BẢN TIN SỐ 30
XUÂN TÂN SỬU - 2021

 

 

 

MỤC LỤC

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 

Chư Hiền thân kính,

Hình như cả hành tinh, ai cũng mỏi mòn vì chịu đựng nỗi tù túng do dịch bịnh covid-19, sau một năm dài loài người băn khoăn với một thứ chiến tranh chẳng cái "lưu cầu", chẳng vũ khí súng đạn, mà chỉ thấy bóng dáng kẻ thù khi ẩn, lúc hiện âm thầm. Nỗi lo sợ, ám ảnh của con người hiển hiện trên các tấm khẩu trang làm chiên giáp phòng thân.

Trong khi sau trên 45 năm đổi đời, người Việt trong, ngoài nước mong mỏi Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thực sự, hầu nhân quyền được tôn trọng trên mọi lãnh vực, để tôn giáo được phục quyền, hành theo chánh pháp. Dầu ai cũng nhận thức được định luật vô thường và thời gian luôn biến đổi như nước trên một giòng sông. Song lòng kiên nhẫn ít ai giữ được.

Trước mắt, chúng tôi thấy có những người đạo cầu mong sớm chấm dứt dịch bịnh để được đến chùa chiền, nhà thờ, Thánh Thất lễ bái, cùng gặp lại những bạn đạo thân thương.

Dẫu sao, thiết nghĩ đây là cơ hội để đồng đạo phát huy tinh thần học Đạo và tĩnh tâm quán chiếu tự thân, hầu thấy được phần nào vướng mắc. Năng đọc Thánh Ngôn, Thánh Giáo và suy ngẫm lời hay, ý đẹp để ứng dụng cho bản thân và phổ thông cho tha nhân. Hơn nữa, người tu hành cần giữ tâm thanh tịnh và không tiêu phí thời giờ vào chuyện thị phi vô bổ dễ gây bất đồng và xung đột trên trường chính trị, vì "chính trị thường không thỏa hiệp và phản khắc với tôn giáo...".

Với suy nghĩ trên, Ban Biên Tập Bản Tin Hòa Hiệp ước mong chia sẻ đôi chút lời vàng, tiếng ngọc trong Thánh Giáo và lời khuyến dạy của chư tiền khai. Đồng thời, gợi nhớ lại kỷ niệm xây bàn năm Ất Sửu (1925) của Tam Vị Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh như thế nào?. Đồng đạo sẽ nghe lại lời tâm tình của Đức Hộ Pháp năm Kỷ Sửu về việc tại sao Đức Chí Tôn đến cậy nhờ nhơn sanh lập thành Chánh Thể; Ngài Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh đã đọc Diễn Văn tại Thánh Thất Cầu Vĩ (Mỹ Tho) nhân dịp Tết Tân Mùi - 1931, Ngài đã tâm sự gì với Ông Đốc Phủ Ca (Phối Sư Thái Ca Thanh)?. Bạn đọc lần lượt trở gót nhẹ nhàng vào vườn Bạch Liên để nghe thoang thoảng tâm tình của thi sĩ Ái Nhân với cuộc xông đất “Ngày Xuân đến cõi cộng sinh” để thức giác chính mình. Tiếp tục bước theo Ái Nhân đi tìm “Tri kỷ trong ngôn ngữ”, với tâm tư: “Đêm khuya tri kỷ về đâu, Để cho bến vắng canh thâu cảnh buồn...”. Rồi bạn đọc đừng quên Hiền muội Mộc Lan bước lần vào Hạnh Đường học Đạo, lập ngôn, vì ý thức phương châm "Học như nghịch thủy hành chu, bất tiến tất thối" (học như đi trên giòng nước ngược, không tiến thì lùi). Theo đó, Mộc Lan thể hiện niềm phúc hạnh qua nhận thức tri ân chư vị Tiền Khai, trong nhiệm vụ hoằng khai Đại Đạo. Bước sang lãnh vực y học, Bác sĩ Nguyễn Ý Đức phân tích câu chuyện thú vị “Con người đi tìm thuốc trường sinh” với ý niệm xưa và nay như thế nào?

Còn nhiều đề tài hữu ích như thường lệ, dù chưa phong phú theo ý muốn. Hy vọng bạn đạo chung tay trợ duyên, góp phần điểm tô cho khu vườn Hòa Hiệp, càng ngày càng nhiều sắc hương tươi mát hơn.

Trước thềm năm mới Tân Sửu, thay mặt Ban Biên Tập Bản Tin Hòa Hiệp, xin chân thành cầu nguyện Ơn Trên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng ban bố tràn đầy Hồng Ân cho chư Huynh, Tỷ, Đệ, Muội và quý quyến Hạnh Phúc và An Lạc trong năm mới Tân Sửu (2021).

BAN BIÊN TẬP

 

 


 

 

của Tộc Đạo Sydney


 

   

TRẤN ĐẠO ÚC CHÂU

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

CHÂU ĐẠO NEW SOUTH WALES

Cửu Thập Lục Niên

TỘC ĐẠO SYDNEY

TÒA THÁNH TÂY NINH

114-118 King Georges Rd,
WILEY PARK, NSW 2195,
AUSTRALIA

 

Tel: +61 2 9740 5678
Mob. 0414 58 33 94
Email: thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au

THƯ CHÚC TẾT TÂN SỬU (2021)

Kính Hội Thánh,

Kính Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu, Nam Nữ lưỡng phái,

Kính Chư Hiền,

Canh Tý vừa mãn, bước sang năm Tân Sửu, hai năm biểu tượng Thiên Địa tuần hoàn, cũng là hai năm kỷ niệm niên lịch tiền Khai Đạo: Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu và Nhơn sanh ư Dần. Đêm nay, chúng ta còn hạnh ngộ tề tựu dưới Ngôi cao ngự của Đức Chí Tôn và Các Đấng Thiêng Liêng trong Lễ Giao Thừa Tân Sửu, thật quả là một diễm phúc. Giờ nầy, mỗi người kể thêm một tuổi.

Lẽ ra, như lệ thường, đại gia đình đông đảo đồng đạo trở về Thánh Thất, ngôi nhà chung của cả Tín Đồ, mừng vui cung nghinh Đức Đại Từ Phụ và Chư Phật, Tiên, Thánh, Thần dĩ đáo Tân Niên cùng Môn Đệ chúng ta. Song, vì tình trạng đại dịch Covid-19 lan tràn, không cho phép chúng ta xum vầy như ý nguyện. Dẫu sao, chúng ta vẫn không quên cổ tục tín ngưỡng truyền thống: đón rước Tổ Tiên ông bà và chư Thần Thánh Tiên Phật trở lại vui Xuân trong hoàn cảnh ly hương xa rời đất mẹ.

Ước mong cả trọn năm đều hoan hỉ như ngày vui đầu năm, hầu hết mọi Tín Đồ Cao Đài "cùng nhau một Đạo, tức cùng Cha", xóa bỏ trọn vẹn mọi buồn phiền, thất bác, xui xẻo năm cũ, thật lòng vui vẻ chúc tụng cho nhau những lời hay ý đẹp. Đó là liều thuốc chữa lành tâm lý an lạc đầy lòng từ-bi hỉ-xả cho chính mình và cho tha nhân, trong năm mới. Vui Xuân, chúng ta không quên chia sẻ cùng những kẻ bất hạnh, khốn cùng, vì thiên tai, vì bịnh hoạn, vì bơ vơ lạc lỏng...

Ngày tháng trôi qua càng nhanh, đời sống càng trở nên ngắn ngủi. Thời gian không chờ đợi cuộc tu hành bồi công, lập đức và cải quá lỗi lầm trong kiếp nhân sinh. Câu châm ngôn nằm lòng: "Đừng để đến ngày mai, việc gì anh có thể làm hôm nay".

Đức Chí Tôn thường dạy: "... phận sự muốn cho hoàn toàn, cần phải có bền chí và khổ tâm; có bền chí mới đạt đặng phẩm vị thanh cao, có khổ tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh; lăng xăng xạo xự mùi chung đỉnh, vẻ cân đai, rốt cuộc cũng chẳng khác chi một giấc huỳnh lương mộng".

Chúng ta may duyên đã có Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu, thỏa mãn cho nhu cầu cúng kính, trong hoàn cảnh ở hải ngoại. Xin hãy cùng nhau năng học Đạo, trau giồi bản thân, năng chăm nom thăm viếng giúp vùa bạn đạo, năng phổ độ chúng sanh hồi đầu hướng thiện, năng thực hiện tam công, hầu đáp ứng phần nào câu minh thệ "hiệp đồng chư Môn Đệ, gìn luật lệ Cao Đài..."

Thay mặt Tộc Đạo Sydney, Thiểu Phẩm xin chân thành kính chúc chư Đạo Hữu, Đạo Tâm và bửu quyến hạnh hưởng tràn đầy hồng ân của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng trong năm mới Tân Sửu.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

Thánh Thất New South Wales, Đêm Giao Thừa năm Tân Sửu (2021).

Qu. Đầu Tộc Đạo Sydney

 

Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp

 

 

 

 

Vịnh Mai

Mai là cốt cách liễu tinh thần,
Thi thiệt hồn mai tuyết ấy trần.
Mai tuyết không thi mai tuyết não,
Thi không mai tuyết thế không xuân.

14-12-1925

 

Cũng đồng địa vị cũng đồng đường,
Hứng tuyết tìm mai dưới giọt sương.
Mai tuyết hiệp đôi mai tuyết đẹp,
Tuyết giành trong sạch mai giành hương.

14-12-1925.

Trích từ Đạo Sử Quyển I: Đạo Sử Xây Bàn Năm Ất Sửu (1925).◙

 

Luật Pháp Chơn Truyền

Chánh giáo bảo tồn thất ức niên,
Nhờ nơi Luật Pháp hiệp Chơn Truyền.
Tuân hành đúng mức đường tu vững,
Tự tác sai chiều bước Ðạo nghiêng.
Lướt khổ đã mong hồi cựu vị,
Gieo nhân há để vướng tà quyền.
Thiên Điều tại thế nên tôn trọng,
Vẹn phận ngàn thu hưởng phúc duyên.

HUỆ GIÁC

Trích từ Thông Tin số 04, 10 tháng tư Canh Tuất (Dl. 14/05/1970).◙

 

 

 

 


 

 


 

13 Mars 1926

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ VIẾT CAO ÐÀI
GIÁO ÐẠO NAM PHƯƠNG

Thầy cho các con biết trước, đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả môn đệ...

Các con đủ hiểu rằng: Phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối; nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt... Cười...

Thầy nói cho các con hiểu rằng: Muốn xứng đáng làm môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu. Như đáng làm môn đệ Thầy thì là Bạch Ngọc Kinh mới chịu rước; còn ngã thì cửa Ðịa Ngục lại mời. Thương thương, ghét ghét, ai thấu đáo vậy ôi!

Bởi vậy cho nên Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành. Thầy nói trước cho các con biết mà giữ mình, chung quanh các con, dầu xa, dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp; chúng nó chẳng hề thấy đặng, là đạo đức của các con.

Ấy vậy rán gìn giữ bộ thiết giáp ấy hoài cho tới ngày các con hội hiệp cùng Thầy.

Nghe và rán tuân theo.

 

Phụ ghi: 113 Mars 1926
Việt ngữ: 13-03-1926 (âl. 29-01-Bính Dần).

