Chánh Đạo.

Lập Tòa đạo là để răn trị kẻ phạm pháp luật, hầu tránh khỏi Thiên điều trừng trị, nếu bị thế trị thì mới mong giảm tội thiêng liêng, bằng không bị thế trị thì bị Thiên điều, có mong chi cứu rỗi.

Vậy, Pháp Chánh rất cần thiết để gìn giữ phẩm trật, địa vị của mỗi con cái Đức Chí Tôn và quyền hành phân minh trong các cơ quan của nền Đại Đạo.

Trách nhiệm trọng hệ hơn hết của Bộ Pháp Chánh là công bình, vô tư, vô vị.

Ngoài phận sự bảo vệ luật pháp chơn truyền giống như chư vị Thời Quân HTĐ, chư vị cầm quyền Pháp Chánh còn có phận sự chăm nom cả hành vi của toàn thể Chức sắc và Đạo hữu trong các cơ quan Hành Chánh Đạo và Phước Thiện trong phạm vi hành sự của mình, thị chứng các cuộc nhóm họp để giữ cho được hợp pháp.

Ngoài ra, Bộ Pháp Chánh còn được giao nhiệm vụ: Minh tra công nghiệp cầu phong và cầu thăng của tất cả Chức sắc Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện nam nữ.

Nếu Bộ Pháp Chánh chứng nhận Chức sắc CTĐ hay PT có đầy đủ công nghiệp thì mới được đem tên vào sổ cầu phong hay cầu thăng phẩm cấp.

"Trong trường hợp điều tra, khi một Chức sắc phạm tội, Bộ Pháp Chánh có quyền tạm bãi miễn, tức là tạm thâu quyền và chức của vị ấy, để đưa bị cáo nhân ra Tòa Pháp Chánh điều tra hay thẩm phán, sau khi ấy, nếu trắng án, vô tội sẽ được phục quyền chức như cũ."

(Trích trong quyển Chánh Trị Đạo của Ngài Trần Khai Pháp)

Do đó, Bộ Pháp Chánh có quyền hành rất rộng lớn, chi phối tất cả các Chức sắc CTĐ và CQPT.

Tóm tắt quyền hành rộng lớn của Bộ Pháp Chánh:

1. Bảo thủ Luật pháp Chơn truyền của Đạo:

- Luật thì có Tân Luật, Đạo luật, Luật Hội Thánh.

- Pháp thì có PCT và Đạo Nghị Định.

2. Lập các Tòa Đạo để xử trị những người vi phạm Luật pháp Đạo, từ hàng Đạo hữu đến các Chức sắc của CTĐ và Phước Thiện. (Riêng Chức sắc HTĐ vi phạm Luật Pháp thì có Ban Kỷ Luật HTĐ sửa trị).

3. Minh tra công nghiệp của Chức sắc CTĐ và Phước Thiện. Việc thăng phẩm Chức sắc hoàn toàn tùy thuộc vào sự minh tra nầy.

III. Tổ chức của Bộ Pháp Chánh:

Bộ Pháp Chánh tổ chức các Tòa Đạo từ Trung ương đến địa phương.

Bộ Pháp Chánh bổ nhiệm các Chức sắc HTĐ (dưới Thập nhị Thời Quân) đi hành đạo về Pháp Chánh nơi các địa phương, từ Tộc Đạo đến Châu Đạo và Trấn Đạo.

* Pháp Chánh tại Tộc Đạo là một vị Luật Sự (đối phẩm Chánh Trị Sự).

(Theo Hiến pháp của Chức sắc HTĐ thì phẩm Luật Sự chưa được bổ nhiệm làm Pháp Chánh Tộc Đạo, nhưng vì số lượng Chức sắc Pháp Chánh quá thiếu nên phải bổ nhiệm Luật Sự làm Pháp Chánh Tộc Đạo).

* Pháp Chánh tại Châu Đạo là một vị Sĩ Tải (đối phẩm Lễ Sanh).

* Pháp Chánh tại Trấn Đạo là một vị Truyền Trạng (đối phẩm Giáo Hữu).

Đạo Lịnh số 16 ngày 13-giêng-Kỷ Hợi (dl 20-2-1959)
qui định Bộ Pháp Chánh có 3 Văn phòng như sau:

1. Phòng Luận Án:

Vả lại phận sự xử đoán người phạm luật Đạo vốn do Hội Thánh CTĐ đảm nhận, nhưng trước khi xử đoán, hồ sơ phải gởi đến Bộ Pháp Chánh để Bộ nầy định phải giao nội vụ đến: Hội Công Đồng, hoặc Ban Kỷ Luật phân xử.

Và sau khi phân xử rồi, Hội Công Đồng hay Ban Kỷ Luật cũng phải gởi hồ sơ đến Bộ Pháp Chánh xem lại coi có đúng theo tinh thần luật pháp chăng.

Ấy là Pháp Chánh HTĐ giúp cho Hội Thánh CTĐ áp dụng luật pháp để giữ trật tự của Hội Thánh.

2. Phòng Kiểm soát công quả hay Minh Tra Công nghiệp (MTCN) hành đạo:

Mỗi năm có một lần phong thưởng những vị dày công phụng sự chúng sanh mà chẳng vi phạm pháp luật của Đạo và quốc pháp của Đời. Pháp Chánh HTĐ có phận sự kiểm soát hồ sơ công quả của Chức sắc, Chức việc hầu làm cho sự phong thưởng được công minh.

Hai phận sự giúp cho CTĐ thưởng người có công và răn kẻ có tội đã kể ở trên, đại ý là khuyến khích người đạo đức mau thành công trên đường Đạo và cảnh tỉnh kẻ sai lầm sớm giác ngộ ăn năn.

3. Phòng Kiểm duyệt Kinh Luật (KDKL):

Ngoài PCT và Tân Luật, Hội Thánh cũng tùy trình độ tấn hóa của nhơn sanh mà ban hành những thể lệ bổ túc, hầu nâng đỡ tinh thần đạo đức của bổn đạo. Dĩ nhiên, những thể lệ ấy tạm hữu dụng trong một thời hạn, rồi có ngày nó sẽ trở nên lỗi thời.

Pháp Chánh HTĐ có phận sự kiểm duyệt thể lệ ấy và đề nghị với Hội Thánh lập thể lệ khác thích ứng hơn.

Còn những kinh sách nào có tính cách tổn thương tinh thần đạo đức, Pháp Chánh HTĐ cũng được phép đề nghị hủy bỏ.

Ngoài các Phòng kể trên, Bộ Pháp Chánh còn tổ chức thêm 2 Phòng khác nữa là:

- Phòng Thẩm vấn.

- Phòng Nhân viên.

(Xem Sơ đồ tổ chức của Bộ Pháp Chánh)

Trong Bộ Pháp Chánh, không có phân ra hai tổ chức: nam phái và nữ phái, như trong các cơ quan khác của Đạo. Chức sắc nam nữ của Bộ Pháp Chánh đều mặc đạo phục với áo mão đều giống hệt nhau, nhưng số lượng Chức sắc nữ phái rất ít so với nam phái.

Khi Bộ Pháp Chánh có nhu cầu tuyển dụng phẩm Luật Sự, Bộ Pháp Chánh dâng tờ lên Đức Hộ Pháp Chưởng Quản HTĐ để Đức Ngài ra Thánh lịnh mở khóa thi tuyển Luật Sự, ấn định thời gian, các môn thi, ban Giám khảo.

Hồ sơ dự thi nạp tại Bộ Pháp Chánh.

Những người thi đậu kỳ thi tuyển nầy được gọi là Luật Sự tập sự. Sau thời gian 1 năm huấn luyện và làm việc, các vị nầy mới được công nhận là Luật Sự chánh vị.

IV. Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy về Pháp Chánh:

Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy Pháp Chánh:

"Pháp luật vốn vô tư, đứng trong chánh giới chơn truyền, nó là Bác ái, Công bình. Thi hành luật pháp đại khái là làm cho cả chúng sanh biết tương thân tương ái trên đường sanh sống và tấn hóa.

Vậy phận sự của Pháp Chánh HTĐ là gieo rắc sự thương yêu trong toàn sanh chúng: không tư chẳng vị và giúp chúng sanh một cách cận kề, kẻ hung người bạo, kẻ tham người tà, rồi tìm phương nâng đỡ tinh thần họ trở về với chơn lý. Đó là áp dụng Luật Bác ái.

Còn như kẻ dữ nào còn muốn giở lối tà mị, không thể sửa cải được, chừng ấy mới đem pháp luật thi hành một cách công minh, chẳng vì thương mà trọng, không vì ghét mà khinh, chẳng vì trung trực mà binh, không vì tà vạy mà bỏ. Như thế thì cân tội phước mới chói rạng.

Ấy là phương bảo tồn trật tự trước Luật Công bình.

Vậy, thực hành cái thuyết Bác ái - Công bình là phận sự của Pháp Chánh HTĐ. Thành thử có khi dùng đức để cảm hóa, có khi dùng pháp luật để khuyên răn, cầu cho kẻ sai lầm giác ngộ chơn lý.

Nhưng chúng ta cũng chẳng khá quên rằng, ngoài pháp luật của Đạo, kẻ tu hành còn phải chịu dưới hệ thống thưởng phạt của Luật Nhơn Quả: Lành thì thăng, dữ thì đọa. Sự báo ứng chẳng hề sai chạy mảy may. Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu. Đó là một điều mà người hành đạo nên lưu tâm cho lắm." (Hạnh Đường 1973)

Đức Cao Thượng Phẩm dạy Chức sắc CTĐ về Pháp Chánh:

"Cũng vì lẽ ấy mà nay Đức Chí Tôn giáng trần lập Đạo, lại chia hình thể của Ngài ra hai phần để có phương kềm thúc nhau trên bước đường lập vị.

Phần CTĐ chuyên về mặt giáo hóa nhơn sanh, còn phần của HTĐ thì lo về mặt luật pháp để bảo thủ chơn truyền của Đạo. Nhờ đó nền Thánh giáo của Đức Chí Tôn khỏi phải qui thành phàm giáo.

Cũng vì lẽ quyền hành riêng biệt ấy mà khiến cho hai bên thường có phản khắc đạo quyền, bởi tánh phàm thường hay có phạm những lỗi lầm mà chẳng chịu phục thiện, đặng cải sửa cho trở nên tận thiện.

Các em đâu hiểu rằng, Chí Tôn giao quyền sửa trị Chức sắc, Chức việc và toàn đạo nam nữ cho bên HTĐ là Thánh ý của Đức Chí Tôn muốn dùng hình phàm đặng làm cho giảm bớt tội vô hình.

Nếu ai chẳng thận trọng để cho phạm vào luật pháp mà chẳng chịu pháp sửa trị của HTĐ thì rất uổng cho một kiếp tu mà không trọn phận, và đến khi rời bỏ xác phàm rồi, làm sao có cơ hội lập công nữa! Mà một khi không lập công quả được nữa thì tội án đã phạm làm sao chuộc được, rồi mãi bị trầm luân khổ hải đời đời kiếp kiếp.

Vậy các em khá nhớ lời Bần đạo dặn mà giữ mình cho trọn phận trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ nầy.

Thêm nữa, các em nên nhớ: Hễ khi các em đã vô tình hay cố ý mà phạm vào luật pháp thì hãy vui vẻ để cho luật pháp sửa trị đặng khỏi vướng tội vô hình.

Còn những người được lịnh HTĐ để sửa trị các em là những người ơn của các em, chớ không phải người thù theo tánh phàm của nhơn sanh đã tưởng." (TNST-Q2-B 50)

"Chơn truyền là gốc, luật pháp là chuẩn thằng, từ bi bác ái là đạo pháp.

Mỗi việc các em phải khá suy nghiệm cho kỹ lưỡng, phải luôn luôn nhớ rằng: Mình là người của chúng sanh, chớ chẳng phải chúng sanh là người của mình.

Mảnh thân phàm đã làm con vật hy sinh đặng Đức Chí Tôn dùng để sửa đời lầm lạc ra thuần phong mỹ tục, thì phải biết nó ra thế nào rồi, giá trị hay chăng là được trọn cùng không đó. Lại nữa, khi đã làm con vật hy sinh thì con vật ấy phải tùng theo sự điều khiển của chủ nó, nếu chẳng tuân thì sự hình phạt không tránh khỏi.

Các em có biết hữu hình là sao? vô hình là sao? Hai đàng chỉ khác nhau như hình với bóng, hình thế nào thì bóng cũng thế ấy." (TNST-Q2- B 64)

 


 

Chương 10:
 

PHƯỚC THIỆN

 

I. Quá trình thành lập CQPT:

Khởi đầu là Minh Thiện Đàn do Đức Lý Giáo Tông lập ra tại làng Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho vào năm 1927 để Đức Lý thu nhận các tín đồ tu chơn.

Năm 1929, Đức Lý Giáo Tông giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp cai quản. Đức Hộ Pháp đến Phú Mỹ hai lần để cân thần, lựa chọn được tất cả 72 vị công quả.

Năm 1930, Đức Phạm Hộ Pháp mua một sở đất tại xã Trường Hòa, lập ra Phạm Nghiệp là cơ sở đầu tiên của Phạm Môn tại Tây Ninh. Tất cả 72 vị công quả nơi Minh Thiện Đàn được nhập về Phạm Môn.

Các tu sĩ trong Phạm Môn gọi Đức Hộ Pháp là Sư phụ và xưng mình là đệ tử. Tại Trường Hòa, Đức Hộ Pháp cân thần chọn được 72 vị công quả Phạm môn.

Năm Quí Dậu (1933), một số người ganh ghét, vu cáo Phạm Môn chống đối nhà cầm quyền Pháp, nên Pháp ra lịnh đóng cửa các cơ sở lương điền, công nghệ của Phạm Môn. Đức Hộ Pháp phải cho phân tán các vị nầy đi xuống các tỉnh Nam Kỳ khai mở các cơ sở lương điền, công nghệ và thương mãi.

Đến năm Ất Hợi (1935), Đức Hộ Pháp biến Phạm Môn thành Cơ Quan Phước Thiện với đầy đủ cơ sở lương điền công nghệ và thương mãi ở khắp các tỉnh Nam Kỳ.

Năm Mậu Dần (1938), Cơ Quan Phước Thiện (CQPT) được hợp thức hóa bằng Đạo Luật Mậu Dần, chánh thức là một cơ quan của Đạo Cao Đài.

Cũng trong năm nầy, Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp đồng ký tên lập Đạo Nghị Định số 48/PT ngày 19-10-Mậu Dần (dl 10-12-1938) xác nhận sự thành lập CQPT và Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của CQPT.

Nền Đại Đạo đang phát triển thì tình hình chánh trị của Việt Nam và thế giới biến chuyển, chánh quyền Pháp cấm đạo, đóng cửa Tòa Thánh, bắt Đức Hộ Pháp và một số Chức sắc cao cấp đày đi Madagascar vào giữa năm 1941. Sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, Nhựt Bổn đầu hàng, Pháp trở lại Việt Nam, chánh quyền Pháp trả tự do cho Đức Hộ Pháp, và đưa Đức Ngài trở về Tòa Thánh, vào ngày 4-8-Bính Tuất (dl 30-8-1946).

Đức Hộ Pháp tái thủ phận sự, củng cố trở lại nền Đạo sau nhiều năm bị đàn áp điêu tàn.

Cuối năm Bính Tuất (1946), Đức Hộ Pháp triệu tập Đại Hội Phước Thiện, thăng thưởng nhiều Chức sắc PT, rồi Đức Hộ Pháp thành lập Hội Thánh Phước Thiện có Cửu Viện giống như bên Hội Thánh Cửu Trùng Đài.

II. Các phẩm Chức sắc Phước Thiện:

Đạo Nghị Định 48 của Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp thành lập Cơ Quan Phước Thiện, qui định 12 phẩm cấp Chức sắc Phước Thiện gọi là Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của CQPT, với Đạo phục và dây sắc lịnh, kể ra như sau đây:

1. Phật Tử, (Đạo phục do Đức Chí Tôn định sau)
2. Tiên Tử, áo tràng trắng, khăn đóng vàng 9 lớp chữ nhứt,
DSL vàng có gắn lịnh bài, chân mang giày trắng. (*1)
3. Thánh Nhơn, áo tràng trắng, khăn đóng vàng 9 lớp chữ nhứt,
DSL vàng có gắn lịnh bài, chân mang giày trắng. (*1)
4. Hiền Nhơn, áo tràng trắng, khăn đóng vàng 9 lớp chữ nhứt,
DSL vàng có gắn lịnh bài, chân mang giày trắng. (*1)
5. Chơn Nhơn, áo tràng trắng, khăn đóng trắng 7 lớp chữ nhơn, (*2)
DSL xanh có gắn lịnh bài, không mang giày.
6. Đạo Nhơn, áo tràng trắng, khăn đóng trắng 7 lớp chữ nhơn, (*2)
DSL xanh có gắn lịnh bài, không mang giày.
7. Chí Thiện, áo tràng trắng, khăn đóng đen 7 lớp chữ nhơn,
DSL xanh có gắn lịnh bài, không mang giày.
8. Giáo Thiện, áo tràng trắng, khăn đen,
DSL đỏ có lịnh bài.
9. Hành Thiện, áo tràng trắng, khăn đen,
DSL đỏ có lịnh bài.
10. Thính Thiện, áo tràng trắng, khăn đen,
DSL đỏ có lịnh bài.
11. Tân Dân, áo dài trắng, quần trắng, khăn đen.
12. Minh Đức, áo dài trắng, quần trắng, khăn đen.
   

(Viết tắt: DSL: dây sắc lịnh).

  Lời của Nhóm Bạn Đạo Australia:
(*1) Khăn đóng vàng 9 lớp chữ nhứt, chân mang giày trắng : Đạo Nghị Định 48 không có qui định việc nầy. Xin đồng đạo bổ túc thêm văn kiện (Lời phê hay Thánh giáo) có liên hệ về việc nầy.
(*2) Khăn đóng trắng 7 lớp chữ nhơn : Đạo Nghị Định 48 không có qui định việc nầy. Xin đồng đạo bổ túc thêm văn kiện (Lời phê hay Thánh giáo) có liên hệ về việc nầy.

Phẩm Hiền Nhơn trở lên không còn phận sự trong CQPT, mà qua HTĐ giúp Hội Thánh HTĐ giữ gìn chơn pháp.

Dây sắc lịnh trong bộ Đạo phục của Chức sắc Phước Thiện luôn luôn choàng từ vai trái xuống hông mặt, ý nghĩa là thuộc về Chi Đạo của HTĐ.

Chức sắc CQPT chỉ có một bộ Đạo phục, không có đại phục và tiểu phục như Chức sắc CTĐ hay HTĐ.

Chức sắc nữ phái Phước Thiện có Đạo phục giống y như Chức sắc nam phái PT, nhưng đầu để trần, không đội khăn, phẩm nào cũng vậy.

Người muốn gia nhập vào CQPT thì trước hết phải là một Đạo hữu của Đạo Cao Đài, sau đó đến Đầu Tộc Đạo xin giấy chứng hạnh kiểm và làm giấy hiến thân trọn đời cho CQPT. Khi có đủ hồ sơ rồi thì đem nạp vào cơ sở PT mà mình muốn làm công quả tại đó, vị Chủ sở sẽ chấp hồ sơ ấy gởi lên Bàn Cai Quản và vị Quản Tộc Đạo PT.

Đạo hữu khởi đầu làm công quả nơi cơ sở PT, chưa chánh thức là người của CQPT, nên được gọi là Đạo sở. Sau thời gian 6 tháng công quả, vị Đạo sở mới được chánh thức nhập vào CQPT với phẩm khởi đầu là Minh Đức.