Trích từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 bài 06 Thánh giáo dạy rằng muôn việc cũng có thiệt mà cũng có dối. Thầy nói trước cho mà giữ lấy mình. Chung quanh Thầy thả một lũ hổ lang để cắn xé các con, song trước Thầy đã cho mặc thiết giáp .v.v....◙

 

 

 

Ðã từng muôn kiếp có tên Ta,
Ta bởi Ðạo Trời mở cửa ra.
Ra để rước người lành đến ở,
Ở chung một cõi lại chung nhà.

Cương tỏa đương thời đã giải vây,
Ðừng mơ căn nghiệt một đời nầy.
Hữu duyên độ thấu nguồn Chơn Ðạo,
Tu niệm khuyên bền chí chớ lay.

Trích từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 Thi Văn Dạy Đạo.◙

 

 

 


 

 

THƠ CHÚC TẾT CỦA ĐỨC HỘ PHÁP

đã gởi về do nơi vị đại diện thay mặt cho Đức Ngài là Trương Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài truyền thanh cho toàn thể con cái của Đức Chí Tôn nơi cửa đạo. 


 

Nhơn dịp Xuân đến, cũng như thường lệ cả toàn đạo đều hướng về nơi Tổ Đình, đại gia đình Thiêng Liêng do Đức CHÍ TÔN đến tạo dựng đặng thăm hỏi Thánh Thể của Ngài và vị Chưởng Quản bảo vệ sự nghiệp ấy trót một năm qua là thể nào và định tương lai cho nó là dường bao.

Bần Đạo không đặng hân hạnh có mặt nơi Tòa Thánh trót một năm đã qua làm cho huynh đệ phải chia lìa, khiến cho Bần Đạo phải ngậm ngùi thương nhớ.

Từ ngày ĐẠI TỪ PHỤ và ĐẠI TỪ MẪU đến khai mở chơn truyền, giao phó ngọn cờ cứu khổ hầu độ dẫn con cái của hai Đấng vào con đường chí nhơn chí thánh. Cái khó khăn cho sứ mạng Thiêng Liêng là ĐẠI TỪ PHỤ và ĐẠI TỪ MẪU buộc ta phải lấy căn bản của nền văn minh tối cổ của tổ phụ ta đã lưu lại trong triết lý Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt. Nếu ta cạn xét, ta ngó thấy với một Đạo Giáo mà bảo thủ chơn truyền rất khó khăn quá sức của ta tưởng nghĩ, huống chi cả triết lý của các nền Đạo Giáo đương nhiên hiện hữu tại mặt thế nầy thì nó đã đành quá sức với trí khôn ngoan tưởng tượng. Song ta phải xét đoán nếu không như thế thì có phương chi khác mà tạo dựng đại đồng thiên hạ và thống nhứt các tín ngưỡng, các chơn lý lại làm một cho đặng. Ấy là mục phiêu trọng yếu của hai Đấng PHỤ MẪU tạo đoan muốn đạt đến. Còn nếu ta muốn xu hướng theo một triết lý Đạo Giáo làm căn bản thì nó sẽ trái hẳn với nghĩa lý tận độ của Đạo. Cái khó khăn của ta thi hành sứ mạng là nơi lẽ ấy.

Khi ĐẠI TỪ PHỤ đến giao phó cho đàn anh của ta sứ mạng lập giáo thì tưởng rằng nền chơn truyền nầy nó sẽ đơn giản hơn các tôn giáo khác, chớ chưa hề tưởng tượng đến một sự mới mẻ khó khăn như thế. Chính mình Bần Đạo trước khi cũng nghĩ vậy mới có can đảm theo chơn ĐẠI TỪ PHỤ và ĐẠI TỪ MẪU chớ chưa dè là đảm nhiệm một trách vụ quá sức phàm của ta phải thi thố. Thật ra ta chưa tìm đặng một nơi nào và đường lối nào đi cho đúng phận. Chính mình Bần Đạo mơ mộng rằng, khi trả xong phận sự cùng xã hội nhơn quần và triết lý tiên nho đã định và xong phận sự đặng toại hưởng an nhàn, từ bi tự toại với triết lý Đạo Lão và Đạo Thích là đủ phận.

Nào dè sứ mạng cao trọng chưa phải đến mục phiêu ấy là đủ mà lại phải dung hòa các tư tưởng Đạo Giáo, thống nhứt các triết lý tinh thần là làm một điều chưa hề có trí khôn ngoan nào làm đặng. Nó là một ảo vọng mà từ trước đến giờ chưa một nhà triết học nào nghĩ đến. Chính nơi yếu điểm nầy mà Bần Đạo vẫn ngồi xem quyền CHÍ TÔN vô đối của ĐẠI TỪ PHỤ thiệt hiện nơi mặt thế nầy, vì thầm hiểu rằng chỉ có tay quyền năng vô đối của Đức CHÍ TÔN mới làm đặng mà thôi. Tương lai của Đạo CAO ĐÀI sẽ vạch rõ cho toàn nhơn sanh thấy đặng điều ấy.

Trót 31 năm hành đạo, đi trên con đường nguy hiểm khó khăn mà Bần Đạo đã đủ nghị lực, đủ kiên chí, đủ can đảm, là Bần Đạo ngó thấy rằng tướng diện phi thường của nó từ từ hiện tượng. Nhờ ơn Thiêng Liêng và quyền năng vô đối của hai Đấng PHỤ MẪU vạn linh giúp sức và dìu đường dẫn nẻo mà chơn truyền của Đức CHÍ TÔN từ từ nhi tiến.

Ta càng bị cơ đời khảo đảo, thử thách nặng nề thì ta lại càng có dịp thấy quyền năng ấy thiệt hiện, bởi cớ mà đức tin của Bần Đạo càng ngày càng kiên cố và bền vững. Nhiều khi tâm hồn của Bần Đạo còn dám cả gan liều lĩnh dấn thân vào nẻo nguy hiểm khó khăn, dường như muốn đày thân mình vào đường tử lộ đặng bảo vệ cả toàn sanh mạng của nhơn sanh hầu thử cơ tạo hóa. Ở mặt thế gian nầy, ai lại chẳng muốn an nhàn tự toại bởi nó là thuốc trường sanh kia mà, trái lại nó là hành vi điên rồ và ngu muội.

Đã biết như thế mà Bần Đạo lại quyết định đi ngược chiều để thử thách nhơn tâm và xem trình độ của đời đã đến một điểm nào cho biết. May ra cái trò điên rồ của Bần Đạo nó sẽ tạo nên cho con cái của Đức Chí Tôn một cây cân vô hình đặng đo lường tâm đức của cả tinh thần Đạo giáo.

Bần Đạo nếu muốn cho Đạo đặng an nhàn tự toại như các tôn giáo khác và thân danh của Bần Đạo đặng hưởng hạnh phúc cá nhân là một điều rất dễ làm. Nhưng tâm đạo của Bần Đạo nó không cho phép Bần Đạo hưởng điều ấy trong khi Quốc Dân cùng Tổ Quốc Việt Nam và toàn nhơn sanh đang thống khổ, phải chăng giá trị của ngọn cờ cứu khổ sẽ do đó mà định trọng khinh của nó.

Bần Đạo quả quyết rằng từ trước đến giờ, trót 31 năm dài đăng đẳng Hội Thánh và toàn con cái Đức Chí Tôn cũng tưởng nghĩ như thế, nên dám hy sinh cương quyết đi trên con đường Thánh Đức ấy mới bảo thủ đặng cơ nghiệp Đạo đến ngày nay.

Bằng chẳng vậy thì Đạo đã chết từ buổi sơ sanh của nó, nó phải phi thường, giống tượng ảnh của Đấng phi thường đã tạo dựng nó mới phải lẽ, Đức Chí Tôn đã biểu con cái của Ngài thay thế hình ảnh của Ngài bên cạnh nhơn sanh thống khổ, tức nhiên biểu ta làm Ông Trời tại thế nầy, mà làm Ông Trời là điều không phải dễ.

Với con cái chơn thành của Ngài thì Bần Đạo nói: Ta phải làm phi thường như ĐẠI TỨ PHỤ đã làm phi thường, chỉ kiếp sống của ta phi thường mới đáng sống. Còn với con cái chơn thành thật thà của Người thì Bần Đạo lại nói: Cứ noi bước của đàn anh nhứt tâm nhứt đức, vì họ không có quyền hành nào trong kiếp sống của họ mà cả gan dìu dắt con cái thiêng liêng của Đức CHÍ TÔN đi lầm đường lạc ngõ.

Đài vinh diệu của Ngài đến lập sẽ vinh quang rực rỡ nơi bước hành trình tương lai của ta trước mắt. Ta sẽ đặng hân hạnh thấy điều ấy.

Bần Đạo xin gởi cả tâm tình yêu ái vô đối cho mỗi đàn em trong cửa Đạo và ban phép lành cho cả toàn thể con cái Đức CHÍ TÔN y như bí pháp của Ngài truyền dạy và cầu xin cho Đức ĐẠI TỪ PHỤ và ĐẠI TỪ MẪU thường tại trong tâm trí của mỗi người./.

KIÊM BIÊN, ngày 21 tháng Chạp năm Bính Thân
(Dl. 22-01-1957)

HỘ PHÁP
(Ấn Ký)

 

SAO Y BẢN CHÁNH.

TÒA THÁNH, ngày 30 tháng Chạp năm Bính Thân.

THÁI CHÁNH PHỐI SƯ
(ký tên đóng dấu)
THÁI BỘ THANH

THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ
(ký tên đóng dấu)
THƯỢNG SÁNG THANH

NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ
(ký tên đóng dấu)
NGỌC NON THANH

 

Vâng lịnh ban hành.

Qu. THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN
(ký tên đóng dấu)
Giáo Sư THƯỢNG KHƯƠNG THANH

Trích từ THÔNG TIN - Xuân Quý Sửu 1973 trang 09 – 11. Do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành 02-1973.◙

 


 

 

của Đức Hộ Pháp


Tại Đền Thánh thời Tý mồng 5 tháng 6 Kỷ Sửu (1949).

LUẬT ĐẠO LIÊN QUAN VỚI LUẬT ĐỜI

Đêm nay Bần Đạo thuyết Đạo có liên quan với Thể Pháp tức nhiên nói rõ luật Đạo có liên quan với luật Đời.

Ta thấy cơ quan Tạo Đoan Càn Khôn Võ Trụ là cơ quan của Đức Chí Tôn đã phụng sự Vạn Linh về Chơn Pháp, vậy điều đó Bần Đạo đã thuyết rồi, thuyết ấy Bần Đạo nói rằng: đất phải hy sinh đặng phụng sự thảo mộc, nghĩa là phải hy sinh đặng nuôi cây, cây hy sinh với thú, tức nuôi thú, mà loài người đứng đầu thú mà thôi.

Vì cớ nên cổ luật buộc nói thú phải hy sinh phụng sự cho người, phụng sự không đi quá mức hy sinh đặng nuôi người, một lẽ vì lầm hiểu chơn pháp nhơn sanh lầm lạc.

Bây giờ tới mức nữa, người phải hy sinh phụng sự cho Trời chắc cả thảy đều nhớ cổ luật. Thượng Cổ khi tế Trời thì đem người ra giết, rồi thiêu người như thú vật, tế sống loài người thời hạn cổ luật ấy khá lâu đã dùng tế vật hiến cho Đức Chí Tôn, nên Bần Đạo chiếu theo sử thì đã có từ bốn chục ngàn năm, trước pháp luật ấy thử nghĩ coi số nhơn mạng buổi nọ phải đem ra làm tế vật đặng tế Đức Chí Tôn.

Mới đây trước lịch sử 6.000 năm đời Vua Jacob, trước 6.000 năm theo Đạo luật của dân Hébreux (Do Thái) luật giết người lúc hy sinh dâng con người làm của tế Trời, vẫn còn vậy.

Hỏi Đức Chí Tôn có cho như vậy chăng? Đức Chí Tôn đòi hỏi như vậy chăng? Bần Đạo dám chắc, không.

Vì chính mình Ngài tạo Vạn Linh, phụng sự cho Vạn Linh, có lẽ nào cho nhơn loại lấy sanh mạng làm tế vật đặng tế Ngài bao giờ, ta thấy phụng sự Vạn Linh, luật ấy đi từ vật loại đến nhơn loại, tức nhiên nhờ ta thấy con ong có một ong chúa phụng sự, phụng sự đến đâu nó làm chúa vẫn có quyền chúa, vì cớ nên có nhiều phận sự sanh sản nòi giống duy nhứt của nó mà thôi.

Như hồi thượng cổ trước đây 150.000 năm, loài người cũng vậy, cũng một khuôn luật vậy, Đạo pháp còn để lại ta gọi Đấng vi chủ, các sắc dân tiếng phạn gọi Manu. Hiện giờ con ong con mối Chúa nó cũng vậy, nó phụng sự cho cả ổ mối hơn ai hết. Bởi chính mình mối chúa nó phải sản xuất cả chủng tộc mối trong ổ đó.

Ta ngó thấy các triều chính trong xã hội nhơn quần, lập nền chánh trị có tương liên với quốc dân do một khuôn khổ, dân chúng chịu một pháp luật, luật pháp ấy muốn ai thi hành phải có triều chính tức nhiên chính mình nhà Vua phải phụng sự quần linh, là phụng sự trong quốc dân vậy. Mà một mình Vua trị toàn thể lê dân không kham, nên phải lập Triều chính là từ bực Tể tướng dĩ chí đến bực Phủ, Huyện, hiệp lại thành Chánh trị, quốc gia thay thế hình ảnh của Vua đặng phụng sự quốc dân mà thôi.

Ta thấy từ vật loại như mối chúa, ong chúa, là chúa của loài mối, chúa của loài ong, phụng sự của nó cũng phải lập ra có triều chính mới cầm phương pháp để phụng sự được, còn nhà Vua lập Triều chính để làm gì? tức nhiên là biến thân ra muôn, ngàn, triệu đặng phụng sự cho lê dân một nước mới được. Bây giờ Đức Chí Tôn phụng sự, Ngài phụng sự cho cả Vạn Linh toàn thiên hạ, Ngài phải làm thế nào, Ngài dùng phương pháp nào, phụng sự Vạn Linh nầy, Ngài lấy Vạn Linh phụng sự cho Vạn Linh, Ngài lấy đất nuôi cây, lấy cây nuôi thú, lấy thú nuôi người không lạ gì, lấy thú đặng phụng sự cho người, Ngài dùng căn bản ấy đặng phụng sự. Như một ông Vua lập Triều Chánh dùng dân phụng sự cho dân, một khuôn khổ mà thôi, Đức Chí Tôn ngày giờ nầy đến lập Đạo tức nhiên Ngài muốn phụng sự nhơn sanh nơi địa cầu 68 nầy.

Ấy vậy, ta thấy mối chúa vì phụng sự loài mối mới làm chúa mối. Con ong chúa vì phụng sự loài ong mới làm chúa của ong. Nhà Vua vì phụng sự quốc dân mới làm Vua.

Nên Đức Chí Tôn vì phụng sự Vạn Linh mới làm Trời, Ngài lập Triều chánh là Hội Thánh tức là Thánh Thể của Ngài, muốn Thánh Thể của Ngài đủ quyền phụng sự chính mình Ngài lập và cho quyền đặc biệt Thánh Thể Ngài là phần tử của Ngài, tức là Ngài vậy.

Ngài lấy Triều chánh trên Thiên Cung thế nào, Ngài lập Thánh Thể dưới nầy cũng y như thế ấy, như thế ta thấy Thánh Thể tức nhiên Hội Thánh có đủ các phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế không phải mơ mộng. Ngài chỉ dùng công nghiệp của người mà phải đền trả bồi thường.

Vậy Đức Chí Tôn đến cậy nhơn sanh làm Thánh Thể của Ngài, Ngài phải bồi thường, phải trả mắc cho người, người ta mới phụng sự cho Ngài trả bằng cách đến ký hòa ước với loài người nhứt là với dân tộc Việt Nam nầy trước đã, nếu các người thay thế cho Tôi phụng sự con cái Tôi, Tôi có phận sự lập vị Thần, Thánh, Tiên, Phật cho các người chịu không? Nếu các người chịu làm tôi cho con cái Tôi, cho vừa sức Tôi muốn, cho vừa sở ý Tôi định, thì Tôi sẽ trả mắc cho mấy người, vì công ấy Tôi thường lại ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật, tức nhiên Tôi đem đưa cơ quan giải thoát nơi tay mấy người, mấy người đạt được nơi thế nầy thế nào, nơi cõi vô hình Tôi cũng không chối cãi.

Bởi chính mình Ngài cậy làm tôi tớ cho con cái Ngài tại thế nầy, Ngài mới đem Phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đưa cho ta.

Nếu chúng ta đạt được, khi trở về cõi hư linh Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và Đức Chí Tôn không hề chối cải mà chẳng có quyền luật nào định cải được phẩm vị của chúng ta do phụng sự Vạn Linh mà lập được tại thế nầy.

 

Phụ ghi:
Ngày âl. 05-06-Kỷ Sửu nhằm ngày (dl. 30-06-1949).

Trích từ Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Q.3 bài 08.◙

 

 

Ngày 03 tháng Giêng Bính Thân 1956

TÂN NIÊN KHAI BÚT

Vẫn gánh non sông đến tuổi già,
Đòn tâm làm mạnh thế tài ba.
Đôi phen kiên nhẫn dìu hồn nước,
Lắm lúc truân chuyên giữ Đạo nhà.
Tình đức cổ truyền trừ giặc loạn,
Nghĩa nhân pháp bửu dẹp can qua.
Hồng ân đã sẵn làm thao lược,
Ích quốc an dân dụng chữ hòa.

PHẠM HỘ PHÁP

Trích từ Thông Tin số 08 ngày 10 tháng 06 Canh Tuất (Dl. 12/07/1970) trang 05, do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành.◙

 

 

 


 

 

của Bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh
đọc tại Thánh Thất Cầu Vĩ (Mỹ Tho) của Ông Đốc Phủ Ca (P.S Thái Ca Thanh).


 

Thiên ân phong mỹ, đạo vị thơm tho, gác công danh thế sự chốn hư sinh, tưởng tâm tánh Phật Tiên nơi Lạc quốc. Ấy là hiện thấy như ông lớn bà lớn đây, vẫn thiệt đồ kỳ đại nhi vong kỳ tế, dụ kỳ thiệt nhi khí kỳ hư, mùi đỉnh chung mượn khổ hạnh gánh chiụ với thiên tâm, lập chí tiết nuôi lấy chơn linh quí hóa, nên mới có ngày nay bửu tòa thơ thới, thánh thất tư trai, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, lưỡng phái nam nữ sum vầy, tôi nhẹ gót đến đây, mừng thấy mở lời cầu chúc. Trước xin thiết tưởng rằng: Ơn Thầy mở đạo, biển trầm luân lằn sóng lặng yên, Đức Phật ra đời, bờ bỉ ngạn có bè đưa tới, ấy là gặp cơ hội tuần hườn phục thỉ, ngàn muôn năm mới có một kỳ nầy, nếu ai ai đều cạn xét cùng suy, chắc ngày sau trong mỗi một gia đình, đại hạnh phước tự nhiên hưởng đặng. Từ khi khai thiên lập địa, thì muôn vật và loài người mới sanh ra quyền Diêu Trì Kim Mẫu chủ trương, vẫn phó tánh hiền lương chơn thiệt. Nên chi trải mấy đời về Thượng Cổ, thói thuần dân tốt, mưa thuận gió hòa, thời trời ứng với vận người, ít thấy xảy ra những lòng ác cảm. Lần lần trở xuống, khí trời biến đổi, lòng người càng tập tục lấy sự bất chánh dị đoan, dẫn xuống đến ngày nay, cơ tạo hóa lại tuần hườn phục thỉ. Xin Chư đạo hữu nên hiểu rằng:

Đạo có dạy đời tu, từ khi Bàn Cổ, chẳng phải mới phát khởi một ngày nay. Trong Tam Giáo đều dạy người lánh dữ làm lành, để duy trì lấy nhơn luân đạo hạnh, đạo Nho dạy người học cang thường luân lý để biết đạo vua, tôi, cha, con, chồng, vợ là ngũ luân, sách có chữ rằng: Nhơn linh ư vạn vật, nên tam tài liệt ở thứ ba, vậy thì người là được thọ bẩm nam thanh nữ tú, hơn muôn loài, lẽ đáng ai ai cũng nên nghĩ đến sự tu hành làm gốc. Tuy gặp tự đời Châu Mạc trở xuống, truyền nhiễm lấy phong hóa bất chánh đã nhiều, nên trải đời bị khí bẩm sở câu, vật dục sở tế, mới đến ngày nay, phong tục cang thường điên đảo, phần nhiều đường đạo đức đã bị lằn sóng khổ hải xô đẩy ngã nghiêng, hóa ra lòng thùy từ mẫn khổ của đứng Trời Phật cao xa, phải phổ tế giáng cơ sắc lịnh, lại hiệp cùng các bực văn minh Thần Tiên chưởng trí, phụ ngũ chi có Đức Chúa Jésus ngài hóa thân tùy theo địa đạo, mà truyền bá đạo danh, chớ kỳ thiệt giáo chủ Gia Tô, cũng là Đức CAO ĐÀI TIÊN ÔNG, ngày nay Nam phương giáo đạo, phải biết thế đại, đồng văn, đồng đạo, thì nền tôn giáo cũng phải hiệp nhứt mới được đề huề; nói tóm lại, đều là dạy đời tu hành, đặng mong thoát bề tội lỗi. Làm người đứng trong bầu trời đất, có tai nghe mắt thấy miệng nói lòng suy, vậy việc gì phải đạo đức thì nên theo, viêc gì trái, mà không có cang thường thì nên bỏ. Thử xem xưa nay, nào anh hùng, hào kiệt nghĩa sĩ trung thần, có tiếng truyền lại ở sử xanh, có công ghi vào trên bia đá, cũng chẳng bởi điều gì khác lạ, cũng là tự nơi tấm lòng đạo đức mà nên. Nếu như bây giờ đạo hữu chúng ta đây, ai nấy đều biết hồi tâm hướng đạo, khắc kỷ tu thân, tuy về sau, ví không sánh được như mấy bực chơn đạo chi truyền, chớ còn phần âm chất lưu để cho đời sau, phước quả phương danh cũng chẳng có nhỏ. Vậy xin đồng nhau, suy lòng từ thiện, làm linh đơn cứu chữa bịnh tiền khiên, mở trí khôn ngoan dụng chánh đạo trau dồi hồn mê muội, thuyền Bát Nhã chực rước người lương thiện, chớ không duyên một đứa cũng là chìm, thuốc trường sinh chữa sẵn cứu người ngay, ai có phước muôn đời nên kiếp hiển, gặp vận kỳ ba mở đạo, chia tam nguơn dựng lại một nền, nếu ai biết điều hành chánh lý thì cũng tùy âm dương vận chuyển được, sách có câu: Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, cửu cửu tất hoạch kiết khánh, sở vị chuyển họa vi phước. Nghĩa là: Người nào thường làm việc dữ, sau ăn năn chừa lỗi, lần lần cũng tự nhiên đặng phước lành, ấy là đổi họa qua phước, xem thế thì hễ ai sám hối tu hành, đặng Thầy ban ơn cho phước quả. Than ôi! Công khó nhọc Thầy giáng cơ dạy rằng:

Trên trăm thế kỷ đổi sơn hà,
Tạo hóa sông non vốn một Ta.
Phổ Độ Tam Kỳ vì chúng khổ,
Các con khuyên gắng chí theo già.