III. Tổ chức Cơ Quan Phước Thiện:

Tổ chức của CQPT có những nét giống như Hành Chánh Đạo của Cửu Trùng Đài, nghĩa là cũng phân làm 2 phái: nam phái và nữ phái. Hai phái nầy có quyền hành riêng biệt và chỉ điều hành bên phái mình mà thôi.

Đứng đầu CQPT bao gồm cảø 2 phái nam và nữ là một vị Thời Quân chi Đạo của Hiệp Thiên Đài, gọi là Thống Quản CQPT.

Dưới Thống Quản CQPT là 2 vị Chưởng Quản nam phái và nữ phái PT, phẩm Chơn Nhơn.

Dưới mỗi vị Chưởng Quản là 2 vị Phó Chưởng Quản: Đệ I và Đệ II.

Dưới Phó Chưởng Quản là Cửu Viện PT: Cửu Viện PT nam phái giống y như Cửu Viện PT nữ phái, gồm 9 Viện, có tên và nhiệm vụ giống y như bên Cửu Trùng Đài: Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện, Học Viện, Y Viện, Nông Viện, Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện.

CQPT thì lo tạo tác Điện Thờ Phật Mẫu để thờ phượng Đức Phật Mẫu, còn bên Hành Chánh Đạo CTĐ thì lo xây dựng các Thánh Thất để thờ Đức Chí Tôn.

Hai tổ chức Hành Chánh và Phước Thiện song hành nhau, các chức vụ tương ứng nhau, phận sự thờ phượng tương đương nhau, do đó mà các Chức sắc CQPT đôi khi xem nhẹ mục tiêu chánh yếu của Phước Thiện là cơ quan bảo tồn, cứu khổ ban vui cho chúng sanh, làm ra thật nhiều của cải vật chất để thực hiện mục tiêu nầy.

(Xem Sơ đồ tổ chức của CQPT)

So sánh tổ chức CQPT ở địa phương với tổ chức Hành Chánh Đạo CTĐ ở địa phương:

Cơ Quan Phước Thiện địa phương Hành Chánh Đạo địa phương
TRẤN ĐẠO PT
Quản Trấn Đạo PT
(Đạo Nhơn)
TRẤN ĐẠO
Khâm Trấn Đạo
(Giáo Sư)
CHÂU ĐẠO PT
Quản Châu Đạo PT
(Chí Thiện)
CHÂU ĐẠO
Khâm Châu Đạo
(Giáo Hữu)
TỘC ĐẠO PT
Quản Tộc Đạo PT
(Giáo Thiện)
Cai quản Điện Thờ PM
TỘC ĐẠO
Đầu Tộc Đạo
(Lễ Sanh)
Cai quản Thánh Thất
Sở Lương điền Công nghệ
Chủ Sở
(Hành Thiện)
Hương Đạo
Đầu Hương Đạo
(Chánh Trị Sự)

VI. Đại hội Phước Thiện:

Đại Hội PT là một hội nghị mà các hội viên gồm đủ đại diện của các thành phần Chức sắc trong CQPT, kể ra:

- Các Phái viên: đại diện cho các vị trong 3 phẩm: Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện.

- Các Nghị Viên: đại diện cho các vị Hành Thiện.

- Các Chức sắc PT từ Giáo Thiện đến Chơn Nhơn.

(Xem chi tiết trong Đạo Luật Mậu Dần, phần Phước Thiện)

Phận sự của Đại Hội Phước Thiện là:

1. Kiểm soát công việc hành đạo trong năm vừa qua, nhận định các ưu khuyết điểm.

2. Chương trình hành đạo trong năm tới, dự kiến mở rộng các cơ sở Phước Thiện.

3. Kiểm soát tài chánh và phỏng định số thâu xuất.

4. Ý kiến về cầu phong cầu thăng của Chức sắc Phước Thiện..

Đại hội Phước Thiện mỗi năm họp một lần ngay sau ngày Ba Hội lập Quyền Vạn linh họp xong.

VII. Chơn truyền của Phước Thiện:

"Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát ít oi, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn." (ĐLMD)

"Phước Thiện là cơ quan tận độ, cốt để mở đường Thánh đức cho toàn sanh chúng có đủ phương thế nhập vào Thánh thể, người ngoại giáo có thể nhờ nơi cửa Phước Thiện mà hiệp cùng Hội Thánh.

Phước Thiện là phương bảo tồn sanh chúng, tế khổn phò nguy, vì trong đời người không có sự khổ nào bằng sanh, lão, bệnh, tử. Muốn thi hành cơ tận độ, những con cái của Đức Chí Tôn sẵn có tài tình học thức, đã được lập công nơi cơ quan khác, còn sót lại những kẻ dốt, kém, thật thà thì do nơi đâu mà lập công đoạt vị? Chỉ có CQPT mới có đủ phương thâu nhập toàn thể con cái Chí Tôn qui về cửa Đạo, nên gọi là cơ Bảo tồn.

Muốn thật hành chánh nghĩa Phước Thiện, con cái Chí Tôn đói phải nuôi, rách cho mặc, tật nguyền phải bảo dưỡng, cô thế phải chở che, châu cấp người già cả, săn sóc kẻ bịnh hoạn, v.v... nói tóm lại là phải gánh mọi sự khổ trên đời nầy.

Vả lại, đời là một trường tranh đấu vì miếng ăn chỗ ở. Muốn sống phải no, ấm, mạnh.

Phước Thiện cứu kẻ khổ, giúp kẻ nguy, dìu dắt cho có phương sanh sống, tuy không giàu mà tự toại, không sang mà thung dung, mới có thể tránh được sự tranh đấu vì lẽ sống, tức là nâng đỡ, bảo sanh cho hạng Tam dân (nông, công, thương) hưởng đủ quyền lợi mà mỗi người được quyền sống hưởng theo luật tự nhiên của Tạo hóa.

Phước Thiện là phương pháp làm cho bình đẳng giữa hai hạng người: vô sản và tư sản, hay nói cho đúng là dung hòa quyền lợi chung hưởng chánh đáng, bất phân giai cấp sang hèn, tức là huờn thuốc tự do bình đẳng bác ái.

Chơn truyền của Phước Thiện lại còn phải thay thế cho Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là: làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không chồng không vợ, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Như thế mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ để nơi mặt thế.

Nếu CQPT bảo đảm được con cái Chí Tôn dường ấy thì ân đức của Đại Đạo có thể sánh cùng Trời Đất, làm cho đời khổ trở nên đời hạnh phúc, đời loạn trở nên đời an cư lạc nghiệp thì sự hòa bình của đại đồng thế giới mới mong thành tựu đặng." (Trích Chánh Trị Đạo của Trần Khai Pháp)

"Phải cho cơm những kẻ thiếu cơm, cho thuốc những kẻ thiếu thuốc, cho hàn những kẻ không hàn chôn, chở che những kẻ bị đàn áp bất công, binh vực những kẻ bị chúng hiếp, an ủi những kẻ buồn rầu, khuyến khích những kẻ toan thối bước, độ những kẻ khổ tâm, lau chùi nước mắt những kẻ cô độc đang khóc trước mặt mình.

Tóm lại, là phải tự hiến mảnh thân làm tế vật cho Đức Chí Tôn để làm tôi đòi cho con cái của Người sử dụng trong công việc đem hạnh phúc đến cho họ, để thực hành trọn vẹn cơ quan giải khổ của Đại Từ Phụ." (TNST-Q2-B 67)

V. Bảng đối phẩm Chức sắc các cơ quan:

(Xem Bảng đối phẩm Chức Sắc các Cơ quan )

 


 

Chương 11:
 

CƠ QUAN LẬP PHÁP
(Ba Hội lập Quyền Vạn Linh)

 

I. Quyền Vạn linh là gì?

Vạn linh là toàn cả các chơn linh (linh hồn) trong càn khôn vũ trụ, gồm đủ Bát hồn.

Bát hồn là tám phẩm chơn hồn trong càn khôn vũ trụ, gồm: kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Quyền Vạn linh là quyền quyết nghị của các đại biểu của Vạn linh, tức là các đại biểu của Bát hồn.

Khi lập Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn lập ra 3 đài tương ứng với 3 quyền: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp.

- Quyền Lập pháp là của Bát Quái Đài do Đức Chí Tôn nắm giữ.

- Quyền Hành pháp là của Cửu Trùng Đài do Đức Giáo Tông nắm giữ.

- Quyền Tư pháp là của Hiệp Thiên Đài do Đức Hộ Pháp nắm giữ.

Khi lập Đạo xong thì Đức Chí Tôn giao Quyền Lập pháp lại cho Vạn linh, vì Đức Chí Tôn cho Quyền Vạn linh được ngang bằng với Quyền Chí linh. (Chí linh là Đức Chí Tôn). Vì thế, Quyền Vạn linh lập thành Cơ quan Lập pháp của Đạo Cao Đài.

Cơ quan Lập pháp của Đạo Cao Đài là một cơ quan có nhiệm vụ lập ra hay hủy bỏ các luật pháp tu hành cho các tín đồ Cao Đài, để các luật pháp nầy lúc nào cũng thích hợp với trình độ tiến hóa của nhơn sanh.

Quyền Vạn linh lập pháp của Đạo Cao Đài thể hiện lần đầu tiên là lập thành Tân Luật, luật tu hành của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Muốn thực hiện Quyền Vạn linh thì phải quyết nghị qua 3 Hội:

- Hội Nhơn sanh,
- Hội Thánh,
- Thượng hội.

- Hội Nhơn sanh là hội nghị của các đại biểu nhơn sanh gồm: đại biểu của hạng Đạo hữu (đối phẩm Địa Thần), đại biểu của hạng Bàn Trị Sự (đối phẩm Nhơn Thần), đại biểu của hạng Lễ Sanh (đối phẩm Thiên Thần).

Hội Nhơn sanh còn là đại biểu của các hạng chúng sanh: kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại, bởi vì trong chúng sanh thì nhơn loại tiến hóa và linh hơn tất cả, nên làm đầu chúng sanh.

Cho nên, Hội Nhơn sanh đại biểu cho 5 phẩm chơn hồn: kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn và Thần hồn.

- Hội Thánh là hội nghị của các đại biểu của hàng Thánh, gồm: các Giáo Hữu (đối phẩm Địa Thánh), các Giáo Sư (đối phẩm Nhơn Thánh), các Phối Sư và Chánh Phối Sư (đối phẩm Thiên Thánh).

- Thượng Hội là hội nghị của các đại biểu hàng Tiên và Phật, gồm: các vị Đầu Sư (đối phẩm Địa Tiên), các vị Chưởng Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh (đối phẩm Nhơn Tiên), Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp (đối phẩm Thiên Tiên và Phật vị).

Ba hội nầy hiệp lại quyết nghị một điều gì thì đó là quyết nghị của Vạn linh, tạo thành Quyền Vạn linh.

Hội Nhơn sanh thể hiện ý nguyện của nhơn sanh nên có tánh cách dục tấn, cấp tiến, thường đi quá cao so với năng lực của nhơn sanh, nên cần phải có Hội Thánh để dung hòa và kềm chế bớt, còn Thượng Hội thì chỉnh đốn cho hợp với Thiên điều.

Do đó, một quyết nghị mà được thông qua 3 Hội như thế thì nhứt định là xác đáng, hợp lý và hợp Thiên điều.

Cho nên, luật nào được Ba Hội lập Quyền Vạn linh quyết nghị thông qua, thì được xem là Thiên điều tại thế, không ai có quyền sửa cải. Khi có điều luật nào áp dụng lâu ngày trở nên lỗi thời thì chỉ có Quyền Vạn linh mới được sửa cải mà thôi.

II. Hội Nhơn sanh:

Các Đại biểu của Hội Nhơn sanh gồm:

1. Các vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo.

2. Các Nghị viên.

3. Các Phái viên.

- Lễ Sanh làm đầu nhơn sanh, nên các vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo phải có mặt trong Hội Nhơn sanh.

- Nghị viên là đại biểu của ba hạng: Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự. Lấy đơn vị bầu cử là Tộc đạo:

Các vị Chánh Trị Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Chánh Trị Sự.

Các vị Phó Trị Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Phó Trị Sự.

Các vị Thông Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Thông Sự.

Như vậy trong 1 Tộc đạo có 3 Nghị viên: 1 Chánh Trị Sự, 1 Phó Trị Sự, và 1 Thông Sự.

- Phái viên là đại biểu các Đạo hữu trong Tộc đạo.

Trong Tộc đạo, cứ 500 Đạo hữu thì bầu ra 1 Phái viên. Thí dụ như trong Tộc đạo có 800 Đạo hữu nam phái thì được bầu ra 2 Phái viên nam phái. (Nếu có 980 Đạo hữu thì cũng chỉ bầu ra 2 Phái viên mà thôi, vì vẫn chưa tới số 1000).

Đối với nữ phái, số Nghị viên và Phái viên bên nam phái thế nào thì số Nghị viên và Phái viên nữ phái cũng y như thế.

Nhiệm kỳ của Nghị viên là Phái viên là 3 năm.

Tổ chức Hội Nhơn sanh:

Tất cả các Đại biểu nam nữ của Hội Nhơn sanh họp chung với nhau, chỗ ngồi phân biệt hai bên nam nữ.

1. Nghị trưởng: Thượng Chánh Phối Sư.

2. Phó Nghị trưởng: Nữ Chánh Phối Sư.

3. Từ hàn: - 1 Nghị viên nam  - 1 Nghị viên nữ.

4. Phó Từ hàn: - 2 Nghị viên nam - 2 Nghị viên nữ.

5. Tất cả các Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo, các Nghị viên và Phái viên đều là Hội viên của Hội Nhơn sanh, có quyền bàn cãi và bỏ thăm biểu quyết.

6. Một Chức sắc HTĐ được cử tới dự Hội Nhơn sanh để chứng kiến và giữ cho cuộc hội nhóm của Hội không phạm đến luật đạo. Vị nầy không đặng biểu quyết.

  Phận sự của Hội Nhơn sanh:

Hội Nhơn sanh mỗi năm nhóm họp một lần vào ngày 15 tháng giêng, để bàn cãi các việc sau đây:

1. Giáo hóa nhơn sanh.

2. Liệu phương hay cho Đạo và Đời không phản khắc nhau và nâng cao tinh thần trí thức của nhơn sanh.

3. Phổ độ nhơn sanh vào cửa Đạo, dìu dắt tín đồ trọn tuân các luật pháp của Đạo.

4. Sửa cải, thêm bớt hay hủy bỏ những luật lệ của nhơn sanh không còn phù hạp.

5. Lo cho nền Đạo được điều hòa và đủ phương tiện đặng phổ thông chơn đạo.

6. Xem xét tài chánh, kiểm tra tài sản của Đạo, phỏng định số thâu xuất trong năm tới.

7. Xem xét sổ cầu phong và cầu thăng của Chức việc và Chức sắc.

Ban Ủy viên:

Sau khi khai mạc Đại Hội Nhơn sanh, Nghị trưởng trình bày chương trình nghị sự xong thì toàn hội chọn cử ra 4 Ban Ủy viên ngánh theo phái đặng thảo luận các vấn đề cho được cặn kẽ và thấu đáo:

1) Ban Ủy viên phái Thái.

2) Ban Ủy viên phái Thượng.

3) Ban Ủy viên phái Ngọc.

4) Ban Ủy viên Nữ phái.

Số hội viên của Hội Nhơn sanh được chia đều cho 4 Ban Ủy viên nầy.

Mỗi Ban Ủy viên cử: 1 Nghị trưởng, 1 Phúc sự viên.

Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn sanh.

Mục đích của Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn Sanh tại Tòa Thánh là bàn tính các điều ngoài chương trình nghị sự của Đại hội và các việc trọng hệ xảy ra thình lình, nhứt là việc giao thiệp cùng chánh phủ. Hội Ngánh thường xuyên của Đại Hội Nhơn sanh gồm có:

▪ Thượng Chánh Phối Sư: Nghị trưởng.

▪ Nữ Chánh Phối Sư: Phó Nghị trưởng.

▪ Từ hàn nam nữ của Đại hội: Từ hàn.

▪ Phó Từ hàn nam nữ của Đại hội: Phó Từ hàn.

▪ Mỗi Châu đạo chọn 1 Nghị viên nam và 1 Nghị viên nữ tham dự Hội Ngánh.

▪ Một Chức sắc HTĐ chứng kiến, bảo thủ luật pháp.

Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn sanh nhóm mỗi năm 3 lần: mùng 6 tháng 4; 13 tháng 8; 13 tháng 10.

III. Hội Thánh:

Đại Hội Hội Thánh gồm tất cả Chức sắc nam nữ CTĐ thuộc hàng Thánh (gồm các phẩm: Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Chánh Phối Sư) và Thập nhị Thời Quân của HTĐ với tánh cách là Hội viên, có quyền bàn cãi và bỏ phiếu, nhưng số phiếu nầy tính riêng.

Các Chức sắc hàm phong không được dự vào Hội viên của Đại hội nầy.

Tổ chức của Đại hội Hội Thánh:

1. Nghị trưởng: Thái Chánh Phối Sư.

2. Phó Nghị Trưởng: Nữ Chánh Phối Sư.

3. Từ hàn: - 1 Chức sắc nam, - 1 Chức sắc nữ.

4. Phó Từ hàn: - 2 Chức sắc nam, - 2 Chức sắc nữ.

5. Nghị viên: Tất cả Chức sắc CTĐ nam nữ từ Giáo Hữu đến Chánh Phối Sư.

6. Thập nhị Thời Quân HTĐ phải có mặt đặng bảo thủ luật đạo không cho Hội phạm đến, cũng đồng quyền như Nghị viên.

Đại Hội Hội Thánh nhóm họp vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hằng năm.

Nơi nhóm Đại Hội Hội Thánh: giữa Tòa Thánh.

Nhiệm vụ của Đại hội Hội Thánh:

1. Thảo luận các vấn đề của Hội Nhơn sanh dâng lên, hoặc của Thượng Hội đưa xuống đặng lập phương ban hành.

2. Lo về sự phổ độ nhơn sanh, việc châu cấp cho Chức sắc hành đạo tha phương, xem xét lại tài chánh của Đạo, kiểm thảo lại lịch trình hành đạo.

3. Bàn cãi và công nhận số phỏng định thâu xuất tài chánh trong năm tới.

4. Hủy bỏ, thêm bớt, sửa cải những luật lệ nào không phù hạp với sự tiến hóa của nhơn sanh.

5. Quan sát các việc có ảnh hưởng đến nền Đạo.

IV. Thượng Hội:

Thượng Hội là hội tối cao trong Ba Hội lập Quyền Vạn linh, gồm 11 Chức sắc cao cấp nhứt của Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài.

Thượng Hội gồm:

▪ Đức Giáo Tông: Nghị trưởng.

▪ Đức Hộ Pháp: Phó Nghị trưởng.

▪ Thượng Phẩm: Nghị viên.

▪ Thượng Sanh: Nghị viên.

▪ 3 Chưởng Pháp: Nghị viên.

▪ 3 Nam Đầu Sư: Nghị viên.

▪ 1 Nữ Đầu Sư: Nghị viên.

Một vị Phối Sư hay Giáo Sư làm Từ hàn, không có quyền bàn cãi và bỏ thăm.

Mỗi năm, sau ngày lễ Noel, Thượng Hội nhóm thường niên trong hạn kỳ là 15 ngày.

Ngoài phiên nhóm lệ nầy, Thượng Hội còn nhóm 3 tháng 1 lần.

Thượng Hội nhóm trong Đền Thánh với nghi thức Khai hội và Bãi hội rất long trọng.

Khi Thượng Hội nhóm thường xuyên thì nhóm tại Giáo Tông Đường.

Phận sự của Thượng Hội:

Xem xét và phê chuẩn:

1. Các điều của Hội Nhơn sanh và Hội Thánh bàn luận về việc Đạo.

2. Các điều ước nguyện của Hội Nhơn sanh và Hội Thánh, những điều nào, hoặc của Hội Thánh, hoặc của Hội Nhơn sanh đánh đổ thì không được phép đệ lên Thượng Hội, trừ khi nào có đơn của hai ông Nghị trưởng kêu nài.

3. Thượng Hội bàn luận và định đoạt các việc cần gấp, hoặc yếu trọng phải ban hành trong Đạo.

Biểu quyết:

Khi đã bàn cãi xong, Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp bày tỏ ý kiến sau cùng, rồi Đức Giáo Tông cho bỏ thăm, vẫn lấy đa số làm qui tắc.

Quyền của Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp lại là quyền Chí Tôn nên hai vị Đại Thiên Phong nầy không bỏ thăm.

Nếu cả Ba Hội trong Quyền Vạn linh phản khắc nhau thì Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp hiệp lại chỉ định thế nào thì toàn đạo phải tuân theo thế ấy.

Thảng như Giáo Tông và Hộ Pháp phản khắc nhau, thì cả thảy ý kiến của hai hội dưới đều bị hủy bỏ. Chừng ấy, cả Ba Hội lập Quyền Vạn linh phải nhóm lại từ đầu để thảo luận lần thứ hai.

Trước giờ bế mạc Thượng Hội 15 phút, Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp vào đại điện mật nghị, rồi trở ra cho Thượng Hội biết rõ quyết định chung của hai vị.

 

KHẢO DỊ: Danh xưng nơi Thượng Hội:

Văn kiện: THƯỢNG HỘI NỘI LUẬT, Làm tại Tòa Thánh, ngày 22 tháng Giêng năm Nhâm Thân. (Le 27 Février 1932):

▪ Giáo Tông: Hội trưởng.
▪ Hộ Pháp: Phó Hội trưởng.
▪ Thượng Phẩm: Nghị viên.
▪ Thượng Sanh: Nghị viên.
▪ 3 Chưởng Pháp: Nghị viên.
▪ 3 Nam Đầu Sư: Nghị viên.
▪ 1 Nữ Đầu Sư: Nghị viên.

Theo tài liệu CHÁNH TRỊ ĐẠO ấn bản năn Giáp Dần 1974:

▪ Giáo Tông: Nghị trưởng.
▪ Hộ Pháp: Phó Nghị trưởng.
▪ Thượng Phẩm: Nghị viên.
▪ Thượng Sanh: Nghị viên.
▪ 3 Chưởng Pháp: Nghị viên.
▪ 3 Nam Đầu Sư: Nghị viên.
▪ 1 Nữ Đầu Sư: Nghị viên.

 


 

Chương 12:
 

LƯỢC SỬ THÀNH LẬP
Đạo Cao Đài


Trong chương nầy, chúng tôi ghi lại một cách tóm tắt các sự kiện quan trọng theo niên biểu (từ năm 1925 đến 1941) để bạn đạo có một nhận định tổng quát về sự thành lập Đạo Cao Đài của Đức Chí Tôn Thượng Đế.

Bạn đạo muốn biết thêm các chi tiết thì đọc các quyển sách về Lịch Sử Đạo Cao Đài.

 

Năm Ất Sửu (1925)

Thứ bảy, 5-6-Ất Sửu (dl 25-7-1925), lúc 9 giờ tối.

Bốn ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Diêu họp nhau tại nhà ông Sang ở phố hàng dừa, Sài Gòn, để thí nghiệm xây bàn theo lối Thần Linh học Tây phương. Bốn ông ngồi quanh một cái bàn tròn một trụ ba chân đặt nơi hàng ba, trụ giữa của bàn được kê lên cho bàn gập ghình, hai bàn tay xòe ra úp lên mặt bàn, im lặng định thần. Lát sau, cái bàn rung động, nghiêng qua lại gõ nhẹ lên gạch. Các ông biết là có vong linh nhập vào bàn, tuy nhiên khi ghi lại các tín hiệu nhận được thì không đọc được ra câu gì hết, có chữ Việt, có chữ Pháp lộn xộn, dường như các vong linh tranh nhau nói. Đến quá khuya mà chưa có được kết quả cụ thể nào, các ông mệt quá, đành dọn dẹp đi nghỉ, hẹn đêm mai thử nữa.

Chúa nhựt, 6-6-Ất Sửu (dl 26-7-1925), khoảng 9 giờ tối.

Bốn ông vẫn bày bố y như hôm qua, nhưng chưng hoa quả và nhang đèn tươm tất hơn. Vừa tịnh thần một lát thì có vong linh nhập bàn, liền nhịp chân bàn gõ thành tiếng rõ ràng, không lộn xộn như đêm qua, quí ông ráp lại được 3 chữ: CAO QUỲNH LƯỢNG.

Bốn ông rất vui mừng, vì Cao Quỳnh Lượng là con của ông Cao Quỳnh Diêu, chết đã mấy năm rồi. Ông Cư thử xem có thiệt là Cao Quỳnh Lượng không, liền nói: - Nếu phải là Cao Quỳnh Lượng thì gõ bàn cho biết tên của những người đang ngồi xây bàn nơi đây. Cao Quỳnh Lượng liền gõ bàn đúng tên các vị. Ông Diêu biểu Lượng đi mời ông Nội đến. Chờ một lúc thì chơn linh ông CAO QUỲNH TUÂN (thân phụ của hai ông Diêu và Cư) nhập bàn, gõ cho bài thi: "Ly trần tuổi đã quá năm mươi,......"

Kết quả buổi xây bàn nầy thật là mỹ mãn, làm cho bốn ông suy nghĩ rất nhiều, tin tưởng là có thế giới vô hình và có thể nói chuyện với những vong linh đã khuất.

Ngày 10-6-Ất Sửu (dl 30-7-1925), lúc 9 giờ tối.

Bốn ông lại tổ chức xây bàn tại nhà ông Sang. Tối nay, chiếc bàn chuyển động khoan thai nhẹ nhàng, gõ bàn cho một bài thi, tựa là Thác vì tình: "Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,......," xưng tên là: Đoàn Ngọc Quế, con gái.

Ông Cư hỏi: Khi còn tại thế, Cô ở đâu? Bàn gõ đáp: Chợ Lớn. - Cô học trường nào? - Học trường đầm.

Thứ bảy, 12-6-Ất Sửu (dl 1-8-1925).

Theo lời mời của ông Cư, tối nay tổ chức xây bàn tại hiên nhà của ông Cư ở đường Bourdais, ông Cư dùng chiếc bàn vuông 4 chân, chêm một chân lên cao để bàn lắc qua lắc lại dễ dàng gõ xuống nền gạch. Đêm nay ông Diêu vắng mặt. Cô Lễ giáng bàn, 3 ông xin kết làm anh em thi hữu với Cô, Cô bằng lòng gọi: Ông Cư là Đại ca, Ông Tắc là Nhị ca, Ông Sang là Tam ca, còn Cô là Tứ muội.

Ba ông hỏi tên thật của Cô và mồ mả ở đâu: Cô gõ bàn cho biết tên Cô là V T L, mồ mả ở vườn Bà Lớn.

Chúa nhựt 13-6-Ất Sửu (dl 2-8-1925).

Sáng nay, 3 ông sắm sửa nhang đèn quả phẩm đi viếng mộ Cô V T L. ở vườn Bà Lớn gần Ngã Bảy, mộ xây rất đẹp, có bia mộ đề tên: Vương Thị Lễ, trên bia có hình của Cô trẻ trung rất đẹp. Ba ông bày đèn nhang quả phẩm trước mộ Cô Lễ khấn vái vong hồn Cô và mời Cô về nhà nhập bàn trò chuyện.

Thứ sáu, 10-7-Ất Sửu (dl 28-8-1925), tối.

Tại nhà ông Cư, ba ông Cư, Tắc, Sang xây bàn như thường lệ. Khi tay vừa đặt vào bàn, bàn liền chuyển động, cho bốn câu thi "Ớt cay cay ớt gẫm mà cay,......" và xưng danh là "AĂÂ"

Mùng 5-8-Ất Sửu (dl 22-9-1925), tối.

Cô Vương Thị Lễ nhập bàn tiết lộ cho ba ông biết, Cô là Thất Nương của Diêu Trì Cung nơi cõi thiêng liêng, trên có Cửu Thiên Nương Nương cai quản, còn Cô Hớn Liên Bạch là Bát Nương. Ba ông xin Cô dạy cách cầu Cửu Thiên Nương Nương. Thất Nương bảo ba ông phải ăn chay trước 3 ngày và phải có ngọc cơ mới cầu Nương Nương đặng. Thất Nương chỉ vẽ cho 3 ông cách cầu bằng ngọc cơ.

Mùng 8-8-Ất Sửu (dl 25-9-1925), tối.

Đấng A Ă Â giáng bàn, dạy ba ông nhân đó mà làm một cái tiệc chay vào đêm Trung Thu để đãi Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu vị Tiên Nương.

Đêm 15-8-Ất Sửu (dl 2-10-1925): HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG.

Ba ông Cư, Tắc, Sang thiết lễ Hội Yến DTC tại tư gia của ông Cư (134 đường Bourdais, Sài Gòn). Quí ông lập bàn hương án, chưng những thứ hoa thơm, xông trầm trọn ngày (nhà không tiếp khách). Sắp đặt tiệc ấy do bà Hiếu vâng lịnh lập thành. Trên là bàn thờ Đức Phật Mẫu, dưới đặt một bàn dài, sắp 9 cái ghế như có người ngồi vậy, chén, đũa, muỗng, ly, tách, đều giống y như đãi người hữu hình. Đến giờ Tý, quí vị lên nhang đèn, quì lạy thành kỉnh, rồi đem ngọc cơ ra cầu. Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương giáng chào mừng.

Ba ông, mỗi người đều có chuẩn bị sẵn một bài thi mừng do Thất Nương dặn trước, lần lượt ngâm lên để hiến lễ Nương Nương. Đức Phật Mẫu và 9 Cô an vị lắng nghe.

Chừng nhập tiệc, Thất Nương mời ba ông ngồi chung vào tiệc cho vui. Ba ông thấy không thể chối từ nên sắp sau lưng 9 Cô ba cái ghế, ba ông xá rồi ngồi xuống.

Cách chừng nửa giờ sau, như là mãn tiệc, ba ông phò cơ tái cầu. Lịnh Nương Nương và 9 Cô để lời cảm tạ, mỗi vị cho một bài thi bốn câu, lại hứa rằng: Từ đây có ngọc cơ rồi thì tiện cho DTC Cửu Cô đến dạy việc.

Kể từ ngày nầy, quí ông sử dụng ngọc cơ cầu các Đấng theo lối Cầu Tiên của Đạo gia, nhận các Thánh giáo rất nhanh so với lối Xây Bàn của Thần Linh học.

Đêm 3-9-Ất Sửu (dl 20-10-1925).

Đấng AĂÂ giáng, nói với ba ông: "Tôi nói lộ Thiên cơ, trên Ngọc Hư bắt tội, xin tam vị Đạo hữu cầu Ngọc Hư Cung tha tội cho tôi. Nếu không lo cầu giùm thì tôi bị phạt." Ba ông liền đặt một bài thi khẩn cầu, rồi lập bàn hương án cầu DTC xin Ngọc Hư tha tội cho ông AĂÂ.

Đêm 27-10-Ất Sửu (dl 12-12-1925).

Đấng Cửu Thiên Huyền Nữ giáng đàn truyền lịnh: "Mùng 1 nầy, tam vị đạo hữu vọng Thiên cầu Đạo."

Ba ông không biết Vọng Thiên cầu Đạo là làm gì, bèn cầu hỏi Thất Nương. Thất Nương trả lời: Không phải phận sự của em, xin hỏi ông AĂÂ. Ba ông không thỏa mãn, bèn cầu hỏi các Đấng khác, nhưng các Đấng ấy cũng trả lời tương tự như Thất Nương.

Đêm 30-10-Ất Sửu (dl 15-12-1925).

Ba ông cầu Đấng AĂÂ, Ngài giáng dạy: Ngày mùng 1 tháng 11 nầy, tam vị phải vọng Thiên cầu Đạo, tắm gội cho tinh khiết, ra quì giữa trời, mỗi người cầm 9 cây nhang mà vái rằng: "Ba tôi là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vọng bái Cao Đài Thượng Đế ban ơn đủ phước lành cho ba tôi cải tà qui chánh."

Đêm mùng 1-11-Ất Sửu (dl 16-12-1925): VỌNG THIÊN CẦU ĐẠO.

Ba vị Cư, Tắc, Sang mặc quốc phục nghiêm chỉnh, lập bàn hương án trước sân nhà ông Cư, cạnh lề đường, mỗi ông cầm 9 cây nhang quì giữa trời cầu nguyện y như Đấng AĂÂ dạy. Lúc đó khoảng 10 giờ đêm, người hiếu kỳ bu lại xem ba ông cầu cúng gì mà lạ vậy.

Sau khi tàn 9 cây nhang, ba ông trở vô nhà, đem ngọc cơ ra cầu. Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng, viết chữ nho, ba ông không hiểu. Khi Đấng Cao Đài thăng rồi, ba ông liền cầu Đấng AĂÂ. Ngài giáng dạy: Đức Cao Đài Thượng Đế nói, tam vị chưa đủ đức tin về Ngài nên hỏi gạn lại, tam vị phải nghĩ cho thấu. Rồi Ngài cho bài thi bốn câu: "Cứ níu theo phan Đức Thượng Hoàng,......"

Đêm mùng 4-11-Ất Sửu (dl 19-12-1925).

Ba ngày sau khi Vọng Thiên Cầu Đạo, Đấng AĂÂ giáng cho ba ông bài thi:

Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài,

Bởi đức ngày xưa có buổi nay.

Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc,

Gìn lòng tu tánh, chớ đơn sai.

Như vậy là Đấng Thượng Đế đã chấp nhận lời vọng Thiên cầu Đạo của ba ông Cư, Tắc, Sang, và sẽ mở ra một mối đạo mới gọi là Đạo Cao Đài để cứu độ nhơn sanh.

Đêm mùng 9-11-Ất Sửu (dl 24-12-1925): Đêm NOEL 1925.

Nhân Lễ Chúa Giáng Sinh, ba ông tập hợp lại nhà ông Cư để cầu cơ. Đấng AĂÂ giáng cơ xác nhận: AĂÂ chính là Cao Đài Thượng Đế, tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát để dạy đạo tại nước Việt Nam, và Đức Chí Tôn ban lịnh cho ba ông: "Chẳng bao lâu đây, các con phải ra giúp Thầy khai đạo."

Đêm 18-11-Ất Sửu (dl 2-1-1926): Thầy bắt đầu dạy Đạo.

Đức Chí Tôn khởi sự dạy đạo cho ba ông Cư, Tắc, Sang và căn dặn hai ông Cư, Tắc mỗi việc chi đều phải triệt để tuân lịnh Thầy.

Ngày 27-11-Ất Sửu (dl 11-1-1926).

Ông Lê Văn Trung đến hầu đàn tại nhà ông Cư, được Đức Chí Tôn ban cho bốn câu thi.

[Ông Trung trước đó được ông Nguyễn Hữu Đắc hướng dẫn đến hầu đàn Chợ Gạo ở Phú Lâm (nhà của ông Lê Thành Vạn), tại đây Đức Lý Thái Bạch giáng đàn, độ ông Trung, làm cho cặp mắt của ông hết bịnh, sáng trở lại].

Ngày 3-12-Ất Sửu (dl 16-1-1926).

Ông Quí Cao giáng cơ cho bài thi "Tu như cỏ úa gặp mù sương" và sau đó ông giải thích về Ngũ kỵ, tức là Ngũ vị tân mà Phật giáo cấm dùng.

Ngày 5-12-Ất Sửu (dl 18-1-1926).

Hai ông Cư và Tắc vâng lịnh Đức Chí Tôn đến nhà ông Lê Văn Trung ở Chợ Lớn để lập đàn. Đức Chí Tôn dạy ông Trung: "Trung, nhứt tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thác cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng của con mà suy lấy."

Trong dịp nầy, Đức Chí Tôn dạy ông Trung phải hiệp với hai ông Cư và Tắc lo việc mở Đạo.

Ngày 14-12-Ất Sửu (dl 27-1-1926).

Quí ông bạch hỏi Đức Chí Tôn về cách thờ phượng. Đức Chí Tôn dạy quí ông đến gặp ông Ngô Văn Chiêu để xem cách thức. (Ông Chiêu lúc đó ngụ tại lầu 2, số nhà 110 đường Bonard, nay là đại lộ Lê Lợi, Sài Gòn).

Nói riêng về Ngài Ngô Văn Chiêu:

- Mùng 1 Tết Tân Dậu (dl 8-2-1921), Đức Chí Tôn giáng bảo ông Chiêu ăn chay 3 năm (Chiêu! Tam niên trường trai), xem như ông Chiêu được Đức Chí Tôn thâu làm môn đệ đầu tiên, trong lúc đó ông Chiêu đang làm Quận trưởng quận Phú Quốc.

- Ngày 13-3-Tân Dậu (dl 20-4-1921), ông Chiêu đang ngồi sau dinh Quận nhìn ra biển, chợt thấy hiện ra một con mắt lớn, chói lọi hào quang. Ông Chiêu sợ hãi, vái: Như phải Tiên Ông bảo thờ Thiên Nhãn thì xin cho biến mất tức thì.

- Vài ngày sau, ông Chiêu lại thấy Thiên Nhãn hiện ra lần nữa, Ngài lại khấn xin vẽ Thiên Nhãn như thế để thờ, thì Thiên Nhãn từ từ biến mất.

- Sau đó, ông Ngô Văn Chiêu được nhà cầm quyền Pháp đổi về làm việc tại Sài Gòn. Ngài rời đảo Phú Quốc ngày 28-6-Giáp Tý (dl 29-7-1924), về tới Sài Gòn ngay ngày hôm sau, thuê nhà tại 110 đường Bonard để cư ngụ, còn gia đình của Ngài vẫn ở tại Thị xã Tân An.

Ngày 18-12-Ất Sửu (dl 31-1-1926).

Ông Lê Văn Trung lập bàn thờ Thầy rất long trọng và tổ chức lễ Khai đàn Thượng tượng. Đức Chí Tôn giáng dạy ông Trung cách sắp đặt thờ Tam Trấn Oai Nghiêm.

Ngày 30-12-Ất Sửu (dl 12-2-1926): Đêm giao thừa.

Đức Chí Tôn dạy Ngài Chiêu hiệp với quí ông lập phái đoàn đi viếng thăm nhà các môn đệ của Đức Chí Tôn trong dịp giao thừa cuối năm Ất Sửu. Ngài Chiêu làm pháp đàn, hai Ngài Cư và Tắc phò loan, ông Nguyễn Trung Hậu làm độc giả và ông Tuyết Tân Thành làm điển ký.

Phái đoàn lần lượt đi đến từng nhà của các môn đệ, đến mỗi nhà thì phò loan cho Đức Chí Tôn giáng dạy.

Khi phái đoàn đến nhà Ngài Lê Văn Trung thì vừa kịp đón lễ Giao thừa.

Đúng giờ Tý năm mới Bính Dần, Đức Chí Tôn giáng ban Thánh giáo đầu tiên rất quan trọng:

"Chư đệ tử nghe,

CHIÊU buổi trước hứa lời truyền Đạo cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ, dìu dắt cả môn đệ Ta vào đường đạo đức, đến buổi chúng nó lập thành, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó.

TRUNG, KỲ, HOÀI, ba con phải lo thay mặt cho CHIÊU mà đi độ người. Nghe và tuân theo.

BẢN, SANG, GIẢNG, QUÍ lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh. Nghe và tuân theo.

ĐỨC tập cơ, HẬU tập cơ, sau theo mấy anh đặng độ người. Nghe và tuân theo."