Suy trong Thánh Ngôn đã dạy thế, thì lưỡng phái chúng ta nên quyết chí dò trong máy hành tàng mà suy lượng phước và họa, bên nào nặng nhẹ. Bây giờ không nói gì xa xôi cho khó hiểu, chỉ suy trong Minh Tâm có câu như vầy: Tự tác nghiệt bất khả hượt, nghĩa là: Tự mình làm dữ chẳng khá sống. Còn lại có câu: Vị nhơn hành thiện phương tiện, kỳ hậu thọ huệ, nghĩa là: Dùng phép phương tiện mà khuyên người làm lành, sau con cháu hưởng được dư huệ mình rất lớn. Lại đã xem Thánh Kinh Hiền Truyện, luận đạo đời khuyến thiện chất bằng non, Phật học Tiên gia, bút nghiêm nghị quét tan màng vô đạo, vẫn cũng chẳng có qui điều nào cho lạ, thấy thảy đều dạy người đời lo bồi trực lấy cang thường; nhưng vì đạo dị đoan xâm hại như ong, khiến tả đạo bàn môn xen nhiều ngả. Người trí thức thì ít, kẻ ám muội thì nhiều, bên nam bên nữ, tuy biết chánh đạo là việc nên tu hành, thế mà phần nhiều bị lằn sóng mê xô đẩy. May thay ngày nay Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy mở nền Đại Đạo ở trời Nam, ngũ đức lương châm, Phật cứu thế từ bi cùng đất Việt; Phái nam có chư Thiên Phong Chức Sắc mở trường kinh dạy dỗ mấy đàn em, phái nữ có nữ Thiên Ân, mượn khánh bạc gõ vang cùng đàn gái. Tôi đây, liểu bồ nhược chất, nghĩ phận hèn thô siển đạo tâm, gặp Long Hoa Hội lúc đầu sư, để mua chuộc lấy một phần Thiên Đạo. Vì cạn xét, kiếp phù sinh nhược mộng, mãn vui theo hí cuộc lắm, cũng chẳng ích gì cho tấm hậu thân, vậy nên tin tưởng nhập môn trước hành đạo, sau quyết chung thỉ xả thân cầu đạo, hằng một dạ nắm giữ Thiên Điều Phật Luật chẳng hai lòng phế sự đạo tâm, lần mối dây tương thân mà nay được hội diện đông đủ gặp nhau đây, trước xin lỗi chư huynh đệ, tỷ, muội trong quý Thánh Thất nầy, đặng thổ lộ một đôi lời, đàm kỳ đạo thuyết.

Tôi vẫn biết quý hạt nầy, là một địa linh nhơn kiệt, xuất hiện cũng nhiều nhà thi văn đặc biệt có danh, nhưng cũng nhờ Thiên Ân ban bố linh tâm, nên phải suy ý tưởng hẹp hòi, mà trần thuyết một thiên, đặng khỏi phụ tấm lòng trung của Đức Chí Tôn ký thác, đâu dám đem lời diễn đàn cao luận ở nơi chốn thập mục sở thị đây, nhưng bổn tâm vì đương lúc nầy, là cần yếu về mục đích tu tạo Tổ Đình, nên phổ khuyến lấy đạo lý mà thi hành, được đạo hữu rõ thấu tình mộc bổn thỉ nguyên, chung bề hiệp tác công đồng, cho tiện cái việc thành công chi mỹ. Kinh dinh linh đài, là bổn căn nền đạo, thiệt hành công quả vẫn chủ ý đồng tâm; Vậy nên Hội Thánh trong lúc nầy được chỉ Đức Giáo Tông cấp sắc đi hành đạo địa phương là cốt cổ động cho được đa số hằng tâm để chấn chỉnh nền Thánh cho có bề kình thiên độc trụ.

Lo Đạo hơn miếng ăn bổ khỏe. Mến đức hơn mạng sống của mình; Vậy thì biết đạo đức là phải chiêm ngưỡng vào đâu, chắc ai cũng hô lớn lên rằng: Chiêm ngưởng ở vào Tây Ninh Tổ Đình cả.

Thế thì ở đây, trước có ông lớn, bà lớn là chủ trương cầm quyền cho mối đạo, bổn ý Ngài cũng muốn cho nền đạo mở mang, tôi cũng vì việc đạo tối cần, mà hôm nay đặng hội ngộ đây, xin chư Chức Sắc cùng Đạo Hữu đồng môn khá hết sức mà tư trợ thế lực công quả cùng tôi, đặng rạng vẻ tu mi, dẹp danh khuê các, thì danh vọng đối với ngoại bang tôn giáo cao quí biết là chừng nào.

Đôi lời hèn mọn, kỉnh chúc cung trần, sẵn dịp tôi đến đây Tân Mùi, xin hiến một bài bát cú.

 

Thi rằng:

 

TÂN khổ là đầu mối hạnh tu,
MÙI đời vinh hiển rán công phu.
XUÂN thu đài rộng nhờ ơn Phật,
NIÊN kỷ thanh nhàn cậy phước nhu.
ĐẠO nghĩa ba nhành do một gốc,
CAO ĐÀI chúng gọi tiếng muôn thu.
Gia đình hưởng cảnh chơi sơn thủy,
Thạnh trị ơn Thầy rưới phước cho.

Nữ Phái Chánh Phối Sư
LÂM HƯƠNG THANH
cẩn từ

 

Trích từ THÔNG TIN - Xuân Quý Sửu 1973 trang 23 – 26. Do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành 02-1973.◙

 

 

Tiểu Sử Bà Nữ Đầu Sư LÂM HƯƠNG THANH

 

... ... ... ... ... ...

Mở Đạo tại Chùa Từ Lâm Tự được ba tháng thì các vị đệ tử của Hòa Thượng NHƯ NHÃN lại đòi chùa. Phần đông là Nữ phái và cũng có một phần Thực Dân Pháp xúi và bắt buộc. Hội Thánh nhóm lại tìm đất mua để dời chỗ khác, chọn được miếng đất bây giờ là của Ông Kiểm Lâm người Pháp: Hội Thánh thì nghèo, hai Ông Bà (*1) cho mượn số tiền là 24.000$ (Hai mươi bốn ngàn) để mua đất dời Chùa.

Mua đất xong, Hội Thánh cất tạm Tòa Thánh bằng cây rừng, lợp tranh vách ván để có nơi Thờ phượng. Bà thường lên xuống chớ không ở luôn, vì Bà còn phải đi ngoại giao lo công việc Đạo.

Buổi ban sơ Khai Đạo (thời Pháp thuộc) gặp biết bao gay go thống khổ cũng bởi Đạo Đời chưa tương đắc, Chánh Phủ Pháp để dạ nghi nan hăm dọa, bắt bớ lại ra lịnh đóng cửa các Thánh Thất miền Hậu Giang.

Bà lãnh lịnh của Ngài THƯỢNG ĐẦU SƯ lo giao thiệp với Chánh Phủ mở cửa lại. Với uy tín của Bà, Bà làm đơn cam kết với Chánh Phủ Pháp, Đạo CAO ĐÀI là Phật Giáo chấn hưng, tất cả Đạo CAO ĐÀI là chân tu, không làm sái luật chánh phủ thật là người tu hành đạo đức, cả thảy đều có lòng bác ái không sát sanh hại vật chỉ biết tu hiền ăn chay làm lành. Nhờ sự cam kết của Bà mà Thánh Thất nào bị đóng cửa được mở lại, sự cúng kiến tự do, nhưng cũng có một phần không được như ý muốn.

... ... ... ... ... ...

 

(*1) Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Thánh danh Thái Thơ Thanh. Bà Lâm Ngọc Thanh, Thánh danh Lâm Hương Thanh.

.

Trích từ Thông Tin số 03, trang 04. Do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh phát hành ngày 25 tháng 03 Canh Tuất (Dl. 30/04/1970).◙

 

 

 


 

 

của ÐỨC THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG

 

PHƯƠNG PHÁP TU THÂN và Thuyết TAM LẬP

 

Theo Kinh Dịch và Trung Dung thì Trời là Ðấng cao trọng nhứt, sinh ra quần linh vạn vật, biến hóa âm dương mà tạo thành võ trụ. Ðó là Ðấng hoàn hảo tột bực rất thiêng liêng, vô hình ảnh nhưng hành động không ngừng, tự diễn xuất bằng những hiện tượng, bành trướng rất sâu xa, huyền diệu, cao thâm, sáng suốt, nâng đỡ và chở che muôn loài vạn vật.

Thật không hiện mà rõ, không động mà biến hóa vô cùng, không làm mà nên việc. Nhờ đó bốn mùa thay đổi, muôn vật sanh sản, võ trụ trường tồn.

Ðấng hoàn hảo đó là Trời, là THƯỢNG ÐẾ. Ðức Khổng Tử nói rằng: Ðấng THƯỢNG ÐẾ ngự trị trong thâm tâm của mỗi người dưới hình thức lương tâm. Ðạo làm người là noi theo Trời tức là tâm linh đó, Tôn giáo là phương pháp thi hành Ðạo đó, tức là: Thiên mạng chi vị tính, xuất tính chi vị Ðạo, tu Ðạo chi vị Giáo.

Mục đích là tu thân, nghe theo tiếng của lương tâm, tiến tới hoàn thiện để kết hợp với Trời và giáo hóa người khác trở nên hoàn thiện như mình.

Vì vậy việc tu thân rất cần thiết cho mỗi người sống trong xã hội.

Sách Ðại Học có nói: "Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân nhứt thị giai dĩ tu thân vi bản", nghĩa là từ bậc vua chúa cho đến thứ dân ai cũng phải lấy sự sửa mình làm gốc.

Trong việc tu thân, sách Ðại Học vạch ra bốn công tác rõ rệt là: Chính tâm, thành ý, cách vật, trí tri. Muốn tự sửa mình trước phải giữ lòng dạ cho ngay thẳng, muốn giữ lòng dạ ngay thẳng trước phải luyện ý mình được thành thật, muốn cho ý mình thành thật, trước phải có kiến thức chu đáo và muốn có kiến thức chu đáo phải học và tìm biết suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật.

Khi đã trí tri và cách vật, khi đã có ý thành và tâm chánh tức là xúc tiến tới việc tu thân, Thân đã tu nhiên hậu mới có thể tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Vậy sự tu thân chẳng những là cần thiết cho đời mình mà còn rất quan hệ đến việc tấn hóa của quốc gia xã hội.

Hai chữ "Tu thân" không phải chỉ có một ý nghĩa tiêu cực là sửa trị nết xấu mà là bao hàm một chương trình rộng rải trau dồi tài đức. Tu thân cũng không phải chỉ có một quan niệm hoàn toàn về cá nhân, vì phép tắc đối với mình tức là "Xử kỷ" phải luôn luôn đi kèm với phép tắc đối với người và việc tức là "Tiếp vật".