Ấy là lời Thánh giáo đầu tiên.

Đây là ngày giờ mà Đức Chí Tôn khởi lập Đạo Cao Đài: giờ Tý mùng 1 Tết năm Bính Dần.

 

Đạo lịch 1 - Năm Bính Dần (1926)

Mùng 8-1-Bính Dần (dl 20-2-1926): Lễ Vía Đức Chí Tôn.

Lễ Vía Đức Chí Tôn được tổ chức tại nhà ông Vương Quan Kỳ, Sài Gòn. Sau phần cúng lễ, quí vị lập đàn cầu Đức Chí Tôn. Ngài Chiêu làm pháp đàn, 2 Ngài Cư - Tắc phò cơ. Đức Chí Tôn giáng dạy. Nhân dịp nầy, Ngài Chiêu bạch xin Đức Chí Tôn lấy tên các môn đệ hiện diện hầu đàn kết thành bài thi để kỷ niệm. Đức Chí Tôn ban cho 4 câu thi: "Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh, v.v..." trong đó có đủ tên của 12 môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn.

Ngày 13-1-Bính Dần (dl 25-2-1926).

Tại nhà ông Cư, Đức Chí Tôn giáng dạy về ý nghĩa của Thiên Nhãn, cách niệm danh Cao Đài, cách bắt ấn Tý, cách lạy, cách dâng Tam bửu (bông, rượu, trà). Bà Hiếu được dạy cách may Thiên phục Đầu Sư phái Thượng.

Ngày 6-3-Bính Dần (dl 17-4-1926).

Đức Chí Tôn dạy 3 ông: Trung, Cư, Tắc lên nhà ông Chiêu bảo ông may Thiên phục Giáo Tông. Bà Hiếu lãnh may và làm mão. Đức Chí Tôn giáng dạy bà Hiếu từng chi tiết, dự bị phong ông Chiêu chức Giáo Tông.

Ngày 11-3-Bính Dần (dl 22-4-1926).

Đức Chí Tôn cho biết: ông Chiêu không lãnh chức Giáo Tông được. Sau nầy, Đức Chí Tôn tiết lộ: Khi Đức Chí Tôn dự bị phong ông Chiêu chức Giáo Tông thì Quỉ vương đòi thử thách ông Chiêu. Vì luật công bình, Đức Chí Tôn phải cho thử thách. Sau 5 ngày thử thách, ông Chiêu thua Quỉ vương nên đành chịu mất ngôi Giáo Tông.

Ngày 14-3-Bính Dần (dl 25-4-1926).

Ông Ngô Văn Chiêu tự ý tách riêng ra khỏi nhóm của quí ông: Trung, Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức.... Đồng ý với ông Chiêu có: Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Lý Trọng Quí.

Ông Chiêu hiệp cùng bốn ông: Trung, Cư, Tắc, Sang từ ngày 14-12-Ất Sửu đến ngày 14-3-Bính Dần thì ông Chiêu tách ra, sự hội hiệp chỉ được 3 tháng tròn.

Ngày 15-3-Bính Dần (dl 26-4-1926).

Lễ Thiên phong Chức sắc đầu tiên tổ chức tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, khởi đúng giờ Tý ngày rằm. Đức Chí Tôn giáng phong:

- ĐứcHậu: phong vi Tiên Đạo Phò Cơ Đạo Sĩ.

- : phong vi Tá Cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ.

- Tắc: phong vi Hộ Giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo Sĩ.

- Trung, Lịch đã thọ sắc, cứ tước vị mà theo sắc mạng Ta. (Hai vị nầy đã được Đức Chí Tôn phong Đầu Sư).

- Kỳ: phong vi Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Đạo Giáo Sư.

- Bản: phong vi Tiên Đạo Công Thần Thuyết Đạo Sư.

Đặc biệt trong cuộc lễ Thiên phong nầy, Đức Chí Tôn trục thần của Phạm Công Tắc để đưa chơn linh Vi Hộ Pháp nhập vào xác thân của Phạm Công Tắc.

Từ cuối tháng 3 năm Bính Dần (1926).

Đức Chí Tôn cho thiết lập nhiều đàn cơ phổ độ để thâu nhận tín đồ gia nhập Đạo Cao Đài. Trong vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có 6 đàn cơ phổ độ, kể ra:

1. Đàn Cầu Kho tại nhà ông Đoàn Văn Bản, ông Vương Quang Kỳ chứng đàn, phò cơ: Hậu - Đức.

2. Đàn Chợ Lớn tại nhà Ngài Lê Văn Trung, Ngài Trung chứng đàn, phò cơ: Cao Q. Diêu - Cao Hoài Sang.

3. Đàn Tân Kim, Cần Giuộc tại nhà ông Nguyễn Văn Lai, ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Văn Lịch chứng đàn, phò cơ: Ca Minh Chương - Phạm Văn Tươi.

4. Đàn Lộc Giang, Chợ Lớn, tại chùa Phước Long của Yết Ma Giống, chứng đàn là ông Mạc Văn Nghĩa và Yết Ma Giống, phò cơ: Trần D. Nghĩa - Trương V. Tràng.

5. Đàn Tân Định tại nhà ông Nguyễn Ngọc Thơ, phò cơ: Cao Quỳnh Cư - Phạm Công Tắc.

6. Đàn Thủ Đức tại nhà ông Ngô Văn Điều, ông Điều chứng đàn, phò cơ: Huỳnh Văn Mai - Võ V. Nguyên.

Ngày 2-7-Bính Dần (dl 9-8-1926).

Tại Vĩnh Nguyên Tự Cần Giuộc, Đức Chí Tôn giáng cơ ban Tịch đạo Chức sắc nam phái: "Thanh Đạo tam khai thất ức niên,......" và phong chức cho quí ông:

- Nguyễn Ngọc Tương: Phối Sư Thượng Tương Thanh.

- Nguyễn Ngọc Thơ: Phối Sư Thái Thơ Thanh.

- Lê Bá Trang: Phối Sư Ngọc Trang Thanh.

- Ngô Văn Kim: Giáo Sư Thượng Kim Thanh.

Ngày 24-7-Bính Dần (dl 31-8-1926).

Đức Chí Tôn phong Ngài Nguyễn Văn Tương (Minh Sư) ở làng Hữu Đạo, Cai Lậy, chức Thượng Chưởng Pháp.

Ngày 29-7-Bính Dần (dl 5-9-1926).

Đức Chí Tôn phong Hòa Thượng Như Nhãn làm Thái Chưởng Pháp và dạy Hòa Thượng xem lại kinh sách xưa mà lập thành Tân Luật của Đạo Cao Đài.

Đức Chí Tôn cũng phong Hòa Thượng Thiện Minh, học trò của Ngài Như Nhãn, chức Đầu Sư Thái Minh Tinh.

Ngày 11-8-Bính Dần (dl 17-9-1926).

Đức Chí Tôn dạy Giáo Hữu Thượng Kiệt Thanh (Nguyễn Văn Kiệt) làm 7 cái ngai; Giáo Sư Thái Bính Thanh làm Trái Càn Khôn.

Ngày 23-8-Bính Dần (dl 29-9-1926): LẬP TỜ KHAI ĐẠO.

Đức Chí Tôn ra lịnh cho Ngài Đầu Sư Lê Văn Trung, họp các môn đệ tại nhà ông Nguyễn Văn Tường ở hẽm 237bis đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) để lập Tờ Khai Đạo gởi lên nhà cầm quyền Pháp.

Có tất cả 247 môn đệ ký tên trong buổi họp, nhưng khi ký vào Tờ Khai Đạo thì chỉ ký tên 28 vị làm đại diện.

Tờ Khai Đạo nầy không phải là Đơn xin Khai Đạo, mà là Tuyên Ngôn chánh thức thành lập Đạo Cao Đài.

Vài ngày sau, lập đàn tại nhà Ngài Cư, Ngài Trung dâng Tờ Khai Đạo lên Đức Chí Tôn duyệt xét.

Đức Chí Tôn chấp thuận và căn dặn Ngài Lê Văn Trung: "Thầy dặn con Trung, nội thứ năm tuần tới phải đến Le Fol mà khai cho kịp nghe."

Ngày 28-8-Bính Dần (dl 4-10-1926).

Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết: Lập ĐĐTKPĐ, Thầy chọn: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền và Tam thiên đồ đệ.

Thứ năm, 1-9-Bính Dần (dl 7-10-1926): Nạp Tờ Khai Đạo.

Ngài Lê Văn Trung vâng lịnh Đức Chí Tôn, sáng thứ năm 7-10-1926 (âl 1-9-Bính Dần) đến dinh Thống Đốc Nam Kỳ nạp Tờ Khai Đạo cho Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol, được Le Fol vui vẻ tiếp nhận.

Ngày 7-9-Bính Dần (dl 13-10-1926).

Ngài Cư dâng tập "Phổ Cáo Chúng Sanh" lên Đức Chí Tôn duyệt xét, được chấp thuận và cho phép ấn hành.

Ngày 10-9-Bính Dần (dl 16-10-1926).

Đức Chí Tôn phong Ngài Thái Lão Sư Trần Văn Thụ ở Vĩnh Nguyên Tự chức: Ngọc Chưởng Pháp.

Ngày 23-9-Bính Dần (dl 29-10-1926).

Đức Chí Tôn giao quyền thưởng phạt các Chức sắc cho Đức Lý Thái Bạch. Ngày nầy được xem là ngày Đức Chí Tôn giao Đức Lý Thái Bạch làm Giáo Tông ĐĐTKPĐ.

Ngày 12-10-Bính Dần (dl 16-11-1926): trước Lễ Khai Đạo 3 ngày.

Đức Chí Tôn dạy lập Lễ Khai Đạo nơi Thánh Thất Gò Kén trong 3 ngày: 14, 15 và 16-10-Bính Dần.

Đức Chí Tôn phong thưởng 3 vị: Trang, Tương, Thơ lên làm Chánh Phối Sư ba phái.

Ngày 14-10-Bính Dần (dl 18-11-1926): ĐẠI LỄ KHAI ĐẠO.

Đức Chí Tôn lập Tịch đạo nữ phái và phong:

- Bà Lâm Thị Thanh: phong vi Giáo Sư Hương Thanh.

- Bà Ca Thị Thế: phong vi Giáo Hữu Hương Thế.

* Đêm nay giờ Tý, 15-10-BD, khởi ĐẠI LỄ KHAI ĐẠO.

Ngày 16-10-Bính Dần (dl 20-11-1926), đêm.

Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền CTĐ.

Ngày 5-11-Bính Dần (dl 9-12-1926).

Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương qui vị tại làng Hữu Đạo, quận Cại Lậy, Mỹ Tho, lúc đó Ngài được 48 tuổi.

Ngày 12-12-Bính Dần (dl 15-1-1927).

Đức Chí Tôn phong:

- Ngài Trần Đạo Quang: Quyền Thượng Chưởng Pháp.

- Ngài Dương Văn Nương: Đầu Sư Thái Nương Tinh. (Còn Ngài Đầu Sư Thái Minh Tinh bị Đức Lý cách chức).

Ngày 13-12-Bính Dần (dl 16-1-1927).

Tân Luật lập xong, 3 Chánh Phối Sư thay mặt Hội Thánh, đủ 6 bàn tay cầm bộ luật dâng lên 3 Đầu Sư, 3 Đầu Sư cũng đủ 6 bàn tay tiếp luật rồi dâng lên 3 Chưởng Pháp, 3 Chưởng Pháp tiếp luật dâng lên Đức Lý Giáo Tông, đặt tại tượng của Ngài.

Ngày 14-12-Bính Dần (dl 17-1-1927).

Đức Lý Giáo Tông mượn hai vị Đầu Sư lên đại điện cầm bộ luật nơi tượng của Ngài, đem giao cho Hộ Pháp. Đức Hộ Pháp khi đưa Luật thì nói: Kỳ một tháng nạp lại.

Cũng ngày nầy, Đức Chí Tôn tiết lộ cho biết:

"- Ông Nguyễn Ngọc Thơ là chơn linh Từ Hàng Bồ Tát giáng trần. - Ông Dương Văn Nương là chơn linh của Văn Thù Bồ Tát giáng trần."

 

Đạo lịch 2 - Năm Đinh Mão (1927)

Ngày mùng 1-1-Đinh Mão (dl 2-2-1927): Tết Đinh Mão.

* Đức Chí Tôn kiểm điểm một năm truyền đạo, độ được 4 muôn môn đệ (40 000 tín đồ).

* Đức Lý Giáo Tông lập Pháp Chánh Truyền nữ phái Cửu Trùng Đài.

* Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương giáng cơ un đúc tinh thần của chư Chức sắc Thiên phong.

Ngày 12-1-Đinh Mão (dl 13-2-1927).

Đức Chí Tôn giáng cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài, phong chức cho Thập nhị Thời Quân.

Ngày 18-1-Đinh Mão (dl 19-2-1927).

Đức Lý quyết định trả chùa Gò Kén cho HT Như Nhãn, dạy Hội Thánh mua đất cất Tòa Thánh. Chỉ mua đất ở Tây Ninh vì Tây Ninh là Thánh địa. Đức Chí Tôn cũng định quyết: Chi chi cũng tại Tây Ninh đây mà thôi. Đức Lý gợi ý chỉ chỗ, Hội Thánh đi xem đất để mua.

Đức Lý dạy làm con dấu cho 3 Chưởng Pháp và 3 Đầu Sư.

Ngày 23-1-Đinh Mão (dl 24-2-1927).

Hội Thánh xem đất xong, tối lại cầu Đức Lý. Đức Lý khen, nói đất ấy là Thánh địa vì có Lục Long Phò Ấn.

Ngày 27-1-Đinh Mão (dl 28-2-1927).

Đức Lý Giáo Tông dạy kích thước xây cất Tòa Thánh, và phải mua Bàu Cà Na để làm Động Đình Hồ.

Ngày 20-2-Đinh Mão (dl 23-3-1927).

Hội Thánh trả chùa Gò Kén cho H.T. Như Nhãn, thỉnh cốt Phật Tổ và ông Sa Nặc về đất mới mua. Công cuộc nầy, Đức Cao Thượng Phẩm gánh vác, đứng ra chỉ huy. Đức Cao Thượng Phẩm nhờ số công quả người Miên phá rừng, đốn cây, xây cất Tòa Thánh tạm, Hậu điện, Đông lang, Tây lang, trù phòng, đào giếng, vv . . .

Ngày 2-5-Đinh Mão (dl 1-6-1927).

Đức Chí Tôn báo cho biết: "Cuối kỳ tháng 6 đây thì Thầy phải ngưng hết cơ bút truyền đạo." Tất cả các đàn cơ phổ độ đều bế lại, chỉ còn cơ bút tại Tòa Thánh mà thôi.

Ngày 14-5-Đinh Mão (dl 13-6-1927).

Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên.

Ngày 29-6-Đinh Mão (dl 27-7-1927).

Đức Phạm Hộ Pháp sang Nam Vang mở đạo. Ngài ngụ tại nhà ông Cao Đức Trọng, lập đàn cơ, Đức Chí Tôn giáng thâu nhận môn đệ, phong Chức sắc cho nhiều vị:

- Lê Văn Bảy, Giáo Hữu phái Thượng, v.v...

- Trần Kim Phụng, Nữ Giáo Hữu Hương Phụng, v.v...

Nhờ số Chức sắc nam nữ đầu tiên nầy, Đức Hộ Pháp lập "Cơ quan Truyền giáo Hải ngoại", thường gọi là Hội Thánh Ngoại Giáo, cử Giáo Hữu Thượng Bảy Thanh làm Chủ Trưởng, trụ sở đặt tại Nam Vang, dưới quyền chưởng quản của Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn.

 

Đạo lịch 3 - Năm Mậu Thìn (1928)

Ngày 19-10-Mậu Thìn (dl 30-11-1928).

Ngài Bảo Đạo Ca Minh Chương đăng Tiên.

Đây là vị Thời Quân của HTĐ đã qui vị đầu tiên.

 

Đạo lịch 4 - Năm Kỷ Tỵ (1929)

Ngày 1-3-Kỷ Tỵ (dl 10-4-1929).

Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư đăng Tiên, lúc 11 giờ trưa, Ngài được 42 tuổi.

Ngày 8-3-Kỷ Tỵ (dl 17-4-1929).

Đức Lý Giáo Tông thăng bà Phối Sư Hương Thanh lên phẩm Nữ Chánh Phối Sư.

Ngày 15-5-Kỷ Tỵ (dl 21-6-1929).

Đức Chí Tôn duyệt và chấp thuận cuốn Đại Đàn Nghi Tiết và 3 bài Dâng Tam Bửu mới do Tiếp Lễ Nhạc Quân Cao Quỳnh Diêu đặt ra, nhưng đến ngày 17-6-Canh Ngọ (dl 12-7-1930), Ngài Thượng Đầu Sư mới ban hành.

Ngày 12-12-Kỷ Tỵ (dl 11-1-1930).

Đức Chí Tôn thăng phẩm cho Ngài Cao Quỳnh Diêu vào chánh vị Bảo Văn Pháp Quân.

 

Đạo lịch 5 - Năm Canh Ngọ (1930)

Ngày 3-10-Canh Ngọ (dl 22-11-1930).

Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Phạm Hộ Pháp lập 6 Đạo Nghị Định, từ Đạo Nghị Định 1 đến 6.

Đặc biệt trong Đạo Nghị Định 2, Đức Lý ban cho Đầu Sư Thượng Trung Nhựt cầm quyền Giáo Tông tại thế.

Ngày 30-11-Canh Ngọ (dl 18-1-1930).

Đức Lý Giáo Tông ban cho Thập Hình để Tòa Đạo xử phạt Chức sắc và Đạo hữu vi phạm luật pháp của Đạo.

 

Đạo lịch 7 - Năm Nhâm Thân (1932)

Ngày 13-3-Nhâm Thân (dl 18-4-1932).

Ngài Ngô Văn Chiêu qui liễu khi ngồi xe du lịch qua phà Cần Thơ, định đi về Tân An. Năm đó, Ngài 55 tuổi. Đám tang của Ngài tổ chức rất long trọng tại Cần Thơ.

Ngày 18-5-Nhâm Thân (dl 21-6-1932).

Ngài Bảo Văn Pháp Quân theo lịnh của Đức Hộ Pháp, viết bài "Kinh Tán Tụng Công Đức DTKM" lấy ý từ bài thi của Phật Mẫu Từ Hỗn độn, Chí Tôn hạ chỉ,..

 

Đạo lịch 8 - Năm Quí Dậu (1933)

Ngày 26-2-Quí Dậu (dl 21-3-1933).

Bà Đoàn Thị Điểm giáng cơ bắt đầu viết Nữ Trung Tùng Phận. Đức Hộ Pháp và Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh phò loan. Về sau, Ngài Cao Tiếp Đạo thế Ngài Tiếp Thế phò loan.

Ngày 1-10-Quí Dậu (dl 18-11-1933).

Ông Phạm Văn Màng, Cai sở Bàu Sen thuộc Phạm Môn, mất tại Sở Quảng nghệ do bịnh nặng, hưởng được 46 tuổi. Thần Hoàng làng Long Thành báo cho biết ông Màng đắc Thánh vị, gọi là Phối Thánh Phạm Văn Màng.

Ngày 29-12-Quí Dậu (dl 12-2-1934).

Bát Nương và Lục Nương giáng cơ báo cho biết Ngọc Hư Cung trở pháp, truất quyền của CTĐ, giao cho HTĐ cầm quyền nền Đạo, bởi vì: "Cửu Trùng không kế an thiên hạ, phải để Hiệp Thiên đứng trị vì". Đức Quyền Giáo Tông biết rằng nhiệm vụ của Đức Ngài sắp chấm dứt.

 

Đạo lịch 9 - Năm Giáp Tuất (1934)

Ngày 16-7-Giáp Tuất (dl 25-8-1934).

Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp hợp nhau lập thành hai Đạo Nghị Định 7 và 8.

Đạo Nghị Định 8: "Những Chi phái nào do bởi ĐĐTKPĐ làm gốc lập thành mà không do nơi mạng lịnh của Hội Thánh thì cả chúng sanh chẳng đặng nhìn nhận là của Chí Tôn và phải định quyết là Bàng môn Tả đạo."

Ngày 13-10-Giáp Tuất (dl 19-11-1934).

Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên tại Giáo Tông Đường, lúc đó Đức Ngài được 59 tuổi.

Sau đó, Đức Lý Giáo Tông giao quyền Giáo Tông hữu hình cho Đức Phạm Hộ Pháp, nên Đức Hộ Pháp xưng là: Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài, Hiệp Thiên và Cửu Trùng.

 

Đạo lịch 10 - Năm Ất Hợi (1935)

Ngày 16-2-Ất Hợi (dl 20-3-1935).

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo) vâng lịnh Đức Chí Tôn giáng cơ lập 7 phẩm Chức sắc HTĐ từ Sĩ Tải đến Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, dưới Thập nhị Thời Quân, để giúp chư vị Thời Quân cầm quyền Tư Pháp của Đạo.

Ngày 23-7-Ất Hợi (dl 21-8-1935).

Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương DTC, Đức Quan Âm Bồ Tát, Đức Phật Thích Ca, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho Kinh Tận Độ (Tân Kinh), từ ngày nầy đến mùng 4 tháng 8 Ất Hợi mới chấm dứt.

 

Đạo lịch 11 - Năm Bính Tý (1936)

Ngày 1-11-Bính Tý (dl 14-2-1936).

Đức Hộ Pháp tiếp nối công việc xây cất Tòa Thánh.

Đức Ngài huy động 500 công quả hiến thân Phạm Môn làm lực lượng công thợ nồng cốt, các Đầu Họ PT trong 21 tỉnh Nam phần VN lo lương thực chở về Tòa Thánh, các Khâm Châu và Đầu Tộc Đạo lo quyên góp tiền bạc của bổn đạo đưa về mua vật liệu xây dựng. Đức Hộ Pháp nói: Chỉ cần mỗi Đạo hữu góp 1 đồng thì Hội Thánh đủ tiền cất Tòa Thánh và nhứt định kỳ nầy thành công.

 

Đạo lịch 13 - Năm Mậu Dần (1938)

Ngày 16-1-Mậu Dần (dl 16-2-1938).

Hội Thánh lập Đạo Luật năm Mậu Dần, Đức Hộ Pháp phê chuẩn, và giao trở lại cho Hội Thánh ban hành.

Ngày 19-10-Mậu Dần (dl 10-12-1938).

Đức Phạm Hộ Pháp hợp với Đức Lý Giáo Tông lập Đạo Nghị Định số 48 thành lập Cơ Quan Phước Thiện.

 

Đạo lịch 16 - Năm Tân Tỵ (1941)

Ngày 4-6-Tân Tỵ (dl 28-6-1941).

Lính mật thám Pháp vào Tòa Thánh bắt Đức Hộ Pháp.

Ngày 17-6-Tân Tỵ (dl 11-7-1941), lính mật thám Pháp lại vào Tòa Thánh bắt thêm 4 vị Chức sắc nữa là: Phối Sư Ngọc Trọng Thanh, Giáo Sư Thái Gấm Thanh, Giáo Sư Thái Phấn Thanh, Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển, đồng thời ở Sài Gòn, chúng đến bắt Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa.

Ngày 4-6 nhuần-Tân Tỵ (dl 27-7-1941), nhà cầm quyền Pháp đưa Đức Phạm Hộ Pháp và 5 vị Chức sắc lưu đày sang đảo Madagascar ở Phi Châu. . . . . . . . . . . . . . . .

 


 

Chương 13:
 

TÔN CHỈ
của ĐẠO CAO ĐÀI

 

I. Định nghĩa.

Tôn chỉ là nguyên tắc chánh yếu để một đoàn thể theo đó hoạt động. Tôn chỉ của Đạo Cao Đài là: Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt. Câu nầy thường thấy nơi phần đầu của bài Sớ văn thượng tấu.

Tam giáo qui nguyên là ba nền tôn giáo trở về gốc. Cái gốc đó là chơn lý tuyệt đối hằng hữu, thường gọi là Thượng Đế. Tam giáo gồm: Nho, Thích, Đạo, tức là Nho giáo hay Khổng giáo, Thích giáo hay Phật giáo, Đạo giáo hay Lão giáo hay Tiên giáo.

Ngũ Chi phục nhứt là năm nhánh đạo trở lại thành một. Một đó là Đại Đạo, Một đó cũng là Thái Cực. Ngũ Chi tức là Ngũ Chi Đại Đạo, năm nhánh của nền Đại Đạo, gồm: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.

Chữ NGUYÊN là gốc và chữ NHỨT là một, đều chỉ Đấng Thượng Đế, vì Ngài là gốc của các nền tôn giáo và là một ngôi Thái Cực tuyệt đối.

Nói Tam giáo qui nguyên là nói trong phạm vi Á Đông, nơi mà Tam giáo (Nho, Thích, Đạo) mở ra để giáo hóa nhơn sanh trong vùng Á Đông nầy.

Nói Ngũ Chi phục nhứt là nói toàn thể thế giới, gồm tất cả các tôn giáo (Vạn giáo), trong đó có Tam giáo.

Tôn chỉ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài là: Tam giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt, nghĩa là: nơi cõi Á Đông thì đem ba nền tôn giáo (Nho, Thích, Đạo) trở về nguồn gốc của nó và trên toàn thế giới thì đem năm nhánh đạo hợp lại thành một nền Đại Đạo duy nhứt.

Đây là một công cuộc vĩ đại của Đức Chí Tôn, phục hưng toàn bộ chơn truyền của tất cả tôn giáo, qui hiệp tất cả giáo lý và triết lý của tất cả tôn giáo vào một mối duy nhứt lập thành một hệ thống giáo lý mới và triết lý mới phù hợp mức tiến hóa cao của nhơn sanh và dung hợp được tất cả các giáo lý cũ và các triết lý cũ.

II. Tam giáo qui nguyên.

Các tôn giáo đã lập ra từ trước tới nay đã thất chơn truyền và lỗi thời, không còn thích hợp với mức tiến hóa cao của nhơn sanh ngày nay. Vả lại, có một số tôn giáo qui phàm rõ rệt, bị những nhà lãnh đạo tôn giáo hiếu chiến lợi dụng, gây thành những cuộc chiến tranh tàn khốc, giết hại nhiều người, được ngụy trang dưới dạng Thánh chiến.

Đức Chí Tôn đến qui nguyên Tam giáo như thế nào?

Ngày nay, Đức Chí Tôn đến đem ba tôn giáo hiệp nhứt, tạo một tòa lớn lao vĩnh viễn cho nhơn sanh nương vào đó mà lánh cơn khổ nạn sầu. Ba nhà tôn giáo ấy tuy đổ sập nhưng Đức Chí Tôn vì lòng từ bi, chọn lựa cái nào còn dùng đặng thì lấy, cái nào hư nát thì bỏ ra, như cột, kèo, xuyên, trính, ngói, gạch, cái nào còn nguyên thì dùng, cái nào bể nát hư hao, bị mối ăn thì bỏ ra, cây nào cong vạy thì uốn lại, trừ ra uốn không nổi mới bỏ. Đức Chí Tôn lấy các vật ấy ráp lại thành một Tòa Đại Đạo cho nhơn sanh sùng bái tu hành, là tòa nhà ngày nay đó.

Chúng ta đều biết rằng, tất cả các tôn giáo, các chi phái đạo hiện hữu đều là những phương tiện để thực hiện mục tiêu là dẫn dắt nhơn sanh tiến hóa đi đến chỗ Chân Thiện Mỹ. Nhưng con người vì vô minh, mê chấp, nên phân biệt đạo ta đạo người, đạo của ta cao, đạo người thấp, chỉ có đạo ta mới là chánh đạo.

Còn các vị Giáo chủ đều là những Đấng Tiên, Phật cao trọng, lãnh lịnh Đức Chí Tôn giáng trần mở đạo, vào các thời kỳ khác nhau, ở các địa phương khác nhau, để mở trí khai tâm cho nhơn loại, hầu lo tu tâm sửa tánh, tiến hóa lần lần để trở về cùng Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.

Các mối đạo đó chỉ là những phương tiện, như cái thang bắc lên mây xanh, để con người biết lối trèo lên từ từ mà trở về quê xưa cảnh cũ. Con người còn nhiều mê muội, chưa hiểu chơn lý, nên sanh đố kỵ tỵ hiềm, chấp ta ngã mạn, đi đến chỗ chia rẽ phân biệt giữa các tôn giáo, không thực thi đúng tinh thần Bác ái và Công bình, và những điều giảng dạy chơn chánh của các Đấng Giáo chủ, làm cho các mối đạo qui phàm và hỗn loạn.

Đạo không còn hướng dẫn được người đời, khiến cho đời càng thêm hỗn loạn, mất hết đạo đức, nên luôn luôn xảy ra chiến tranh giết chóc lẫn nhau, chỉ vì tham vọng.

III. Ngũ Chi phục nhứt.

Đức Chí Tôn dạy:

"Vốn từ trước, Thầy lập ra Ngũ Chi Đại Đạo là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Tùy theo phong hóa của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi. Còn nay, nhơn loại đã hiệp đồng, Càn khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định qui nguyên phục nhứt." (TNHT)

Theo lời Thánh ngôn trên đây của Đức Chí Tôn thì ngày nay, Đức Chí Tôn phục nhứt năm nhánh đạo, lập thành nền Đại Đạo do Đức Chí Tôn đích thân chưởng quản, vì 3 lý do sau đây:

1. Ngày xưa, nhơn loại chưa văn minh, việc đi lại từ nơi nầy đến nơi khác rất khó khăn và mất nhiều thời gian, sự thông tin liên lạc giữa dân tộc nầy với dân tộc khác cũng rất khó khăn. Do đó, Đức Chí Tôn mở ra cho mỗi địa phương một mối đạo để độ rỗi nhơn sanh vùng đó. Vì vậy mà có nhiều mối đạo khác nhau trên thế giới. Đó là thời Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ, là giai đoạn Nhứt bổn tán vạn thù (Một gốc phân ra muôn sai biệt).

2. Ngày nay, nhơn loại rất văn minh, chế tạo được những phương tiện đi lại rất nhanh như máy bay, xe hơi, tàu thủy, và chế tạo được một hệ thống thông tin liên lạc rất nhanh chóng, lại chế tạo được các máy điện tử có thể dịch tiếng nói của nước nầy sang tiếng nói của nước khác.

Cho nên Đức Chí Tôn nói rằng, ngày nay Càn Khôn dĩ tận thức, Đức Chí Tôn không cần mở nhiều mối đạo như xưa mà chỉ cần mở một nền Đại Đạo duy nhứt, bằng cách qui hiệp các đạo đã lập từ trước, thống nhứt tín ngưỡng, rồi nhờ hệ thống thông tin liện lạc của thời đại văn minh hiện nay mà truyền bá nền Đại Đạo ấy ra khắp hoàn cầu.

Đức Chí Tôn có tiên trị rằng: Ngày sau, người Trung hoa sẽ thờ phụng Đạo Cao Đài đáo để và người Mỹ sẽ truyền bá Đạo Cao Đài khắp hoàn cầu.

Đây là thời Tam Kỳ Phổ Độ, là giai đoạn Vạn thù qui nhứt bổn (Muôn sai biệt trở về một gốc).

3. Thời xưa, mỗi mối Đạo thì có một Giáo chủ, khi vị Giáo chủ ấy thoát xác trở về cõi thiêng liêng thì mối đạo ấy lần lần bị người phàm canh cải, trở nên phàm giáo. Các phàm giáo chống báng nhau, đạo mình chánh, đạo kia tà, gây ra nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo tàn khốc.

Ngày nay Đức Chí Tôn qui hiệp tất cả tôn giáo trong Ngũ Chi vào một nền Đại Đạo duy nhứt, do Đức Chí Tôn làm Giáo chủ, lập thành năm nấc thang tiến hóa cho nhơn sanh đắc đạo. Năm nấc thang tiến hóa đó là: Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Người tu có công đức ngang bằng với nấc tiến hóa nào thì sẽ được Đức Chí Tôn ban cho phẩm vị tương ứng trong nấc ấy.

Lại nữa, kỳ nầy, Đức Chí Tôn không đầu thai xuống phàm để mang xác phàm, mà Đức Chí Tôn vẫn ngự trên Bạch Ngọc Kinh, dùng huyền diệu cơ bút, giáng điển xuống trần mở đạo và nắm giữ mối đạo. Nhờ vậy, nền Đại Đạo sẽ mãi mãi là Chánh truyền, không bao giờ bị phàm hóa.

Đức Hộ Pháp đọc diễn văn tại Tòa Thánh ngày 14-2-Mậu Thìn (dl 5-3-1928), thuyết giảng về Ngũ Chi phục nhứt:

"Với các nguyên nhân thì Ngũ Chi tỉ như một cái thang năm nấc bắc cho mình leo lên địa vị ngang bực cùng Thầy, tức là Phật phẩm đó vậy. Chưa ai nhảy một nhảy mà lên cho tới tầng lầu 5 thước bề cao, mà như ai để sẵn một cái thang năm nấc, mình có thể lần lần mà leo lên đặng. Thầy hiệp Ngũ Chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình. Hễ ngồi đặng phẩm nào thì địa vị mình nơi ấy, chẳng ai còn tranh giành ngược ngạo không nhìn nhận cho được.

- Mình là người tức có sẵn Nhơn phẩm, mình mới luyện Nhơn hồn theo gương của chư Thần mà chúng ta thờ phụng đó, thì tức nhiên cũng đoạt đặng đức tánh của chư Thần mà làm Thần vị của mình.

- Đặng Thần vị rồi, lại xem gương của các Thánh mà tu luyện Thần hồn của mình cho đặng Thánh đức, tức nhiên cũng đoạt được Thánh vị vậy.

- Đặng Thánh vị rồi, cũng luyện Thánh hồn mình theo tánh đức của chư Tiên mà đoạt đặng Tiên vị.

- Khi biết mình đã vững nơi Tiên vị rồi thì mình cũng cứ đào luyện Tiên hồn của mình theo gương chư Phật mà gấm ghé vào Phật vị.

Tưởng như có kẻ hỏi: Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật xa cách với người như Trời với Đất, khác nhau kẻ tục người thanh thì thế nào người phàm mong mỏi leo lên phẩm vị ấy cho xứng đáng? Ta lại đáp như vầy:

▪ Những Vật chất có một điểm Thảo mộc hồn. Như cây bông đá đó vậy.

▪ Thảo mộc có một điểm Thú hồn, như cây mắc cở.

▪ Thú hồn có một điểm Nhơn hồn, như loài cầm điểu thì có: két, cưởng, nhồng; tẩu thú thí có: chó, ngựa, khỉ; còn ngư thú có: cá ông đó vậy.

▪ Nhơn hồn có Thần hồn đã đành, chẳng cần phải giải.

▪ Thần hồn có Thánh hồn, Thánh hồn có Tiên hồn, Tiên hồn có Phật hồn.

Ấy vậy, nơi mình chúng ta đã có sẵn một điểm Thần, Thánh, Tiên, Phật hồn. Nếu ta biết làm cho chơn hồn tăng tiến lên hoài cho tới phẩm vị Tiên, Phật thì phải tập luyện tu hành và đắc kỳ truyền mới đặng."

Ngũ Chi Đại Đạo lập thành năm nấc thang tiến hóa từ thấp lên cao, nghĩa là một chương trình học tập năm cấp lớp (Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật), có mục đích đưa người tu lần lần tiến lên đến tột đỉnh phẩm vị thiêng liêng, hiệp nhập vào khối Đại Linh Quang của Thượng Đế. Chương trình năm cấp lớp nầy thể hiện giáo lý thuần nhứt của Đại Đạo mà bất cứ người tu nào muốn phản bổn hoàn nguyên đều phải trải qua năm cấp học ấy.

Ngũ Chi Đại Đạo cũng biểu tượng năm phương thức hành đạo là: Tùng khổ, Thắng khổ, Thọ khổ, Thoát khổ và Giải khổ, của năm bậc: Hiền, Thần, Thánh, Tiên, Phật, để lập thành đường lối hành đạo đi đến "Tuyệt khổ".

Như thế, Ngũ Chi Đại Đạo là năm trình độ chuyển hóa liên hợp nhứt quán trên cứu cánh giải thoát con người khỏi sự đau khỗ phiền não một cách toàn diện.

Ba Chi đầu là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo để tạo lập cảnh thế giới đại đồng, lập đời thượng nguơn Thánh đức, để cho các bậc Hiền nhân, Thánh triết tạm dừng chân trong hành trình tu tiến. Hai Chi sau là Tiên đạo và Phật đạo để các bậc ấy tiếp tục tu tiến, đắc thành chánh quả, vào bực trọn lành, thoát khỏi luân hồi, hiệp nhập vào Thượng Đế. Đó chính là cứu cánh của Đại Đạo.

IV. Kết luận.

Tôn chỉ của Đạo Cao Đài quá cao siêu vĩ đại, không một người phàm nào có thể thực hiện được, chỉ có Đức Chí Tôn mới thực hiện được mà thôi.

Đức Chí Tôn ủy quyền cho Đức Phật Di-Lạc thực hiện cơ qui nhứt trong Đại Hội Long Hoa mà Ngài là Giáo chủ. Đó là cơ vạn giáo qui nhứt, không riêng gì Tam giáo, để lập đời Thánh đức, đại đồng huynh đệ. Đức Phật Di-Lạc sẽ thâu các đạo hữu hình làm một mối. Những người nào không đủ trình độ vào đời Thánh đức sẽ bị loại bỏ trong công cuộc qui hiệp và phán xét vĩ đại nầy.

Đức Hộ Pháp thuyết đạo tại Đền Thánh ngày 1-7-Mậu Dần (1938) nói về Đức Chí Tôn qui nguyên Tam giáo, phục nhứt Ngũ Chi:

" Tại sao Đức Chí Tôn không giáng bằng xác thân, lại giáng bằng huyền diệu cơ bút?

Tại thời kỳ chuyển đạo vô vi, chấn hưng Tam giáo, phục nhứt Ngũ Chi, nên Đức Chí Tôn giáng bằng huyền diệu cơ bút, mới qui đặng cả đại đồng Tam giáo. Bởi Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ, Phật Thánh Tiên giáng trần mở Tam giáo, trong buổi nhơn loại chưa hiệp đồng, ba vị Giáo chủ phải thọ sanh riêng địa phận, nên hai kỳ khai đạo ấy chỉ phổ độ trở về cựu vị có 8 ức nguyên nhân; còn buổi Hạ nguơn Tam Kỳ Phổ Độ là thời kỳ ân xá tội tình cho toàn thể chúng sanh, lại nhơn buổi văn minh nhơn loại thông đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, nên Đức Chí Tôn dùng huyền diệu giáng cơ khai đạo, chủ nghĩa là tận độ 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị nên gọi là cơ quan cứu thế.

Nếu Đức Chí Tôn chia chơn linh giáng thế như buổi trước, thì phải tá mẫu đầu thai, mang hình thể hữu vi, lại nữa là đạo khai trong nước Việt Nam thì phải thọ sanh làm người Việt Nam thì có thế nào chuyển ba mối đạo khắp ngũ châu và toàn thế giới đặng.

Lại nữa, các dân tộc trong vạn quốc không thể hiệp đồng sự tín ngưỡng làm một thì khó mà độ tận chúng sanh, cho nên Đức Chí Tôn giáng bằng huyền diệu cơ bút đặng làm cho các nước để trọn đức tin rằng một Đấng Chí Linh giáng thế cứu đời, qui tụ cả khối tinh thần của nhơn loại duy nhứt, chỉ rõ bằng cớ như kỳ hội các tôn giáo tại Luân Đôn, các nước đều công nhận Đạo Cao Đài là chơn thật, có thể qui nguyên đại đồng tôn giáo.

Đức Chí Tôn tuy chẳng giáng bằng xác thân, mà lại qui tụ lương sanh lập Hội Thánh thay hình thể hữu vi cho Đức Chí Tôn và lập Quyền Vạn linh bằng quyền Chí Linh. Kỳ Hạ nguơn nầy, dầu chúng sanh có tàn bạo hung ác thế nào cũng không làm hại xác thân của Đức Chí Tôn như các vị Giáo chủ buổi trước. Bởi quyền Vạn linh có đủ nghị lực tinh thần lập khuôn viên luật pháp, xây chuyển cơ đạo và cơ đời cho thuận theo lẽ tuần hoàn của Tạo hóa.

Đức Chí Tôn khai đạo kỳ thứ ba nầy giáng bằng huyền diệu cơ bút, là do Thiên thơ tiền định, chuyển đạo vô vi, hiệp Tam giáo Ngũ Chi làm một.".

 


 

Chương 14:
 

NHO TÔNG CHUYỂN THẾ

 

I. Nho tông chuyển thế.

Nho tông là Nho giáo, đạo Nho. (Tông là tôn giáo).

Chuyển thế là làm cho cuộc đời thay đổi từ xấu ra tốt, từ loạn ra trị, từ hung dữ ra hiền lành đạo đức.

Nho Tông Chuyển Thế là một chủ trương lớn của Đạo Cao Đài, đối với cuộc thế, đối với nhơn quần xã hội.

Chủ trương nầy là dùng tinh hoa của học thuyết Nho giáo để cải tạo cuộc thế trong buổi Hạ nguơn mạt kiếp, phong hóa suy đồi, nền nếp gia đình đổ vỡ, xã hội vì danh lợi mà tranh giành sát phạt nhau dữ dội, làm cho mạnh được yếu thua, khôn còn dại mất.

Với chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài thành một cơ quan chuyển thế.

Đức Hộ Pháp trong bài thuyết đạo tại Đền Thánh đêm 1-9-Đinh Hợi (1947) giải thích Nho tông chuyển thế như sau:

"Bần đạo nhớ buổi Chí Tôn mới đến tỏ danh hiệu Người, Người hứa với các môn đệ của Người buổi đầu tiên về Cơ quan chuyển thế, làm phân vân biết bao nhiêu nhà trí thức tìm hiểu hai chữ Chuyển thế nghĩa là gì?

Theo triết lý học, định nghĩa hai chữ Chuyển thế là: xoay đổi thời đại hiển nhiên ra thời đại khác, hoặc không phù hạp, hoặc quá khuôn khổ nề nếp nên quyết đoán thay đổi lập trường thiêng liêng vì thời đại nầy đã định.

Chuyển nghĩa là sửa đổi cũ ra mới. Lấy nghĩa lý đã định hẳn ra, tức nhiên chúng ta nhận thấy các khuôn luật đạo đức từ trước đến giờ để lại đều bị biếm cả, bởi vì đời quá hung tàn bạo ngược, vô nhơn luân, tinh thần đạo đức không qui định, tâm lý loài người không tương quan cùng nhau, mất cả luật đồng sanh làm căn bản cho loài người, luật đồng sanh gần như bị hủy bỏ, bởi thấy tấn tuồng trước mắt, nào giặc giã chiến tranh giành sống mà giết hại lẫn nhau, oán kết thâm thù, loài người do nơi ấy mà biến sanh tàn ác, cái phương sanh sống đến một giai đoạn rất khó khăn và chúng ta thử xét đoán trong các kinh điển Đạo giáo đã để lại là mưa dầu nắng lửa. Trận mưa dầu nắng lửa sẽ có hiện tượng y như trong kinh đã nói. Cũng vì sự sanh hoạt khó khăn mà loài người giết hại lẫn nhau.....

Đời sống đến giai đoạn khó khăn hơn nữa, những phẩm vật nuôi sống loài người càng giảm bớt thì nhơn loại còn quyết liệt chiến đấu hơn nữa."

"Nền Đạo Cao Đài là Nho Tông Chuyển Thế thì tức nhiên của toàn xã hội nhơn quần tại mặt địa cầu nầy, nhờ đạo Nho sửa đương chỉnh đốn thiên hạ lại. Chúng ta thấy xã hội tinh túy đạo đức của họ dường như đảo ngược lại, khủng hoảng tinh thần mà ra vậy."

Đạo Cao Đài chủ trương Nho Tông Chuyển thế, không có nghĩa là đem toàn cả học thuyết của Nho giáo ra áp dụng một cách máy móc khắt khe, vì xã hội hiện tại là dân chủ, nam nữ bình quyền, trình độ tiến hóa về khoa học kỹ thuật cũng như tinh thần rất cao so với thời kỳ của Đức Khổng Tử cách đây hơn 2500 năm.

Hơn nữa, tại sao không dùng Phật giáo hay Lão giáo, hoặc Thiên Chúa giáo để làm căn bản chuyển thế? mà phải dùng Nho giáo? Bởi vì không có học thuyết nào dạy Nhơn đạo kỹ bằng Nho giáo. Muốn cải tạo xã hội thì phải dạy Nhơn đạo, vì Nhơn đạo là căn bản, chớ không thể dạy Thánh đạo, Tiên đạo hay Phật đạo. Nhưng chỉ lấy những điểm tinh hoa của Nho giáo làm căn bản giáo dục mà thôi, bởi vì toàn cả giáo lý Nho giáo có nhiều điểm không còn thích hợp với xã hội ngày nay.

Những tinh hoa của giáo lý Nho giáo được áp dụng ngày nay, có thể kể ra sau đây:

▪ Phần chung:

Thiên Địa vạn vật đồng nhứt thể.
Nhơn Nghĩa, Trung Dung.

▪ Phần riêng:

Nam thì Tam cang, Ngũ thường.
Nữ thì Tam Tùng, Tứ đức.

▪ Phương pháp thực hành chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, trước hết thi hành ba điểm:

Tôn trọng Nhơn luân.
Sùng kính Nhơn Nghĩa.
Phục hưng Lễ Nhạc.

II. Quốc Đạo - Nam phong.

Quốc đạo tức là Quốc giáo, là nền tôn giáo chánh thức của một nước.

Đạo Cao Đài là quốc đạo của VN, vì Đạo Cao Đài được Đức ChíTôn mở ra trên đất nước VN, cho dân tộc VN.

TNHT:

Từ thử nước Nam chẳng đạo nhà,
Nên Ta gầy dựng lập nên ra.

Đó là lời xác nhận của Đức Chí Tôn Thượng Đế.

Trên đất nước VN hiện nay có rất nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, đạo Bà La Môn, v.v.... Những tôn giáo nầy đều được mở ra ở các nước ngoại quốc rồi truyền vào VN, được người VN chấp nhận và tôn sùng.

Nhưng, riêng nước VN, kể từ khi lập quốc đến nay, chưa có một tôn giáo được khai mở trên đất nước VN, cho dân tộc VN. Ngày nay, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế đến ban thưởng cho dân tộc VN, bằng cách mở ra trên đất nước VN, cho người VN một nền Đại Đạo gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hay nói vắn tắt là Đạo Cao Đài, do Đấng Thượng Đế tá danh Cao Đài làm Giáo Chủ.

Thật là vinh hạnh cho dân tộc Việt Nam!

TNHT: "Thầy đã lập Đạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thử đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy lại tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu. Từ tạo Thiên lập Địa, chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 nầy đặng vậy. Cốt để ban thưởng các con thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao?"

"Thầy có hội chư Tiên Phật lại mà thương nghị về sự lập Đạo tại Đại Nam Việt quốc. Các con khá nghe lời Thầy dặn, chớ khá nghịch lẫn nhau, phải đồng một lòng một dạ mà lo chấn hưng đạo đức."

"Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Đạo là quí thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu các con mới thấy rõ Thiên cơ thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai."

"Từ đây trong nước Nam duy có một Đạo chơn thật là Đạo Thầy đã đến lập cho các con, gọi là Quốc Đạo, hiểu à!"

Đức Chí Tôn giáng cho bài thi và bảo chép lại bằng Hán văn để gởi cho vua Bảo Đại lúc đó, trong đó có 2 câu:

 

Quốc Đạo kim triêu thành Đại Đạo,
Nam phong thử nhựt biến Nhơn phong

Nghĩa là:

Nền Quốc Đạo Cao Đài ngày nay biến thành nền Đại Đạo cho cả hoàn cầu,
Nền phong hóa của nước Việt Nam ngày ấy sẽ biến thành nền phong hóa của nhơn loại.

Nam phong là nền phong hóa của dân tộc Việt Nam. Nhờ thi hành chủ trương Nho tông chuyển thế của Đạo Cao Đài, nền phong hóa của Việt Nam sẽ trở nên vô cùng tốt đẹp, được dùng làm gương mẫu cho các nước trên toàn thế giới noi theo.

"Nơi dãy đất VN chúng ta đã tám mươi mấy năm khổ nạn, dân sanh sống dưới quyền lệ thuộc, hầu hết đã gần quên tinh thần cổ truyền của tổ phụ để lại.

May thay cho nòi giống Lạc Hồng, là không đến nỗi phải chịu mất tinh thần cố hữu ấy, nên được Đức Chí Tôn dùng dãy đất nầy làm Thánh Địa và định cho dân tộc Việt Thường hưởng hồng ân của Ngài trước nhứt, rồi mới cho nhơn loại trên mặt địa cầu nầy hưởng sau.

Theo Thánh ý của Đức Chí Tôn là muốn dùng dân tộc VN làm gương mẫu cho toàn cầu, là chỗ mà thiên hạ cho là thấp hèn, bạc nhược, lại được Đức Chí Tôn đem lên ngang hàng cùng vạn bang, mà còn cho trổi hơn mặt tinh thần, do đó mới kêu là Quốc Đạo." (Trích Thánh giáo của Đức Cao Thượng Phẩm tại Báo Ân Từ ngày 1-10-Canh Dần)

Đức Hộ Pháp thuyết đạo tại Đền Thánh đêm 30-9-Đ.Hợi 1937:

"Hai chữ Quốc Đạo, lần đầu Chí Tôn viết ra làm cho Bần đạo mờ mịt. Cũng vì hai chữ Quốc Đạo mà Phạm Công Tắc chết năm 35 tuổi, thí thân đeo đuổi làm cho ra thiệt tướng. Ôi! Hai chữ Quốc Đạo là một vật mà Bần đạo tiềm tàng rồi mới hiểu. Khởi điểm biết thương nòi giống, biết thương tổ quốc, đeo đuổi mất còn với cái điều khát khao từ buổi thanh xuân đó vậy. Tự biết khôn dĩ chí gặp Đạo năm 35 tuổi, Bần đạo thấy sao mà phải khao khát thèm lạt, tại làm sao Chí Tôn biết thiếu thốn nơi tinh thần điều ấy mà cho Bần đạo.

Bần đạo ban sơ nghi hoặc, có lẽ một Đấng có quyền năng thiêng liêng biết tâm lý đang nồng nàn ao ước, đương thèm lạt khao khát, đương tiềm tàng mà đem ra cám dỗ. Hại thay! Yếu ớt đức tin, ngày nay Bần đạo ăn năn quá lẽ, 15 năm đã đặng thấy gì?

Cả toàn thiên hạ nói rằng: Nòi giống VN không có Đạo. Lạ lùng thay! chúng ta tự hỏi có thật vậy chăng? Thật quả có chớ, có nhiều Đạo quá mà thành ra không Đạo, chỉ mượn Đạo, xin Đạo của thiên hạ mà thôi..... Thành thử VN có nhiều Đạo quá mà thành ra không Đạo.

Ngày Chí Tôn tình cờ đến, vì ham thi văn nên ban sơ Diêu Trì Cung đến dụ bằng thi văn tuyệt bút làm cho mê mẩn tinh thần. Hại thay! Nếu chẳng phải là nhà thi sĩ, ắt chưa bị bắt một cách dễ dàng như thế. Vì ham văn chương thi phú nên Ngài ráng dạy. Chí Tôn đến ban đầu làm bạn thân, rồi dạy đạo, kế bảo Vọng Thiên cầu Đạo, rồi Ngài dạy lập Đạo.

Khi ấy, Bần đạo chưa tín ngưỡng, bởi lẽ nòi giống nước Nam còn tín ngưỡng tạp nhạp lắm, không chưn đứng, không căn bản, nói rõ là không tín ngưỡng gì hết. Bần đạo mới trả lời với Đức Chí Tôn, ngày nay Bần đạo nghĩ lại rất sợ sệt. Nếu không phải gặp Đấng Đại Từ Bi thì tội tình biết chừng nào mà kể.

"Thưa Thầy, Thầy biểu con làm Lão Tử hay Jésus, con làm cũng không đặng; Thích Ca, con làm cũng không đặng, con chỉ làm đặng Phạm Công Tắc thôi. Con lại nghĩ con bất tài vô đạo đức nầy quyết theo Thầy không bỏ, nhưng tưởng cũng chẳng ích chi cho Thầy."

Đấng ấy trả lời: - Tắc, thảng Thầy lấy tánh đức của Phạm Công Tắc mà lập giáo, con mới nghĩ sao?

Bần đạo liền trả lời: - Nếu đặng vậy . . . .

Ngài liền nói: - Thầy đến lập cho nước Việt Nam nầy một nền Quốc Đạo.

Nghe xong, Bần đạo từ đấy hình như phiêu phiêu lên giữa không trung, mơ màng như giấc mộng. Được nghe nói cái điều mà mình thèm ước nên Bần đạo không từ chối đặng. Ôi! Quốc Đạo là thế nào? Quốc là nước, vậy nòi giống tín ngưỡng lập Quốc Đạo, Bần đạo theo tới cùng coi lập nó ra thế nào, hình tướng nào cho biết. Vì đó mà lần mò theo đuổi đến ngày nay, thấy hiện hữu cái hình trạng là Đạo Cao Đài, rồi lại đoán xét coi nó biến hình Quốc Đạo Việt Nam ra sao?

Ngài cho một bài thi, dám chắc không ai thấu đáo nổi, người coi cái gốc thì không thấy ngọn, người coi cái ngọn thì không thấy gốc, tứ văn thiệt thà hay ho cho tới các đảng phái quốc sự ngày nay cũng lợi dụng.

Từ đây nòi giống chẳng chia ba.

Tức nhiên không chia 3 Đạo, chớ không phải chia 3 Kỳ!

Thầy hiệp các con lại một nhà.

Thầy nắm chủ quyền hiệp Tam giáo, nếu nói riêng nòi giống hiệp Nam, Trung, Bắc thì vô vị lắm.

Nam, Bắc cùng rồi ra ngoại quốc.

Tức nhiên nền chơn giáo Quốc Đạo không phải của ta thôi, mà lại của toàn nhơn loại, truyền giáo Nam Bắc thành tướng rồi ra ngoại quốc, tức là tôn giáo toàn cầu.

Chủ quyền chơn đạo một mình Ta.

Tam giáo, Ngài vi chủ, nắm cả tín ngưỡng và tinh thần của loài người, chính Đức Chí Tôn là Chúa tể Càn khôn thế giới, làm chúa nền Chánh giáo tại nước Nam, tức đủ quyền năng lập Quốc Đạo....

Chí Tôn nói rằng: Quốc Đạo nầy, Ngài qui tụ tinh thần đạo đức trí thức toàn nhơn loại cho đặc biệt, có cao có thấp, có hàng ngũ có phẩm giá; còn về phần xác thịt của loài người, mạng sống trước mặt Ngài không ai hơn ai, cả thảy sống đồng sống, chết đồng chết, đặng đem Quốc Đạo làm môi giới cả đại đồng đặng tạo tương lai loài người cho có địa vị oai quyền cao thượng."

Nếu hiểu đặng thì Thánh thể cũng vậy, Hội Thánh chư Chức sắc Thiên phong nam nữ hay toàn thể tín đồ cũng vậy, lãnh Thiên mạng đảm nhiệm trách vụ thiêng liêng Chí Tôn phú thác lập giáo, tức nhiên phải có phẩm giá, trật tự đẳng cấp. Nếu hiểu thêm ý của Ngài, khi cổi áo nầy ra khỏi đại điện rồi hết thảy đồng là anh em, không ai hơn ai, không ai thua ai, không khinh không trọng, đầy đủ tình yêu ái trong lòng Mẹ đem ra mà thôi. Nam nữ cũng thế. Ngày giờ nào nhơn loại cả thế gian ở mặt địa cầu nầy hiểu được lý lẽ chí hướng cao thượng ấy là ngày Đạo Cao Đài sẽ ra thiệt tướng."

Nước Việt Nam trong buổi Hạ nguơn, được hồng ân của Đức Chí Tôn ban cho một nền Quốc Đạo Cao Đài. Người VN không nên ích kỷ, bo bo giữ lấy mối Đạo cao thượng của mình, mà phải truyền bá ra khắp năm châu để toàn cả nhơn loại đều được hưởng ân điển của Đấng Chí Tôn, Đại Từ Phụ của toàn nhơn loại, làm cho nền Quốc Đạo VN trở thành nền Đại Đạo của toàn nhơn loại.

"Lo lường thấu đáo đạo huyền vi,
Ngàn tuổi chưa ai dám sánh bì.
Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc,
Ngày sau làm chủ mới là kỳ!"

(Đức Chí Tôn)

Nhờ nền Quốc Đạo Cao Đài mà dân tộc Việt Nam sẽ làm chủ tinh thần của nhơn loại, và nền phong hóa Việt Nam sẽ làm gương mẫu cho các dân tộc trên thế giới.

 


 

Chương 15:
 

PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH
thời ĐẠI ÂN XÁ

 

I. Câu chuyện luyện đạo.

Một bạn đạo thuộc đạo dòng, gia đình khá giả, làm nghề dạy học, nay con cái đã trưởng thành có nghề nghiệp ổn định, nên bạn có thời giờ sưu tập các kinh sách của Đạo để nghiên cứu và học tập.

Bạn muốn đi làm công quả nên thường đến Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu, nhưng bạn nhận thấy ở đó không có việc làm nào thích hợp với khả năng của bạn, và nhất là bạn thấy ở đó có nhiều người nhiều việc làm cho bạn không hài lòng, đôi khi bạn không thể ngờ là có thể có những việc phàm tục như vậy xảy ra trong cửa Đạo.

Bạn nghĩ rằng, Thánh Thất là nơi thể hiện tình thương và sự hòa hợp, cho nên khi bước vào Thánh Thất, chúng ta thấy ngay bức họa "Tam Thánh Ký Hòa Ước" với bốn chữ "Bác Ái - Công Bình", nhưng bạn ít khi thấy sự bác ái và công bình thể hiện rõ nét ở nơi đây. Hay bức họa nầy chỉ rằng, nơi đây là trường thi mà hai môn thi là: Bác ái và Công bình, để xem thí sinh ở đây ai đậu ai rớt.

Bạn rút về nhà nghiên cứu kinh sách. Bạn đọc qua các kinh sách của Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, rồi đọc vài quyển sách của chi phái Chiếu Minh, những Thánh giáo Sưu tập của các chi phái khác. Bạn vẫn còn nhiều thắc mắc chưa giải tỏa được, bạn bèn tìm đọc các sách của Tam giáo. Khi đọc sách Thiền Tông, bạn rất thích thú, nhưng cảm thấy khó quá! Bạn đọc qua các sách Tiên giáo dạy về Tinh Khí Thần, bạn cảm thấy thích hạp hơn.