Muốn được hoàn hảo trong việc xử kỷ và tiếp vật, con người cần phải thực hành phép Tam lập, tức là Lập Ðức, Lập Công và Lập Ngôn.

Sao gọi là Lập Ðức?

Thể theo triết học Nho giáo, Ðạo Trời có bốn đức là: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, tức là bốn lý pháp mầu nhiệm làm cho cơ sinh hóa vạn vật được điều hòa và thành tựu với tất cả những tốt đẹp thuần túy thiên nhiên.

Ðạo người cũng có bốn đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí cũng có công dụng và đặc tính y như bốn đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh của Ðấng Tạo Hóa.

Ðức Nhân:

Bởi cái đức lớn của Trời là sự sinh, thì đạo làm người phải theo đạo Trời mà bồi dưỡng sự sinh. Cái đức làm cho ta yêu người, yêu vật, muốn cho vạn vật cát đắc kỳ sở, đó là đức Nhân vậy.

Cái lòng yêu đó biểu lộ tự nhiên theo tiếng gọi của lương tâm, không có miễn cưỡng chút nào mà cũng không do ai xúi giục.

Chữ Nhân đem ra ứng dụng vào đời sống thì nó gồm tất cả nghĩa vụ làm người, nên Thầy Mạnh Tử nói Nhân là đạo làm người vậy.

Thực hành chữ Nhân tức là áp dụng Thiên lý vào đời sống thật tế.

Muốn làm điều Nhân, người ta phải giữ lòng ngay thẳng, chẳng cho tư dục xen vào tâm, để cho nguồn Thiên lý ở trong tâm ung dung phát triển rồi ta cứ theo tiếng nói thiêng liêng đó mà làm cho hết sức mình.

Theo tình cảm, trước hết ta phải thương những người thân cận như là cha, mẹ, anh, em và gia tộc, thứ nữa ta phải nới rộng tình thương tới cả nhơn loại, vì đức Nhân là tiêu chuẩn của lòng từ ái và tánh vị tha, không thể khép vào một chỗ chật hẹp được.

Thầy Mạnh Tử có quan niệm là lòng nhân ái ví như cái hoa của đời sống, sự sinh tồn thiết thực là tình thương tràn trề và sung mãn. Nếu lòng nhân ái không được nở nang đầy đủ thì nó như cái hoa héo trước khi nở.

Tóm lại người có lòng nhân phải trang nghiêm, phải có ý chí bền bỉ, không làm cho ai điều mình không muốn người làm cho mình, khiêm nhượng, khoan hồng, cần mẫn, quảng đại, thi ân huệ cho người, thương yêu mọi người và mong cải tạo xã hội.

Ngoài ra phải biết xét mình, biết so sánh mình với người, phải noi theo những phong tục tập quán tốt, những lễ nghi đương thời.

Xưa Ðức Khổng Tử vì khiêm tốn mà nói rằng: Ta đâu dám sánh với bực Thánh, bậc Nhân (Nhược Thánh dữ nhân tắc ngô khởi cảm).

Ðức Nghĩa:

Ðức nghĩa là cử chỉ tác động theo đạo lý, theo lòng nhân nâng cao giá trị con người. Giúp đỡ một người nghèo đói, cứu vớt một kẻ té sông, chia sớt thống khổ của người già cả tật bịnh, đó là làm điều nghĩa.

Con người ai cũng có cái tánh ưa điều nghĩa, song không làm được điều nghĩa là tại cái lợi làm hỏng vậy. Người quân tử vẫn chủ tâm lấy cái nghĩa làm trọng hơn cái lợi. Theo các bậc hiền triết Nho giáo, nếu biết khiến lòng háo nghĩa thắng được lòng dục lợi thì thành ra điều hay, mà để lòng dục lợi đè được lòng háo nghĩa thì thành ra điều dở. Và nghĩa thắng được lợi là đời trị, lợi đè được nghĩa là đời loạn. (Nghĩa thắng lợi giã vi trị thế, lợi khắc nghĩa giã vi loạn thế).

Cho nên Nho học khuyên: "Tiên nghĩa nhi hậu lợi" tức là phải làm việc nghĩa trước rồi sau sẽ cầu lợi, đó là điều chánh đáng vậy.

Ðức Lễ:

Chữ Lễ chẳng phải chỉ dùng để nói về việc thờ phụng, cúng tế theo tôn giáo. Lễ cũng nói gồm cả những qui củ mà phong tục và tập quán của nhơn quần xã hội đã thừa nhận như Quan, Hôn, Tang, Tế v.v... Lễ cũng dùng để khiến sự hành vi của người ta cho có chừng mực và hợp với đạo lý, vì nếu không có Lễ thì mọi việc trên đời đều hỏng vì rối loạn.

Cho nên Ðức Khổng Tử dạy bảo Thầy Nhan Uyên rằng: Không phải lễ thì chớ trông, không phải lễ thì chớ nghe, không phải lễ thì chớ nói, không phải lễ thì chớ làm (Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động).

Ngoài ra Lễ còn có hiệu lực định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự trên dưới cho phân minh. Trong xã hội có vua tôi, thầy trò, cha con, chồng vợ, có người thân có kẻ sơ, có việc phải có việc trái, cho nên phải có lễ để phân biệt tôn ti, khiến người ta biết cư xử với nhau cho phải đạo, phân ra trật tự làm cho vạn vật không có điều chi hồ đồ hổn độn.

Lễ để ngừa sự loạn sinh ra cũng như bờ đê giữ cho nước không đến được. Người giàu sang biết lễ thì không bạo ngược, kiêu căng; người bần tiện biết lễ thì không nản chí, không làm bậy. Bậc vua chúa biết lễ thì mới biết cách trị nước an dân.

Bởi vậy các đấng đế vương đời trước sở dĩ trị được thiên hạ là vì hiểu rõ thị dục của người ta, nên mới đặt ra lễ và nghĩa để phân biệt cái lợi, cái hại, để trị thất tình, là hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục và sửa thập nghĩa là phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ để, phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung, đem sự hòa thuận, chuộng sự nhân nhượng, bỏ sự tranh cướp.

Trên thế gian, con người chỉ biết được cái đã rồi, không biết được cái sắp có, lễ là để cản ngăn trước việc chưa xảy ra, pháp luật là để trị việc đã có rồi.

Bởi vậy, Thánh nhân trọng lễ, chớ không trọng hình.

Ðức Trí:

Trí là một đức tính giúp chúng ta phân biệt điều lành lẽ dở, điều chánh lẽ tà.

Người trí luôn luôn theo đường đạo đức, tránh kẻ vạy tà, gần người lương thiện để nâng cao giá trị mình trên đường xử kỷ, tiếp vật.

Ðề cập tới cách luyện trí, Ðức Khổng Tử dạy ba điều:

1) Luyện trí bằng cách học hỏi người nay;

2) Bằng cách khảo cổ (học theo gương Thánh hiền thời xưa).

3) Bằng cách trầm tư mặc tưởng để định trí an thần, tầm cho ra chơn lý.

Nhờ có học hỏi con người mới được trí minh mẫn, thấy xa hiểu rộng. Trong sự học hỏi phải có chí thành, cương quyết không vì thấy khó mà bỏ dở nửa chừng.

Có điều mình chẳng học, nhưng đã học mà chẳng thành công thì không thối, có điều mình chẳng hỏi, nhưng hỏi mà không thông suốt thì không bao giờ chịu, có điều mình chẳng suy nghĩ, nhưng suy nghĩ mà không vỡ lẽ thì suy nghĩ mãi.

Có bền chí như vậy sự học mới có kết quả khả quan.

Trí được sáng suốt, mình mới tự biết mình và biết người.

Nếu làm người mà mình không tự biết mình thì thật lấy làm thương hại!

Biết người biết ta tức là bậc trí giả, không khi nào thất bại trên đường đời cũng như đường đạo.

Thầy Mạnh Tử nói: Cái kết quả chánh đại của đức Trí là sự thực hành rất kiên cố đức Nhân và đức Nghĩa. Vì vậy đức Trí và lòng Nhơn ái là hai kho quí báu của người hoàn thiện, là hai đức tính không rời nhau, vì không thể có cái nầy mà không có cái kia.

Tóm lại, biết được tác dụng của bốn đức căn bản của đạo người rồi, chúng ta theo đó mà tập luyện cho hết sức mình, làm cho nhập tâm hầu áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình.

Nho giáo cho rằng người quân tử cần hợp đủ những đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Người nào còn thiếu kém về việc thực hành một điều nầy hay một điều khác trong bốn đức tính căn bản đó thì không xứng đáng là người học Ðạo và biết Ðạo.

Lập Công:

Là một phương pháp cần thiết trong việc tu kỷ, xử thế của con người.

Phép lập công gồm có hai mặt là: Sức khỏe đầy đủ và tinh thần cứng rắn, để nghị lực điều khiển nhục thân tuân hành mạng lịnh của trí não.

Muốn kiện toàn sức khỏe, phải giữ vệ sinh thân mình, phải ăn uống có điều độ, tránh xa tửu sắc làm cho thân thể con người phải tiều tụy.

Phải tận lực đánh đổ tật biếng nhác. Làm việc hằng ngày phải siêng năng nhậm lẹ; việc nào đã làm phải làm hết sức chu đáo.

Ở tại gia đình phải gắng sức lập công thì gia đình mới khỏi thiếu thốn, túc thực túc y, con cái được bảo dưỡng đầy đủ.

Ra gánh vác việc xã hội, tùy theo địa vị, phải ráng lập công cho đúng với nhiệm vụ mình đã nhận lãnh, hoặc y theo lời cam kết của mình.

Chẳng nên thấy sự khó khăn mà bỏ dở nửa chừng, hoặc ham lợi nhiều mà làm việc cẩu thả, khiến công chuyện bất thành rồi đổ thừa cho điều nầy lẽ nọ.

Làm như vậy thì thất tín với mình, thất tín với thiên hạ, không còn ai dám tin dùng mình nữa và cả đời mình phải gánh chịu hậu quả, không trông gì nên sự nghiệp được.

Khi nhập vào cửa Ðạo, quyết tu hành, phụng sự cho Ðạo và cho chúng sanh thì sự lập công là đầu mối việc. Phải lập công rồi mới hưởng quả, nên gọi là công quả.

Công quả trong cửa Ðạo chia ra hai phần là: Công quả nội và Công quả ngoại.

Công quả nội:

Là phương pháp làm cho mình sáng suốt, hiểu thông rành mạch đạo lý, không còn chỗ nào ngờ vực hầu trau giồi tâm tánh để trở nên người đạo đức hoàn toàn. Phải để công phu học hỏi rồi phải thực hành tức là áp dụng điều hiểu biết vào đời sống tinh thần, dìu đường cho kẻ khác cũng trở nên sáng suốt như mình. Ðó là tự giác nhi giác tha.

Công quả ngoại:

Là phụng sự cho Ðạo và cho chúng sanh tức là tùy theo địa vị và khả năng của mình, ra công xây dựng cho Ðạo và giúp ích cho người Ðạo cũng như người Ðời, làm cho ai cũng được hưởng cái công quả như mình.

Sự sanh hoạt trong cửa Ðạo cũng chẳng khác chi sự sanh hoạt ngoài mặt đời: Kẻ rành về nghề nầy, người chuyên môn về việc khác. Có nghề đòi hỏi sự lao lực, có việc cần nơi sự lao tâm. Lập công quả bằng sự lao tâm hay lao lực đều có giá trị như nhau và đều hướng về chủ đích phụng sự cho Ðạo và cho chúng sanh.

Trong cửa Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, người tu sĩ nhờ nơi công quả mà lập vị xứng đáng cho mình và hưởng ân huệ thiêng liêng ngày chung cuộc.

Lập Ngôn:

Là trau chuốt lời nói được thanh nhã, chơn thật, hiền lành, tỏ ra mình là người có học hay có thấm nhuần đạo đức.

Muốn thực hành phép lập ngôn, chúng ta phải làm chủ khẩu khí, phải suy nghĩ kỹ trước khi thốt lời thì lời nói mới đoan trang, có mực thước.

Vả lại người ta thường do lời nói để tìm biết tâm chí và trình độ tấn hóa của mình; chúng ta nên cẩn thận, vì một lời thốt ra rồi khó lấy lại được.

Về mặt Ðạo, lời nói chẳng lành, bất công hoặc có ác ý, làm cho mình mang nghiệp quả (Karma). Nghiệp quả đó gọi là khẩu nghiệp, dầu là lời nói suông cũng đồng tội như mình có làm việc quấy,

Ðức CHÍ TÔN có dạy rằng: "Các con phải cẩn ngôn cẩn hạnh. Thà các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con chỉ nói mà phải mang trọng hình đồng thể".

Vậy người tu sĩ cần áp dụng triệt để những điều răn cấm sau đây:

- Cấm vọng ngữ tức là nói dối;

- Cấm lưỡng thiệt, tức là đem chuyện người nầy thuật lại với kẻ nọ làm cho hai bên xích mích nhau;

- Cấm ác khẩu, tức là lời nói hung dữ;

- Cấm ý ngữ tức dùng lời xảo trá để gạt gẩm người sa vào tội lỗi.

Ðức Khổng Tử có nói: "Ðạo thính nhi đồ thuyết đức chi khí dã", nghĩa là nghe chuyện đầu đường nói lại ở cuối đường là tự bỏ cái đức tốt của mình vậy.

Trong xã hội, người ta vì lời nói mà sanh ra việc bất bình, có khi gây ra thù oán có thể đánh giết nhau.

Trong gia đình, vì lời nói mà có khi cang thường tan vỡ, cốt nhục chia lìa.

Trong việc trị nước, các vị vua chúa thời xưa thường nghe lời sàm tấu của đám nịnh thần mà quốc gia phải khuynh nguy, cơ đồ nghiêng ngửa. Vì đó có câu: Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ tán bang. Lời nói có tầm quan trọng như thế, người đời cũng như kẻ tu sĩ nên cẩn hạnh cẩn ngôn cho lắm.

Nói tóm lại, người quyết chí tu thân, nếu thực hành được phép Tam lập là Lập Ðức, Lập Công và Lập Ngôn thì sẽ trở nên hoàn thiện và đáng là một bậc đại hiền trong thiên hạ vậy./.

CAO THƯỢNG SANH

(Trích Thông Tin số 24, ngày 21/03/1971)

 

Trích từ Tiểu Sử và Lời Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang. Phương Pháp Tu Thân và Thuyết Tam Lập.◙

 


 

 

Diễn Văn Khai Mạc Đại Hội Thảo Luận

về Chương Trình Hoạt Động của Ban Đạo Sử
ngày 26 tháng 10 Mậu Thân (dl. 15/12/1968)
của Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức -
Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh Kiêm Trưởng Ban Đạo Sử.


 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Tứ thập tứ niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
--------------------------------

 

Kính bạch ĐỨC THƯỢNG SANH,

Kính thưa Chư Chức Sắc Thiên Phong Nam Nữ,

Kính thưa quý Ngài,

Trong buổi Đại Hội hôm nay, Ban Đạo Sử chúng tôi rất hân hạnh được đón tiếp ĐỨC THƯỢNG SANH và đông đủ Chư Chức Sắc Thiên Phong Nam Nữ đến tham dự. Trước quang cảnh tôn nghiêm trang trọng nầy tôi xin thay mặt toàn thể Chức Sắc và Chức Việc nơi Ban Đạo Sử, chân thành cảm tạ sự hiện diện của quý Ngài, nhứt là ĐỨC THƯỢNG SANH, chủ tọa danh dự buổi Đại Hội.

Kính thưa Quý Ngài,

Trước khi Đại Hội thảo luận về chương trình hoạt động cùa Ban Đạo Sử, tôi thiết tưởng cũng nên trình bày cùng quý Ngài, do đâu Ban Đạo Sử ra đời? Ra đời để làm gì? Với mục đích nào? Và Sử Đạo có tác dụng và ảnh hưởng nào đối với đoàn hậu tấn của Đời cũng như của Đạo?

Bây giờ tôi xin nêu từng điểm một và sự nhận xét của riêng tôi trên phương diện hoàn thành Sử Đạo và tầm quan trọng của Ban Đạo Sử.

Điểm thứ nhứt: - Đạo Sử do ĐỨC THƯỢNG SANH và HỘI THÁNH Hiệp Thiên Đài giao cho tôi đảm trách phần soạn thảo đã được phần đầu 30 trang chiếu theo Đạo Lịnh số: 32/ĐL ngày 14 tháng 8 năm Nhâm Dần (dl. 12/09/1962).

Ngày 11 tháng 5 Mậu Thân (dl. 06/06/1968) ĐỨC THƯỢNG SANH lại chấp thuận cho mở rộng Cơ Quan Đạo Sử với sự tham gia của quý vị Chức Sắc và Chức Việc nơi các Cơ Quan Chánh Trị Đạo. Do đó, HỘI THÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI và PHƯỚC THIỆN, cũng như BAN THẾ ĐẠO, đã tuyển chọn và bổ nhiệm những vị có khả năng đến cộng tác với tôi.

Điểm thứ hai: - Cơ Quan Đạo Sử ra đời để làm gì và với mục đích nào?

Điểm nầy khỏi phải nói dài giòng, vì Cơ Quan Đạo Sử ra đời là để ghi chép lại các cuộc đã qua của Đạo, có thể tóm lược tổng quát qua các giai đoạn bằng các Chương như sau:

CHƯƠNG I:

-

ĐẠI ĐẠO dưới thời Pháp Thuộc (1925-1943).

CHƯƠNG II:

-

ĐẠI ĐẠO dưới thời Nhựt chiếm cứ Đông Dương (1943-1945).

CHƯƠNG III:

-

ĐẠI ĐẠO dưới thời Việt Minh (1945-1955).

CHƯƠNG IV:

-

ĐẠI ĐẠO dưới thời Quân Đội Pháp trở lại Việt Nam (1945-1955).

CHƯƠNG V:

-

ĐẠI ĐẠO dưới thời các Chánh Phủ: Thinh, Hoạch, Xuân, Long, Tâm, Hữu, Bửu Lộc (1946-1954).

CHƯƠNG VI:

-

ĐẠI ĐẠO dưới thời chế độ độc tài gia đình trị của Tổng Thống Diệm (1954-1963).

CHƯƠNG VII:

-

ĐẠI ĐẠO dưới thời các Chánh Phủ: Thơ, Khánh, Hương, Quát cho đến bây giờ nghĩa là từ năm 1963 trở lại đây.

Đó chỉ là đại cương, chớ các tiết mục nơi các CHƯƠNG ấy, hẳn nhiên phải đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu và sưu tầm bằng tất cả thiện chí mới có thể hoàn thành Đạo Sử được.

Còn về mục đích lập ra Cơ Quan Đạo Sử là để cho đời sau khỏi trách móc rằng HỘI THÁNH không nghĩ đến phương diện Sử học hiện tại. Ví dụ người đời sau muốn nghiên cứu về Đạo từ 43 năm qua, thì thử hỏi tài liệu đâu để tham khảo, nếu không có bộ Đạo Sử giúp ích cho họ được dễ dàng trong việc tìm hiểu Cao Đài Giáo. Tôi xin nêu một bằng cớ để chứng minh rằng Sử học quan trọng vô cùng. Đây quý Ngài cũng như tôi có mặt trong Đại Hội hôm nay, tất cả chúng ta đều là người VIỆT NAM, và lúc nào trên đầu môi chót lưỡi cũng như trên giấy trắng mực đen, ai cũng tự hào mình là Con RỒNG cháu TIÊN, có trên bốn ngàn năm văn hiến, trải qua các triều đại, kể từ HỒNG BÀNG cho đến ĐINH, LÊ, LÝ, TRẦN, LÊ, NGUYỄN,... Nhưng, thảng như có người ngoại quốc nào, hỏi dân số chúng ta qua mỗi triều đại được bao nhiêu, thì có lẽ chúng ta sẽ lặng thinh để rồi ân hận cho nền văn hiến của chúng ta còn thiếu xót trên khía cạnh Sử học. Thí dụ như có người hỏi: Đạo Cao Đài nay đã bước sang năm thứ 44, xin quý Ngài cho biết số Tín Đồ vào các năm 1930, 1940, 1950, v.v... Câu trả lời ấy, tôi thành thật yêu cầu quý Ngài hiện diện nơi đây giúp đở tài liệu cho Cơ Quan Đạo Sử, để chúng tôi có dịp ghi sự tăng tiến về nhân số của Tín Đồ. Nhờ đó, sau nầy con em của HỘI THÁNH mới có tài liệu để trả lời cho những ai muốn chất vấn và tìm hiểu Đạo Giáo chúng ta.

Điểm thứ ba: - Sử Đạo có tác dụng và ảnh hưởng nào đối với Đời cũng như Đạo, nhứt là với các thế hệ tương lai?

Theo sự nhận xét của riêng tôi, tác dụng và ảnh hưởng của Sử Đạo quan trọng vô cùng đối với đoàn hậu tấn. Nó quan trọng ở chỗ là, các tài liệu và sự kiện được ghi vào Đạo Sử có chính xác hay không? Có công bằng và vô tư hay không? Có được ngay thẳng như KINH XUÂN THU của ĐỨC KHỔNG PHU TỬ và SỬ KÝ của TƯ MÃ THIÊN hay không? Tóm lại giá trị của Sử học sở dĩ được đề cao hay miệt thị đều do các yếu tố căn bản ấy. Và chính nhờ ngay thẳng mà danh dự của ĐỨC KHỔNG PHU TỬ cũng như của TƯ MÃ THIÊN mới được lưu truyền hậu thế.

Còn Đạo Sử của chúng ta có ảnh hưởng nhiều đến giá trị cao siêu và danh dự của nền Đại Đạo, nên tôi tưởng chúng ta cần đề cao hai chữ 'VÔ TƯ" để cho Cơ Quan Đạo Sử hoàn thành sứ mạng. Và, đời hậu tấn, kể từ nay cho đến thất ức niên, cứ theo lề lối ấy mà tiến hành. Có được như thế người đời trông vào việc làm của chúng ta mà phê phán.

Một lần nữa, tôi thành kính tri ân sự hiện diện của ĐỨC THƯỢNG SANH chủ tọa danh dự phiên Đại Hội, cũng như toàn thể Chư Chức Sắc Thiên Phong Nam Nữ đã chiụ khó nhọc đến dự Đại Hội nầy để cùng chung thảo luận hầu tìm phương chước giúp hay cho việc hoàn thành Sử Đạo.

Trước khi dứt lời tôi xin long trọng tuyên bố khai mạc Đại Hội.