Bạn hỏi tôi: - Tại sao Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh có xây dựng các Tịnh Thất, mà sao không có tài liệu nào dạy cách luyện đạo?

Tôi đáp: - Tịnh Thất là phần hành của Đức Cao Thượng Phẩm HTĐ. Ngài qui Tiên quá sớm nên Ngài giao quyền lại cho Đức Phạm Hộ Pháp. Sau khi cất Tòa Thánh xong, Đức Hộ Pháp lo xây dựng các Tịnh Thất. Đức Ngài đã cất được Trí Huệ Cung và Trí Giác Cung. Tuy đã cất được hai Cung, nhưng đó là để tạo phần căn bản cho sau nầy, chớ Đức Chí Tôn chưa cho Đức Hộ Pháp mở Bí pháp luyện đạo. Đó là vì còn trong thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn. Bạn đọc kỹ trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, không có chỗ nào Đức Chí Tôn cho phép tín đồ Cao Đài luyện đạo trong giai đoạn nầy, mà Đức Chí Tôn lại nói nhiều lần rằng: Chỉ có làm công quả phụng sự nhơn sanh thì mới đắc đạo. Xin trích Thánh Ngôn:

"Trong các con, có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhơn sự chưa xong thì không thế nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi." (TNHT hợp nhứt, B 108)

ĐĐTKPĐ là con đường ngắn nhất mà Đức Chí Tôn mở ra cho con cái của Ngài đắc đạo. Tuy nhiên, Đức Chí Tôn cũng không bắt buộc, tùy ý lựa chọn, muốn tu theo đường khác cũng được, miễn là giữ vững chánh tâm, đừng lầm theo đường tà quái. Ai thích đi đường vòng mà khuyên can không được thì cứ để họ đi, hơn là bắt buộc làm họ bất mãn mà sa vào vòng tà quái thì Đức Chí Tôn không đành lòng. Thà để cho họ tiến hóa chậm một chút còn hơn là để họ lọt vào tay tà quái mà bị thoái hóa thì rất uổng.

Bạn tôi hiểu biết hết các lẽ đó, nhưng dường như có một điều gì đó rất hấp dẫn, hạp với ước vọng của bạn tôi, khiến bạn tôi hướng về việc tu Thiền, mà lý do đầu tiên là để trấn an tinh thần, làm cho cái tâm bớt vọng động trước những diễn biến phức tạp của việc đời và việc Đạo.

Thời gian thấm thoát trôi qua chừng 3 năm, tôi có dịp gặp lại bạn, tôi hỏi bạn tu Thiền được 3 năm rồi, bạn đạt được những điều gì?

Bạn cho biết nhờ đếm hơi thở, bạn định được cái tâm, gìn cái ý, khi ngồi thiền, có một luồng điện chạy rần rần trong xương sống từ xương cụt lên đỉnh đầu, làm cơ thể của bạn ấm lên, xuất mồ hôi, nhờ đó bạn trục các trược khí trong người thải ra ngoài, làm cơ thể của bạn không bịnh tật, khỏe mạnh luôn luôn.

Tôi nói: - Tôi đọc sách thấy: Nếu tu được một ngàn ngày thì có ấn chứng, sao bạn không có gì hết vậy?......

Sau đó, bạn tôi chuyển qua luyện đạo theo Tiên giáo: luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hiệp Thần, luyện Thần hoàn Hư. Nhờ tu thiền 3 năm mà bạn tôi luyện Tinh hóa Khí của giai đoạn đầu, kết quả khá dễ dàng. Giai đoạn kế là luyện Khí hiệp Thần, bạn luyện hoài mà thấy không hiệp được. Bạn nghiên cứu lại các sách xem có bí quyết gì không, cuối cùng bạn cũng luyện được Khí hiệp Thần, bạn có thể xuất chơn thần của bạn ra khỏi thể xác. Cái chơn thần nầy có hình ảnh giống y như bạn, khi xuất ra thì ngồi kế bên bạn, không đi đâu được, bởi vì mỗi lần muốn đi thì dường như bị một sợi dây vô hình kéo lại, nếu muốn bứt mạnh để đi thì lực vô hình cũng giựt mạnh lại, làm cho chơn thần nhập mạnh trở lại vào thể xác.

Bạn nhứt quyết luyện cho chơn thần thoát đi được, nhưng liền đó có một giọng nói rất nhỏ nhưng rõ ràng rót vào tai bạn: "Bao nhiêu món nợ oan nghiệt của ngươi từ nhiều kiếp trước tạo thành các sợi dây oan nghiệt buộc chặt chơn thần của ngươi vào thể xác, làm sao ngươi có thể bứt ra mà đi thoát được. Ngươi phải gỡ hết các mối dây oan nghiệt nầy bằng cách làm công quả phụng sự chúng sanh, để dùng công đức ấy mà hoá giải hết các oan nghiệt, lúc đó ngươi mới có thể thoát ra đi được."

Thế là bạn tôi thức tỉnh, chấm dứt việc luyện đạo, trở lại đời sống bình thường, lo cúng kiếng và làm công quả, tham gia rất tích cực vào các hoạt động từ thiện do địa phương hay do Thánh Thất tổ chức.

Bạn tôi đã bỏ ra gần 6 năm trời để đi một vòng, rốt lại trở về chỗ cũ, bởi vì bạn không tin tưởng 100% vào Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn trong TNHT, phải để bạn chứng nghiệm rồi bạn mới tin, mà cũng may cho bạn vì bạn có căn lành nên vẫn giữ được chánh tâm, không bị sa vào tay tà quái, có Đấng thiêng liêng nhắc nhở, kịp thời trở lại con đường chánh đạo.

Nếu bạn đạo nào có lòng hám vọng lớn lao, muốn tu gấp để trở thành người có huyền pháp, để được người khác tôn sùng, đưa lên hàng lãnh đạo, thì tà quái sẽ nương theo hám vọng đó, nhập vào để dẫn đi. Lúc đó, muốn làm Tiên, nó sẽ cho làm Tiên; muốn làm Phật, nó sẽ cho làm Phật, vì các thứ ấy là giả mà tà quái dùng để chiều theo thị hiếu của người đời mà mê hoặc người đời, tới chừng thức tỉnh biết là giả thì đã quá muộn.

Chúng ta phải tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy bảo của Đức Chí Tôn và thực hành đúng theo đó, thì mới mong tâm linh tiến hóa nhanh chóng. Chúng ta chỉ có một cuộc đời, không thể đem ra mà thử nghiệm hoài cho được.

II. Đại Ân Xá là gì?

Đại Ân Xá hay Đại Xá là Đức Chí Tôn ban ơn huệ lớn lao bằng cách tha thứ tội lỗi cho những kẻ có tội.

Kể từ ngày khai ĐĐTKPĐ, tức là khai Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn mở ra một thời kỳ Đại Ân Xá cho các đẳng linh hồn trong càn khôn thế giới và cho toàn cả chúng sanh, để chúng sanh tu hành dễ bề đắc đạo. Cho nên ĐĐTKPĐ cũng được gọi là Đại Ân Xá Kỳ Ba.

Muốn hưởng được sự ân xá nầy, mỗi người phải biết thành tâm hối lỗi, ăn năn sám hối tội tình, cải tà qui chánh, lập lời Minh Thệ, nhứt quyết tu hành, lập công bồi đức. Những tội lỗi của họ đã chồng chất từ nhiều kiếp trước được Ơn Trên cất giữ lại (không đem ra trừng phạt) và cho họ làm một tân dân (người dân mới) trong cửa Đạo, nhờ vậy người nhập môn hành đạo rảnh nợ tiền khiên, chỉ lo trau giồi Đạo hạnh, lập công bồi đức, để sau cùng lấy công đức trừ dứt tội tình, thì có thể đắc đạo trong một kiếp tu.

Ngày khai Đạo Cao Đài là ngày 15-10-Bính Dần (1926) là ngày khởi đầu thời Đại Ân Xá Kỳ Ba.

Đức Chí Tôn ban cho nhơn loại các đặc ân sau đây:

1. Tha thứ tội lỗi ở các kiếp trước của những người biết hồi đầu hướng thiện, nhập môn cầu đạo, lập Minh Thệ với Đức Chí Tôn, nhứt tâm tu hành. Cho nên trong Kinh Giải Oan (KGO) và Kinh Cầu Bà con Thân bằng Cố hữu đã qui liễu (KCBCTBCHĐQL) có các câu sau đây:

May đặng gặp hồng ân chan rưới,
Giải trái oan sạch tội tiền khiên
.

(KGO)

Chí Tôn xá tội giải oan,
Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.
Ơn Tạo hóa tha tiền khiên trước,
Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.

(KCBCTBCHĐQL)

2. Đức Chí Tôn đặc ân cho các tín đồ Cao Đài, khi chết, linh hồn được Cửu vị Tiên Nương hướng dẫn đi lên 9 từng Trời của Cửu Trùng Thiên, mỗi nơi đều được quan sát các cảnh Trời đẹp đẽ mà dưới thế gian không bao giờ có, đến bái kiến các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, đến Minh Cảnh Đài để xem xét tất cả hành vi thiện ác của mình đã gây ra trong suốt kiếp sống nơi cõi trần, đến DTC ở từng Trời Tạo Hóa Thiên để bái kiến Đức Phật Mẫu, rồi tiếp tục đi lên Ngọc Hư Cung bái kiến Đức Chí Tôn để cây Cân công bình thiêng liêng của Tòa Tam Giáo cân tội phước.

Phước nhiều thì được phong thưởng bằng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tương xứng. Nếu tội nhiều thì bị đưa đến cõi Âm Quang, vô Tịnh Tâm Xá mà định tâm tịnh trí xét mình, cầu nguyện Đức Chí Tôn độ rỗi. Tại đây có Thất Nương DTC giáo hóa các nữ tội hồn và Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn.

3. Đức Chí Tôn cho đóng cửa Địa ngục. Các tội hồn không còn bị hành hình thảm khốc nơi Địa ngục như trước nữa, mà được đưa đến cõi Âm Quang để học Đạo, cầu khẩn Đức Chí Tôn cứu rỗi, chờ ngày tái kiếp trở lại cõi trần để trả cho xong nghiệp quả.

4. Đức Chí Tôn cho mở cửa Cực Lạc Thế Giới để rước những người đầy đủ công đức đắc đạo. Nếu người nào quyết chí tu hành, chỉ trong một kiếp tu cũng có thể đắc đạo. "Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại trong càn khôn thế giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng."

Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.
(KGO)

5. Những người bị tội Tận đọa Tam đồ bất năng thoát tục được ân xá, những người bị tội Ngũ Lôi tru diệt, cũng nhờ Đại Ân Xá nầy mà được Đức Phật Mẫu huờn lại chơn thần, tất cả đều đặng tái kiếp lập công chuộc tội.

Thời kỳ Đại Ân Xá không phải kéo dài đến thất ức niên (700 000 năm) mà chỉ được giới hạn trong khoảng thời gian từ ngày Khai Đạo cho đến khi Đức Di-Lạc Vương Phật mở Đại Hội Long Hoa là chấm dứt, vì đã bước vào một thời kỳ tiến hóa khác của nhơn loại.

Chúng ta hôm nay gặp Đạo Cao Đài, được làm môn đệ của Thượng Đế, là một duyên may ngàn năm một thuở, nếu không mau mau bước chân vào cửa Đạo lo việc tu hành, lập công bồi đức, cứ để dần dà ngày tháng trôi qua, có mong chi đắc đạo trở về ngôi vị cũ.

III. Hai giai đoạn tu hành:

Trong công việc tu hành, phải trải qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn làm công quả.
- Giai đoạn luyện đạo.

1. Giai đoạn làm công quả.

Làm công quả là làm tất cả công việc có tính cách giúp người giúp đời mà không nhận sự đền đáp bằng tiền bạc hay vật chất nơi cõi trần nầy, mà chỉ mong nhận được kết quả tốt đẹp cho phần linh hồn nơi cõi thiêng liêng.

Trong việc công quả nầy, trước hết là phải lo phổ độ nhơn sanh bỏ ác theo lành, nhập môn vào Đạo, và tiếp theo là lo giúp đỡ nhơn sanh về đời sống vật chất và tinh thần, gọi chung là phụng sự nhơn sanh. Giai đoạn làm công quả nầy còn được gọi là: Ngoại giáo công truyền.

Chúng ta tùy theo khả năng và sở thích, có thể lựa một trong ba cơ quan để làm công quả sau đây:

a) Cửu Trùng Đài:

Chúng ta làm công quả đi từ phẩm thấp nhất là Đạo hữu, lần lần lên Chức việc Bàn Trị Sự. Khi đủ công nghiệp thì cầu phong lên hàng Lễ Sanh, rồi tiếp tục làm công quả để tiến lên hàng Thánh thể của Đức Chí Tôn, sau cùng được thăng lên các phẩm cao cấp là: Đầu Sư, Chưởng Pháp, đứng vào Tiên vị. Làm công quả để tiến hóa như vậy gọi là đi theo phẩm trật Cửu phẩm Thần Tiên hay Cửu Thiên Khai Hóa. Trong số các Chức sắc tiền bối, Ngài Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh (1906-1985) đã làm công quả trong hơn 30 năm, đi từ phẩm Đạo hữu, rồi Chánh Trị Sự và sau cùng lên tới phẩm Đầu Sư.

b) Hiệp Thiên Đài:

Nếu chúng ta muốn làm công quả nơi HTĐ thì phải thi tuyển vào phẩm Luật Sự của Bộ Pháp Chánh, rồi dần dần lập công, thăng lên phẩm Sĩ Tải, đi hết 7 phẩm cấp của Bộ Pháp Chánh là đến Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, sau cùng có thể tiến lên phẩm vị Thời Quân khi có công phổ độ một nước, và được ân phong đặc biệt của Đức Chí Tôn.

c) Cơ Quan Phước Thiện:

Nếu muốn lập công nơi CQPT, chúng ta phải xin giấy chứng nhận do Bàn Trị Sự và Tộc Đạo nơi mình ở cấp cho, rồi nạp hồ sơ vào cơ sở Phước Thiện mà mình muốn lập công, làm Tờ Hiến Thân vào Hội Thánh Phước Thiện.

Người mới vào làm công quả nơi cơ sở lương điền hay công nghệ của CQPT thì gọi là Đạo sở. Sau thời gian 6 tháng thì được vào Minh Đức, là phẩm thấp nhứt trong Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của CQPT. Làm công quả nơi CQPT gọi là tiến hóa theo Thập nhị đẳng cấp th. liêng.

* Ngoài ra những vị Đạo hữu nào có tay nghề chuyên môn đặc biệt như nghề đờn, nghề xây dựng,.... thì có thể xin lập công quả nơi các cơ quan chuyên môn của Đạo như: Bộ Nhạc Lễ, Ban Kiến Trúc, v.v....

2. Giai đoạn tu luyện.

Khi đã lập công bồi đức đầy đủ rồi thì mới được tuyển vào Tịnh Thất, có Tịnh chủ dạy cho luyện đạo.

Trong phép luyện đạo của Đạo Cao Đài, Tịnh chủ dạy cho cách luyện Tam bửu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, để được Tam hoa tụ đảnh, Ngũ khí triều nguơn, tạo được chơn thần huyền diệu, có thể xuất nhập thể xác tùy ý mà vân du đến các cõi thiêng liêng. Ấy là đắc đạo tại thế.

Nhưng làm sao biết được có công đức đầy đủ?

Đức Phạm Hộ Pháp giải thích:" Trước khi vào tịnh thì phải có đủ Tam Lập: Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn.

Nơi cửa Đạo đặt ra việc chi đều hữu ích cả, mượn Thể Pháp tượng trưng mới đoạt Bí Pháp. Trước kia Bần đạo lập Phạm Môn tại Tòa Thánh tượng trưng cửa Phật độ sanh hồn, tức nhiên gọi Phật; Minh Thiện Đàn mở tại Khổ Hiền Trang, Bần đạo khai Thể Pháp tại đó, gọi là Pháp, Phước Thiện ngày nay đã ra thiệt hiện, tức nhiên ra mặt xã hội, gọi là Tăng, thì nó sẽ bành trướng vận chuyển lưu hành cùng khắp xã hội nhơn quần, nghĩa là phải phụng sự toàn thể chúng sanh, tế khổ phò nguy, đi Đầu Họ Đầu Quận làm hậu thuẫn cho Hội Thánh CTĐ, lo cơ tận độ, chỉ có công phổ độ mới giải quả tiền khiên. Ai không xuất thân hành đạo, tức là không có công phổ độ thì không vào tịnh được, vì không đủ Tam Lập.

Trước khi xin vào, phải nạp tất cả giấy tờ hành đạo, lai lịch từ thuở nhỏ đến trưởng thành, ở ngoài Đời không án tiết, trong cửa Đạo cũng vậy, trọn tùng luật pháp Đạo và trường trai mới được, rồi giao cho Pháp Chánh minh tra về Thể Pháp đủ bằng chứng.

Chi Pháp phải giữ hồ sơ của mỗi người, còn nhiều điều trọng yếu về vô vi, không thế gì Chi Pháp biết đặng, chiếu văn kiện thì đầy đủ lắm vậy, Chi Pháp chỉ biết văn bằng hiện hữu về mặt hữu hình mà thôi.

Khi minh tra đủ lẽ, mới giao cho Hộ Pháp cân thần, nếu vị nào đủ Tam Lập thì vào tịnh được, bằng thiếu thì trở lại đi Đầu Họ, Đầu Quận, đi hành đạo nữa.

Nói rõ là phải có Hộ Pháp trục thần khai khiếu mới biết đặng đủ hay thiếu Tam Lập, còn không thì ngồi tịnh, bụng lớn vô ích." (Trích Diễn Văn và Thuyết đạo ĐHP trang 163)

Chú thích:

CÂN THẦN: Cân thần là Đức Hộ Pháp trục chơn thần của một vị công quả để Đức Ngài dùng cặp mắt thiêng liêng xem xét tánh chất của vị công quả đó. Có tất cả 12 tánh chất:

1. Hạnh 4. Lực 7. Thân 10. Căn
2. Đức 5. Tinh 8. Tín 11. Kiếp
3. Trí 6. Thần 9. Mạng 12. Số.

Đức Hộ Pháp chỉ cần 4 tánh chất đầu. Thí dụ nếu có được:

1. Hạnh : 5 điểm   3. Trí : 4 điểm.
2. Đức : 6 điểm   4. Lực : 7 điểm.

Tổng cộng: 22 điểm, chia 4 để lấy trung bình = 5,5 điểm.

Như vậy là đậu, tức là xem như đủ Tam lập.

Giai đoạn học Bí pháp luyện đạo trong Tịnh Thất còn được gọi là: Nội giáo vô vi, hay Tâm pháp bí truyền.

IV. Phương pháp tu hành thời Đại Ân Xá:

Tuy Đức Phạm Hộ Pháp đã dự bị Tịnh Thất để lo về phần luyện đạo, nhưng trong thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn, Đức Chí Tôn miễn cho phần luyện đạo, nghĩa là: các môn đệ của Đức Chí Tôn chỉ lo làm công quả, phụng sự nhơn sanh, đến khi thoát xác thì Đức Chí Tôn sẽ căn cứ trên Bộ Công quả của mỗi người (do chư Thần, Thánh biên chép) mà Đức Chí Tôn sẽ ban những phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tương xứng.

Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn:

"Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc đạo phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên Đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng là tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ." (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 17)

Tuy Đức Chí Tôn không nói trắng ra là bỏ môn luyện đạo, nhưng Đức Chí Tôn cấm chúng ta luyện đạo, và lập một trường thi công quả cho chúng ta đắc đạo. Điều nầy đã quá rõ rồi. Cho nên, nếu trong chúng ta có người còn lo ngồi thiền luyện đạo trong thời kỳ Đại Ân Xá nầy thì chỉ mất thời giờ quí báu của đời sống một cách vô ích.

Tùy theo công quả nhiều ít mà Đức Chí Tôn lập ra 4 cấp giải thưởng: Thần, Thánh, Tiên, Phật. Công quả càng nhiều thì phẩm vị càng cao.

Trong thời kỳ nầy, khi chúng ta lo làm công quả phụng sự nhơn sanh thì giống y như là chúng ta ký hợp đồng làm mướn cho Đức Chí Tôn, không phải để lấy tiền, mà là để đổi lấy phẩm vị thiêng liêng, bằng cách phụng sự các con cái của Người về tất cả các phương diện: đời sống vật chất, tinh thần và linh hồn.

Nhưng điều quan trọng trước tiên là phải tìm cách phổ độ, đem con cái của Người từ đường dữ trở lại đường lành, nhập môn vào cửa Đạo, ăn chay hành thiện.

- Về Đời sống vật chất: Đói phải cho ăn, rách phải cho mặc, lạnh phải cho mùng mền, bịnh phải cho thuốc,... v.v.... Đó là việc làm của các vị công quả trong CQPT.

- Tinh thần đau khổ, buồn chán, thì phải có người an ủi, vỗ về, giải thích cho biết con người nơi cõi trần phải chịu trong vòng Tứ Khổ và lẽ luân hồi quả báo, cố gắng vượt qua để rồi sẽ gặp điều vui sướng tốt đẹp. Đó là công việc giáo hóa của các Chức sắc CTĐ.

Hai phần trên gọi là Độ Sanh, tức là cứu giúp về phần đời sống của thể xác, đến khi chết còn phải Độ Tử nữa, tức là cứu giúp phần linh hồn.

- Khi nhơn sanh có người chết thì Bàn Trị Sự hương đạo và bổn đạo làm công quả phải lo kinh kệ độ hồn, cầu siêu, làm các phép bí tích, v.v... rồi phải lo chôn cất, xong rồi phải làm Tuần cửu, Tiểu tường và Đại tường mãn tang.

Lo cho các con cái của Đức Chí Tôn được như vậy mới là trọn vẹn, và chắc chắn Đức Chí Tôn sẽ trả công cho chúng ta rất xứng đáng.

V. Cách lập Thiên vị: tu Tam lập.

Thiên vị là phẩm vị nơi cõi Trời, tức là phẩm vị nơi cõi thiêng liêng hằng sống.

Tam lập là ba điều lập nên, không bao giờ hư hoại, nên được gọi là Tam bất hủ, được truyền mãi về sau.

"Con người sanh ra trên mặt địa cầu nầy mà không có Tam lập (Lập đức, Lập công, Lập ngôn) thì giá trị con người không có gì hết. Tam lập ấy quyết định cho ta, ta phải có mới sống chung với xã hội nhơn quần được.

Nếu con người không có Đức thì làm sao xử sự trong gia đình và ngoài xã hội đặng.

Người không có Công thì ở với ai cũng không được. Người ta làm ngã ngửa, còn mình ngồi đó hả họng hưởng, không làm gì có nghĩa với người, với đời thì sống với ai?

Cũng như người ta chơn chất thật thà, hiền lương đạo đức, còn mình thì xảo ngữ, lường gạt, không chút dạ nhơn từ, thì dầu cho người có tài tình đến mấy mà thiếu ba điều đó thì không thể gì sống với ai được hết, như vậy thì địa vị mình tại mặt thế nầy chưa rồi." (TĐ.ĐPHP)

Muốn lập phẩm vị cho mình nơi cõi thiêng liêng trong thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn thì chúng ta phải tu Tam lập. Đức Chí Tôn đã miễn cho môn luyện đạo, nên người tín đồ Cao Đài chỉ cần đủ Tam Lập là đắc đạo.

Sau khi chấm dứt thời kỳ Đại Ân Xá, tín đồ có đủ Tam Lập phải vô Tịnh Thất luyện đạo thì mới đắc đạo.

Trong Tam Lập, ba Lập ấy tương quan mật thiết với nhau, khó tách rời ra được, vì nếu tách riêng ra thì không thể thi hành. Cho nên, khi nói Lập đức hay nói Lập công thì chúng ta ta ngầm hiểu là phải bao gồm cả Tam lập.

Trong bài Kinh Tụng Cha Mẹ đã qui liễu, có câu:

Thong dong cõi thọ nương hồn,
Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

Chữ Lập đức trong câu kinh nầy, chúng ta phải hiểu bao gồm cả Tam lập: lập đức, lập công, lập ngôn.

Câu kinh trên cho chúng ta biết rằng, một người dù nam hay nữ, nếu quyết chí tu hành, phế bỏ việc đời, hiến thân hành đạo, miệt mài lập đức bồi công, thì nhứt định sẽ cứu được Cửu Huyền Thất Tổ và cứu được cả linh hồn của cha mẹ thoát khỏi cảnh đọa đày và được siêu thăng lên cõi thiêng liêng hằng sống.

Có ba chứng minh sau đây của ba vị: - Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, - Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, - Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu.

Bài Thánh ngôn Đức Chí Tôn dạy Bà Hương Hiếu đi hành đạo, ngày 7-giêng-Bính Dần (1926):

Đức Chí Tôn dạy Bà Hương Hiếu đi hành đạo, phổ độ nhơn sanh. Bà Hương Hiếu bạch với Thầy rằng:

- Má con mắc ở xa, làm sao con đi độ được?

Thầy: - Hiếu! Con biết một lòng tu niệm đạo đức của con đủ cứu Cửu Huyền Thất Tổ rồi, huống là mẹ con, để Thầy định đoạt, con đừng lo buồn. (Trích ĐS. I. 36)

Trong một đàn cơ, Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung hỏi Bát Nương:

- Bát Nương vui lòng cho biết: Thân phụ và thân mẫu của Qua có được siêu thăng không? Giờ đây ở đâu?

Bát Nương đáp: - Em chỉ nói bằng thơ, nếu anh giảng trúng thì nói nữa, còn trật thì lui.

Đức Quyền Giáo Tông năn nỉ: - Nếu Qua nói trật thì Em thương tình mà chỉ dẫn để cho Qua học thêm với.

Bát Nương nói:

Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc,
Bá phụ cùng bá mẫu đặng an.

Đức Quyền Giáo Tông nói:

- Như vậy là thân phụ và thân mẫu của Qua trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở yên nơi Cực Lạc Thế Giới.

- Đúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của anh nên bá phụ và bá mẫu siêu thăng nơi Cực Lạc.

Thân mẫu của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu xin phép Đức Chí Tôn giáng cơ để tỏ cho Ngài Hậu biết, nhờ công quả của Ngài mà Bà được siêu thăng lên Đông Đại Bộ Châu.

Ngày 19-2-1929 (âl 10-1-Kỷ Tỵ). Phò loan: Bảo Pháp-Hiến Pháp.

Mẹ mừng con, Mẹ cám ơn con đó.

Con đâu rõ đặng, ngày nay Mẹ nhờ công con mà đặng thăng cấp. Nay Mẹ đặng vào Đông Đại Bộ Châu. Ấy cũng nhờ ơn của Chí Tôn rất thương mà cho Mẹ vào phẩm ấy. Mẹ chẳng biết lấy chi mà thông công cho hai con và các cháu, nên mới dụng huyền diệu mà Mẹ đã cầu xin Chí Tôn ban cho Mẹ đặng cho con cùng cháu hay rằng, Đức Chí Tôn đã giữ lời hứa cùng con. Nay Mẹ đến khuyên hai con khá lo sao cho tròn phận sự, ngày thêm vun đắp nền Đạo đặng báo đáp Ơn Trên đã hết lòng vì cả nhà ta. Nếu con có lòng ấy thì Mẹ rất vui lòng đó, con hiểu....

Mẹ rất vui thấy lòng con nên Mẹ mới xin phép Chí Tôn đến đây tỏ ít lời cho con hiểu. Vậy con khá an lòng mà lo Đạo, chớ nên vì việc nhỏ mà nao chí nghe!

Tôi chào nhị vị Thánh (nói với Nghĩa và bác vật Lang). Tôi chẳng biết lấy chi cám cảnh cho bằng dùng vài lời nhắc đây: Xin nhị vị khá hết lòng lo hiệp tác mà nâng cao địa vị mình càng ngày cho tột phẩm.

Tôi đây chẳng chi xứng phận mà cũng nhờ ơn Chí Tôn thương tưởng thay! Ấy cũng nhờ sức con mới đặng vậy, không thì biết sao mà kể xiết.

Ấy đó, công của nhị vị càng dày thì Chí Tôn càng yêu dấu. Xin khá để hết tâm chí mà hành phận sự. Ấy là lời tôi xin nhị vị khá để ý. (Hỏi về việc ông thân tôi, Ngài Bảo Pháp hỏi.)

- Mẹ không dám nói. Thôi Mẹ lui.

(Trích Thánh Ngôn chép tay của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu)

Ba câu chuyện của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu đã minh chứng câu: Nhứt nhơn đắc đạo Cửu Huyền thăng. (một người tu hành đắc đạo thì Cửu Huyền Thất Tổ của người đó đều được siêu thăng).

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng giải về Tam Lập, trích ra sau đây:

"- Mình học để biết Đạo là Lập Đức, nói Đạo cho thân tộc mình biết là Lập Công, độ toàn nhơn loại là Lập Ngôn. Có làm đủ ba điểm đó mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Cửu Thiên Khai Hóa."

"- Lập Đức thì phải nhớ đạo lý. Lập Công thì phụng sự nhơn sanh. Lập Ngôn thì để hết trí óc tìm hiểu về triết học tinh thần, tìm tòi mọi lẽ cao sâu để thuyết minh Chánh giáo."

"- Phương pháp Tam Lập, nói rõ ra là chỉ đem mảnh thân nầy làm tế vật cho Đức Chí Tôn đặng phụng sự nhơn loại. Nếu giải rõ rất nhiều chi tiết, để có dịp Bần đạo sẽ thuyết minh hoặc viết sách in ra cho học hỏi."

"Còn mấy em đây là trung phẩm chi nhơn, giáo nhi hậu thiện, mấy em tạo thiện đức được là biết nghe lời Hội Thánh. Người ta có tài thì làm việc hay, còn mình dở thì làm việc thường.

Bần đạo tỉ dụ một việc thường để cho mấy em dễ hiểu. Phận mình dốt thì làm theo dốt. Muốn tạo thiện đức, thiện công, thiện ngôn, là như vầy:

Mình nghe đâu có cất chùa, thì mình tự tính đi đến đó xin làm công quả. Mình nghe đâu đó bị tai nạn khốn khổ thì trong đêm ấy nằm tính và thương xót, nghe chỗ đó bị tai nạn, mình định sáng ngày mai, rủ anh em hay tự mình đi, dầu sáng ngày tằm sắp chín hoặc có mối lợi gì đó cũng bỏ đi, để đến trợ giúp tai nạn. Đó là thiện đức, nghĩa là khi mình tính.

Khi đến, mình nói như vầy: "Thưa anh, tôi nghe anh bị tai nạn, tôi đến để xin phép giúp anh một ngày, hoặc là vác một cái cây, hoặc giúp một đồng bạc, vậy thì anh vui lòng cho tôi giúp với một nghĩa mọn." Khi mình nói là Thiện ngôn, khi mình làm là Thiện công. Chớ không phải ỷ có tiền rồi nói sổ sàng: "Đây tôi cho anh một đồng mua gạo ăn đỡ đói." Như vậy là chưa Thiện ngôn.

Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài, trong buổi đầu là thời kỳ Đại Ân Xá, nên Đức Chí Tôn lập một trường thi công quả (hay trường thi công đức) cho nhơn sanh đắc đạo. Đức Chí Tôn miễn cho môn thi luyện đạo vì môn nầy rất khó, chỉ cần có đủ công quả là Đức Chí Tôn cho đắc đạo.

Việc lập công quả hay công đức là thuộc về Tam Lập, vì Lập đức, Lập công và Lập ngôn gắn liền nhau, không thể tách rời ra từng phần được. Do đó, thi Lập công quả hay thi Lập công đức chính là thi Tam Lập.

Người tín đồ Cao Đài là những sĩ tử tham dự kỳ thi nầy, nên cần phải luyện tập ba môn thi nói trên cho hay cho giỏi. Làm bài trúng, được điểm cao, được chấm đậu thì Đức Chí Tôn ban thưởng cho các phẩm vị tương xứng.

Nếu các sĩ tử không lo rèn luyện các môn thi chánh thức nầy, lại xem thường nó, rồi rèn luyện các môn khác không sử dụng trong kỳ thi như môn Luyện đạo, thì rất uổng phí thời gian cho một kiếp sanh may duyên gặp Đạo.

Trong kiếp sanh nầy, muốn đắc đạo tức là thi đậu thì phải lo học tập và thực hành Tam Lập. Việc nầy cũng rất khó khăn, nhưng không phải không làm được, muốn thực hiện thì phải có một quyết tâm lớn, một ý chí kiên cường nhẫn nại và một tấm lòng hy sinh.

- Quyết tâm là để không lùi bước trước khó khăn, vượt qua các thử thách do bọn Tà quyền gây nên.

- Ý chí kiên cường nhẫn nại là để thắng dục vọng thấp kém, tình cảm yếu hèn của mình, kềm hãm lục dục thất tình, hướng chúng vào đường cao thượng.

- Lòng hy sinh là để thắng cái Ta hẹp hòi ích kỷ. Hy sinh là để hiến dâng tất cả những gì quí báu của đời mình cho Đạo pháp, cho nhơn sanh. Sự hy sinh đó sẽ làm dứt hết các phiền não, đem lại cho tâm hồn sự an lạc nhẹ nhàng.

TNHT: ĐĐTKPĐ chẳng khác chi một trường thi công quả. Nếu biết ăn năn trở bước lại con đường sáng sủa, giồi tâm, trau đức, đặng đến hội diện cùng Thầy thì mới đạt đặng địa vị thanh cao trong buổi chung qui đó. (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 48)

VI. Lập đức:

Nói riêng về việc Lập đức, trong Đạo Cao Đài, muốn lập đức cho được trọn vẹn thì phải theo con đường Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của Cơ Quan Phước Thiện.

Trong Con Đường thiêng liêng hằng sống, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng giải như sau:

"Lập vị mình theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, tức là theo Hội Thánh Phước Thiện. Nơi đây, ngoài việc ăn chay, giữ gìn luật đạo, tùng theo chơn pháp của Đức Chí Tôn, còn phải dùng đức để lập vị mình.

Muốn lập đức, phải đi từ Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện, v.v...

Lập đức là gì? là dùng sự thương yêu để cứu độ chúng sanh, mà Đức Chí Tôn đã có nói: "Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh."

Các đẳng chơn hồn tái kiếp đang chơi vơi trong Tứ Khổ. Muốn thoát khổ, họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ. Người tu đi theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ, trước hết mình phải thọ khổ đã. Muốn thọ khổ thì không gì hay hơn là dùng đức thương yêu. Cho nên bậc thứ nhứt của Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là Minh Đức. Có thương yêu mới thọ khổ được. Ta thương cha mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn, ta thương những người cô thế tật nguyền, ta mới tầm phương giúp đỡ họ, mà tầm phương giúp đỡ họ là thọ khổ đó vậy.

Thọ khổ rồi mới thắng khổ. Thọ khổ không phải một ngày một bữa, mà phải thọ đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi cha mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ bé cho tới lúc nó tự lo cho nó được. Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên hạ hết khổ mới khó, vì khi lo cho người nầy thì lại đến người khác, và cứ như vậy, trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ.

Có thắng khổ mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng."

Có học mới biết phương Lập đức. Đức có Đại đức và Tiểu đức. Đại đức như nước biển cả, thấm đều khắp muôn vật. Tiểu đức như nước trong ao, thấm có giới hạn. Tiểu đức chỉ cảm hóa ít người; Đại đức bao trùm cả thiên hạ.

Muốn Lập đức thì nên lấy bố thí làm phương tiện.

Bố thí gồm: thí tài, thí công, thí ngôn, thí pháp.

Thí tài là đem tiền của ra giúp khó trợ nghèo.

Thí công là đem sức lực ra làm việc giúp người.

Thí ngôn là đem lời nói mà giúp ý kiến hay cho người để giải quyết những khó khăn của người.

Thí pháp là đem lẽ Đạo thuyết minh để cảm hóa, giáo dục người trở nên lành. Những cách bố thí trên, chỉ có Thí pháp là có nhiều công đức hơn cả.

Giúp người đói, giúp người hết khổ hay thoát khỏi tai nạn, cũng chỉ qua một thuở mà thôi, duy chỉ có đem đạo lý ra hóa độ người dữ ra hiền, người mê muội ra giác ngộ, lo tu hành để thoát vòng sinh tử luân hồi thì công đức ấy đời đời chẳng mất.

Lập đức phải đứng trên quan điểm VÔ NGÃ, tức là quên mình mà lo cho người, chẳng cầu người trả, chẳng nghĩ đó là công đức do ta làm.

Muốn lập đức trên phương diện Thí pháp, cần phải có quyết tâm lớn trên đường tu học. Phải học cho thông, phải hiểu cho rành, quán thông từ Nhơn đạo đến Thiên đạo. Phải cầu bậc cao minh mà thọ giáo. Chớ nên tự mãn, mới học nhom nhem nửa câu mà tự cho rằng mình biết hết, rồi đem cái biết thô thiển đó truyền thụ cho người thì tai hại vô cùng, không lập đức được mà lại còn tổn đức.

Ngày nào học thông chánh lý, lòng thông suốt, trí hiểu rành, chẳng còn gì trái với chơn ý của Thánh nhân, ấy là thể theo Thánh nhân mà nói lại lời của Thánh nhân.

Nếu là kẻ mê tín thì ta lấy Chánh tín mà độ họ; nếu là kẻ tư dục thì ta đem công lý giải bày; nếu là kẻ tham lam thì ta đem việc Thí tài mà giảng giải; nếu là kẻ sân hận thì ta đem pháp nhẫn nhục mà độ; nếu gặp kẻ chẳng may lạc vào Tả đạo Bàng môn thì ta đem Chánh đạo mà khai hóa; nếu là người si mê thì ta đem Chánh lý mà mở mang trí tuệ cho họ.

Giáo dục có nhiều phương pháp, phải tùy duyên mà hóa độ, tùy bệnh mà lập phương trị liệu, bệnh nào thuốc nấy. Chữa bệnh về thân xác thì có lương y; chữa bệnh về Tâm thì chỉ có Thánh nhân. Thánh nhân chữa cả Tâm lẫn thân, thân tâm hiệp trị. Nếu thân chưa trị thì Tâm khó trị. Vì vậy nên thân Tâm phải hiệp trị.

Khi lập đức thì phải lập từ đức nhỏ đến đức lớn.

Đức nhỏ là hóa độ người trong nhà. Đức lớn là cảm hóa nhiều người trong thiên hạ. Đức lớn là đức của bậc Thánh nhân, đức nhỏ là đức của bậc Sĩ, bậc Hiền.

Đức lớn sáng soi khắp Trời Đất, chói lọi như ánh Thái dương, nên gọi là Minh Minh Đức. Có Minh Minh Đức mới xây dựng được một thế hệ tươi đẹp, mới đào tạo được giống dân mới gọi là Tân Dân. Tân Dân cũng là thân dân, là thương người như thương mình hay như thương người thân của mình. Vua Nghiêu hằng nói với quần thần: "Các Khanh hãy thương yêu dân như thương yêu Trẫm, dân đói là Trẫm đói, dân rét là Trẫm rét."

Như vậy, đời sao không thạnh trị? Quần thần khi nghe lời nó