Trân trọng kính chào quý Ngài.

Tòa Thánh, ngày 25 tháng 10 Mậu Thân
(Dl. 15/12/1968)

HIẾN PHÁP CHƯỞNG QUẢN BỘ PHÁP CHÁNH
Kiêm TRƯỞNG BAN ĐẠO SỬ
TRƯƠNG HỮU ĐỨC

 

Trích từ Huấn Từ của Ngài Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài, trang 44-46.
Bản in ronéo 1970 do Phan Thanh Liêm và Huỳnh Văn Chợ thực hiện.◙

 

 

 

 


NGÀY XUÂN QUÝ SỬU
LƯỢC GHI LẠI CHUYỆN XÂY BÀN, CẦU CƠ
TẠI SÀI GÒN NĂM ẤT SỬU (1925)

 

Là những trang tao nhân, mặc khách vừa là tài tử đương thời, ba Ông CAO QUỲNH CƯ, PHẠM CÔNG TẮC, và CAO HOÀI SANG dù là công chức, nhưng tâm hồn lúc nào cũng đa sầu, đa cảm, sầu cảm vì vận mạng giống nòi và đau thương vì những khổ đau chồng chất của thế nhân hiện tại.

Đã từng đọc qua nhiều sách vở về Thần Linh học, ba ông nảy ra ý nghĩ liên lạc với vô hình bằng cách XÂY BÀN để được dịp tiếp xúc cùng các vong linh hầu xướng họa thi phú hoặc đàm luận văn chương… Lúc đầu quý ông cho việc đó là thú tiêu khiển để giải sầu thế cuộc… Nhưng quý ông có biết đâu, mọi việc thiên cơ đã tiền định. Từ cuộc xây bàn nầy, ba ông sau nầy đã trở thành Đại Tướng Soái của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế và nắm giữ những vai tuồng trọng yếu của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đó là HỘ PHÁP Thiên tôn, THƯỢNG PHẨM Thiên tôn và THƯỢNG SANH Thiên tôn.

Dưới đây là phần lược ghi tổng quát về diễn tiến của việc xây bàn và cầu cơ trong năm Ất Sửu (1925) kể từ đầu tháng 6 âm lịch…

MÙNG 5 THÁNG 6 NĂM ẤT SỬU (DL. 25/07/1925) Quý ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang tổ chức xây bàn thông công với vô hình. Đây là những thí nghiệm lúc đầu tại nhà ông Sang.

MÙNG 6 THÁNG 6 NĂM ẤT SỬU (DL. 26/07/1925) Quý ông Cư, Tắc, Sang thí nghiệm lại việc xây bàn. Kết quả, cháu của ông Cư là Ô. Cao Quỳnh Lượng và thân sinh của Ông là cụ Cao Quỳnh Tuân giáng.

MÙNG 10 THÁNG 6 NĂM ẤT SỬU (DL. 30/07/1925) Quý Ông hội lại và tiếp tục xây bàn. Có một vị về xưng tên là ĐOÀN NGỌC QUẾ, cho thi rất hay và chỉ cho quý Ông biết mộ của Cô ở Phú Thọ. Tên thật của Cô là V.T.L.

SÁNG 11 THÁNG 6 NĂM ẤT SỬU (DL. 01/08/1925) Ba Ông đem nhang đèn viếng mộ cô Quế ở Phú Thọ và thấy mộ chỉ đề tên là VƯƠNG THỊ LỄ, lại có ghi cả lai lịch và hình ảnh nữa. Ba Ông trở về nhà còn phân vân nên gầy cuộc xây bàn liền. Cô Quế về cảm ơn và xác nhận đó là mộ của Cô.

15 (RẰM) THÁNG 6 NĂM ẤT SỬU (DL. 04/08/1925) Ông LÊ VĂN TRUNG được ông Nguyễn Hữu Đắc rủ đến nhà ông Lê Thành Vạn tại Chợ Gạo Phú Lâm xem cầu cơ. Nhờ các đàn cơ nầy mà ông Lê Văn Trung lần lần hiểu đạo và tự thông công được với các Đấng Vô hình. Sau mới gặp ba ông Cư, Tắc và Sang.

15 THÁNG 07 NĂM ẤT SỬU (DL. 02/09/1925) Cô Vương Thị Lễ báo tin cho ba ông Cư, Tắc và Sang biết là có một Đấng cao cả đến tiếp xúc với ba Ông. Đấng nầy khi nhập bàn xưng danh là A.Ă.Â.

MÙNG 1 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 18/09/1925) Cô Vương Thị Lễ nhập bàn. Ba Ông ngỏ ý nhờ Cô mời giùm các vị khác đến xướng họa thi phú chơi. Cô Lễ nhận lời và buộc ba Ông phải ăn chay. Kể từ đây ba Ông bắt đầu tập ăn chay.

MÙNG 4 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 21/09/1925) Khi xây bàn, ông Sang có xướng lên bài thơ “Tự Thuật”. Cô Lễ họa rồi còn cho thêm thơ khác. Việc nầy được đồn đại và thấu tai gia đình cô Lễ, nên có hai người bạn thân của cô Lễ là ông Võ Văn Nguyên và Lâm Duy Hưng đến để xem hư thiệt.

MÙNG 5 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 22/09/1925) Ba Ông tiếp tục xây bàn xướng họa thi phú với các Tiên Nương.

MÙNG 8 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 25/09/1925) Đấng A.Ă.Â. giáng dạy ba ông Cư, Tắc, Sang đến ngày rằm tháng 8 phải thết tiệc chay thỉnh DIÊU TRÌ NƯƠNG NƯƠNG, và CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG dự tiệc “Hội Yến Diêu Trì”.

11 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 28/09/1925) Nhiều thi hữu trong “Sài Gòn Thi Xã” đến nhờ ba Ông xây bàn cho họ tiếp xúc với một nhà thơ đã chết biệt hiệu là QUÍ CAO. Thi sĩ THUẦN ĐỨC tên thiệt là NGUYỄN TRUNG HẬU xướng thơ và được thi sĩ Quí Cao về họa. Đôi đàng cứ thế xướng họa liên tiếp. Là thi sĩ nên ba ông Cư, Tắc, Sang cũng tham dự cuộc xướng họa nầy trong sự vui vẻ và thỏa mãn.

14 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 01/10/1925) Cụ CAO HOÀI ÂN, thân sinh của ông Cao Hoài Sang về cho thơ. Sau đó Đức NHÀN ÂM CHƠN NHƠN giáng và xướng họa với ba Ông. Trong dịp đó, có ông Vương Quang Trân là thân sinh của cô Vương Thị Lễ đến hầu và khẩn cầu ba ông Cư, Tắc Sang giúp cho Ông được tiếp xúc với con Ông. Cô Vương Thị Lễ giáng mừng cha và cho thi.

RẰM THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 02/10/1925) Thiết lễ Hội Yến Diêu Trì lần đầu tiên tại nhà ông Cao Quỳnh Cư, số 134 đường Bourdais Saigon. Có Đấng A.Ă.Â., DIÊU TRÌ NƯƠNG NƯƠNG và CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG giáng. Mỗi vị cho một bài thi, riêng Cửu Nương hai bài. Sau hết, Lục Nương mời ba Ông làm thi liên ngâm, mỗi người hai câu. Cứ thế làm tất cả được hai bài thi rất hay.

22 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 09/10/1925) Cả tuần nay, ba Ông xây bàn nhưng không ai giáng nên ba Ông rất buồn và thắc mắc chẳng biết tại sao. Đêm nay ba Ông nhứt quyết trì chí ngồi từ 8 giờ tối cho đến 12 giờ khuya. Kết cuộc có Thất Nương giáng, ba Ông phỏng vấn và bày tỏ sự thắc mắc của mình. Thất Nương cho biết vì không được lịnh nên cả tuần nay không đến thăm được.

28 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 15/10/1925) Đấng A.Ă.Â. giáng và cho ba Ông biết là mình đã bị Ngọc Hư Cung bắt tội vì đã tiết lộ Thiên cơ với ba Ông. Nghe vậy, ba Ông cam kết sẽ khấn cầu và chịu tội với Thượng Đế, thay cho Đấng A.Ă.Â.

29 THÁNG 8 NĂM ẤT SỬU (DL. 16/10/1925) Ba Ông tắm gội sạch sẽ xông trầm, khử trược, chay lạt kỹ lưỡng, vọng bàn hương án ngoài trời, đoạn đem hết tâm thành cầu khẩn Đức THƯỢNG ĐẾ cho ba Ông thọ tội thay cho Đấng A.Ă.Â. ba ông còn viết bốn câu thi và đốt trình lên Thiêng Liêng. Đêm lại, Bát Nương giáng cho biết Đấng A.Ă.Â. rất hài lòng về thiện chí và sự kính mến của ba Ông. Đồng thời Bà xác nhận là chẳng ai dám bắt tội Đấng A.Ă.Â. cả. Ba Ông rất ngạc nhiên chất vấn. Bát Nương trả lời đại khái là vấn đề nầy sau ba ông sẽ rõ.

RẰM THÁNG 9 NĂM ẤT SỬU (DL. 01/11/1925) Đấng A.Ă.Â. giáng. Vì thắc mắc với sự tiết lộ của Bát Nương hôm trước, nên ba Ông hỏi Đấng A.Ă.Â. ở trên Thiên Đình và quyền hành ra sao. Đấng A.Ă.Â. không đáp.…

18 THÁNG 9 NĂM ẤT SỬU (DL. 04/11/1925) Hôm nay có nhiều bạn bè trong phong trào Đông Du đến nhờ ba Ông xây bàn để hỏi về vận mạng tương lai tổ quốc. Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng giáng cho mười bài thi liên hoàn rất hay làm cho các giới yêu nước thời bấy giờ bàn tán xôn xao, hầu hết đều tỏ ra thán phục….

24 THÁNG 9 NĂM ẤT SỬU (DL. 10/11/1925) Nhiều nhà chí sĩ tìm đến cậy ba Ông xây bàn để thỉnh giáo về thời cuộc. Tả Quân Lê Văn Duyệt giáng trả lời thỏa mãn ước vọng của các vị ấy.

28 THÁNG 9 NĂM ẤT SỬU (DL. 14/11/1925) Việc xây bàn của ba Ông đã gây ra nhiều dư luận. Kết quả, kẻ trọn tin thì đến hầu đàn để học hỏi, người không tin thì đến để phá rối, còn người nửa tin nửa ngờ thì đến để thử thách. Nhưng đêm nay Đấng A.Ă.Â. giáng và ban cho tất cả nhiều đức tin không thể phủ nhận được.

12 THÁNG 10 NĂM ẤT SỬU (DL. 27/11/1925) Tất cả thi hữu thuộc “Sài Gòn Thi Xã” yêu cầu ba Ông xây bàn cho họ được tiếp xúc với thi sĩ Quí Cao (Huỳnh Thiên Kiều). Đêm nay cuộc xướng họa giữa vô hình và hữu hình đã mang lại nhiều lý thú bất ngờ cho những người hiện diện.

21 THÁNG 10 NĂM ẤT SỬU (DL. 06/12/1925) Một người khách tìm đến tham dự cuộc xây bàn với một mục đích thử thách và thí nghiệm. Đó là ông Bồng Dinh, thi sĩ nỗi tiếng thời bấy giờ, từng chán ngán họa thơ với người trần tục, nên nhiều khi làm thơ xong Ông tự ngâm nga rồi đốt đi để gởi cho giới vô hình.

Đêm nay, ông Bồng Dinh đã được dịp xướng họa rất nhiều với Đấng A.Ă.Â. Tuy đã thán phục thi Tiên nhưng thi sĩ Bồng Dinh vẫn chưa trọn tin nên ngày….

28 THÁNG 10 NĂM ẤT SỬU (DL. 13/11/1925) Bồng Dinh lại đến thí nghiệm nữa. Ông làm thơ “Vịnh Mai” rồi tự đốt. Đấng A.Ă.Â. giáng họa và còn cho thêm thơ khác. Lần nầy thì thi sĩ Bồng Dinh đã hoàn toàn tâm phục và tin tưởng việc xây bàn.

30 THÁNG 10 NĂM ẤT SỬU (DL. 15/12/1925) Thi sĩ Bồng Dinh lại đến hầu đàn và xướng họa thơ với Lục Nương Diêu Trì Cung. Trong dịp nầy, Đấng A.Ă.Â. dạy ba ông Cư, Tắc, Sang “VỌNG THIÊN CẦU ĐẠO” và phải đến nhà ông Tý mượn Đại Ngọc Cơ.

MÙNG 1 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 16/12/1925) Ngoài đường trước cửa nhà ông Cư, số 134 đường Bourdais đã được sắp bày hương án trang nghiêm. Trước hương trầm bát ngát, ba ông Cư, Tắc, Sang quốc phục chỉnh tề, quì khấn nguyện với tất cả tâm thành cầu đạo của mình, mặc cho khách đi đường lại qua dòm ngó. Còn Bồng Dinh thì lăng xăng đi tới đi lui và ngâm thơ liền miệng. Lễ xong, các Ông vào nhà cầu cơ. Đây là lần sử dụng Đại Ngọc Cơ đầu tiên thay thế cho việc xây bàn. Đức Thượng Đế giáng xưng danh: “NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ VIẾT CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠỊ BỒ TÁT MA HA TÁT GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG”. Các ông không hiểu nghĩa câu nầy nên cầu Đức A.Ă.Â. giảng giùm. Sau đó, các Đấng như Liên Huệ Tiên, Diệu Đạo Thiên Tôn, Phổ Hiền Bồ Tát, Lục Nương lần lượt giáng. Kể từ đây quý ông cầu cơ chớ không còn xây bàn nữa.

MÙNG 2 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 17/12/1925) Nghe nói Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ giáng cơ, nên nhiều người đến thử. Trong số đó có ông Yết Ma Luật, một tu sĩ được lòng tin của mọi người. Ngoài ra, còn có một chánh khách thời đó cũng đến thử. Nhiều người làm thơ để trong túi áo hoặc đốt. Nhưng những bài thi do cơ họa vận đã làm cho họ tin tưởng và thán phục.

MÙNG 4 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 19/12/1925) Minh Nguyệt Tiên Ông và Đấng A.Ă.Â. giáng cho thi. Sau rốt Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ cũng giáng cho 10 bài thi liên hoàn rất hay.

MÙNG 5 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 20/12/1925) Lục Nương, Thất Nương, Bát Nương giáng cơ cho thi khen tặng Thanh Sơn Đạo Sĩ. Sau đó Thổ Địa Tài Thần, Đấng A.Ă.Â. và Thanh Tâm Thi Nữ giáng cho nhiều bài thi xuất sắc.

MÙNG 6 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 21/12/1925) ba Ông cầu cơ. Một vị khách đến hầu đàn hỏi thiêng liêng về vận mạng của mình.

MÙNG 8 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 23/12/1925) Ba Ông cùng với ông Thuần Đức Nguyễn Trung Hậu ngồi uống trà ngâm thi Tiên và hòa nhạc. Theo đề nghị của ông Thuần Đức, quý Ông ráp nhau cầu cơ. Lục Nương, Bát Nương, Bách Nhẫn Đại Tiên và Huệ Mạng Kim Tiên lần lượt giáng đàn bồi bổ đức tin cho quý Ông và khuyên quý Ông tu.

MÙNG 9 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 24/12/1925) Nhân lễ Chúa Giáng Sinh, các Ông hội họp tại nhà ông Cao Quỳnh Cư và cầu cơ. Thất Nương giáng cho biết Đức Thượng Đế sắp khai đạo cứu đời và còn dạy quý Ông nên nhân dịp nầy cầu nguyện xin với Đức Cao Đài Thượng Đế ban ơn cho nhơn loại. Quý Ông liền thực hành theo và mỗi người để hết tâm thành khấn nguyện. Lễ xong, quý ông cầu cơ có Đức Cao Đài Thượng Đế giáng dạy Đạo và xác nhận ngày nầy chính là ngày mà Người xuống trần dạy Đạo bên Thái Tây. Kế tiếp Đấng A.Ă.Â., Lý Thái Bạch, Đỗ Mục Tiên, và Lục Nương giáng cho thi…

RẰM THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 30/12/1925) Đức Cao Đài Thượng Đế giáng và cho biết chính mình là A.Ă.Â. Đã từng gần gũi bấy lâu với các Ông. Các Ông hoảng sợ, vội vàng lễ bái xin nhận tội bấy lâu đã thất lễ… Đôi khi còn cợt đùa vì thấy A.Ă.Â. quá thương yêu và dễ dãi với quý Ông.

17 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 01/01/1926) Một vài Tín đồ Thiên Chúa giáo đến thử cơ bằng cách để hình Đức Chúa và cây Thánh Giá lên bàn cầu cơ. Khi thử như vậy, quý vị ấy đinh ninh nếu quả thiệt là Thượng Đế mới giáng xuống được, còn hễ là Quỉ Vương khi thấy hình Chúa và Thánh Giá, ắt phải tránh xa. Đó cũng do bài Thánh giáo của Đức Thượng Đế giáng cơ ngay đêm Giáng Sinh mới có cuộc thử thách nầy. Nhưng kết quả Thánh Pierre đã giáng cơ và sau đó là Đức Thượng Đế giáng dạy Đạo và ban đức tin cho tất cả những người có mặt.

18 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 02/01/1926) Trọn tin nơi Thượng Đế, quý vị họp lại và bàn luận về nền Đạo mà Đức Thượng Đế sắp khai mở. Quý Ông cầu cơ, Đức Thượng Đế giáng và khởi sự dạy Đạo chánh thức cho quý Ông kể từ đêm nầy.

19 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 03/01/1926) Dù tất cả đều có đức tin đối với cơ bút, nhưng mỗi người lại có sự nhận xét riêng theo tầm hiểu biết của mình. Do đó, Đức Thượng Đế giáng cơ dạy cho toàn thể hiểu biết về việc thủ cơ, chấp bút. Chiếu theo Thánh giáo thì người phò cơ, chấp bút là tướng soái của Thầy (Thượng Đế).

20 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 04/01/1926) Đức Thượng Đế giáng dạy quý Ông khi hữu cầu mới được cầu thỉnh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Đừng nên lạm dụng cơ bút để giải trí hay thỏa mãn tính tò mò…

22 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 06/01/1926) Quý ông Cư và Tắc đắc lịnh Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đem Đại Ngọc Cơ đến Vĩnh Nguyên Tự thuộc đạo Minh Sư để thiết đàn cơ. Tại đây, Đức Thượng Đế đã giáng dạy đạo cho ông Lê Văn Lịch. Ông nầy là con trai của cụ Lê Văn Tiểng, Trưởng Lão Minh Sư, đã đắc đạo và thọ phong Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn. Khi còn ở thế cụ đã có di chúc tiên tri rằng: “Ngôi Vĩnh Nguyên Tự sau nầy sẽ có Thập Nhị Khai Thiên đến mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”.

23 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 07/01/1926) Đức Cao Đài Tiên Ông dạy quý ông Cư, Tắc, Sang đem Đại Ngọc Cơ đến nhà ông Lê Văn Trung ở Chợ Lớn cho Ngài dạy việc. Quý Ông ngần ngại nhưng không dám cãi lịnh. Khi đến nhà ông Trung, quý Ông trình bày tự sự. Ông Trung vui vẻ chấp thuận và cùng nhau thiết lập đàn cơ. Trong lúc chuẩn bị cầu cơ, nhiều phép lạ đã hiện ra. Trong đàn cơ nầy, Đức Thượng Đế dạy ông Trung phải hiệp cùng hai ông Cư, Tắc lo việc mở Đạo.

27 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 11/01/1926) Ông Lê Văn Trung đến viếng xã giao ba ông Cư, Tắc, Sang. Bốn Ông hiệp lại cầu cơ. Đức Thượng Đế giáng dạy ông Trung nhiều việc.

28 THÁNG 11 NĂM ẤT SỬU (DL. 12/01/1926) Quý Ông lại hội nhau cầu cơ. Thất Nương giáng. Quý Ông trách Thất Nương sao không cho quý Ông biết trước A.Ă.Â. là Đức Thượng Đế. Sau đó Lục Nương giáng mừng quý Ông đã được Đức Thượng Đế chọn làm môn đệ tiên phuông.

MÙNG 1 THÁNG 12 NĂM ẤT SỬU (DL. 14/01/1926) Đàn cơ ngày càng hấp dẫn, số người đến hầu ngày cũng đông thêm. Có ông Đốc học tên Đoàn Văn Bản cầu xin với Đức Thượng Đế cho Ông chấp bút. Ngoài ra, còn Bác sĩ Trí than phiền về sự không được chọn làm kẻ phò cơ. Cả hai Ông đều được Đức Thượng Đế khuyên dạy bằng thơ.

Tái cầu, có Thất Nương đến tiếp tục dạy đạo và khuyên nhủ quý Ông gắng công học đạo.

MÙNG 2 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 15/01/1926) Thi sĩ Quí Cao giáng cho biết, dù là phần hồn nhưng hiện tại cũng phải lo tu như quí Ông. Thi sĩ căn dặn, nếu muốn hỏi việc Thiên cơ, quý Ông nên hỏi ngay Thầy tức là Đức Thượng Đế.

MÙNG 8 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 21/01/1926) Nhiều vị Phật tử đến bạch hỏi Đức Thượng Đế về việc qui Tam giáo, hiệp Ngũ chi của Đ.Đ.T.K.P.Đ. nhiều câu nêu ra, nếu gặp khách phàm ắt khó trả lời cho trôi được, nhưng Đức Thượng Đế đã giáng cơ trả lời bằng thi phú rất rành mạch.

12 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 25/01/1926) Thất Nương, Lục Nương và Bát Nương giáng cơ cho thi dạy đạo. Riêng Lục Nương đã tiên tri về tiền kiếp và hậu vận của ông Cao Hoài Sang.

13 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 26/01/1926) Trước cảnh gia vong quốc phá, trước xiềng cùm nô lệ của giống nòi, trước cảnh đàn áp thẳng tay của nhà cầm quyền đô hộ đối với những nhà ái quốc, lòng yêu nước của quý Ông càng thêm sôi sục… Các Ông thiết đàn cơ, có Nhứt Nương, Lý Đại Tiên Trưởng và Đức Cao Đài Thượng Đế giáng cơ khuyên dạy quý Ông nên lo tu luyện. Nếu tu không đắc, Đạo không thành, khó mong cứu vớt giống nòi và nhơn loại. Đàn cơ nầy có mặt ông Lê Văn Trung.

14 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 27/01/1926) Quý Ông bạch hỏi Đức Thượng Đế và cách thờ phượng. Đức Thượng Đế dạy đến gặp ông Ngô Văn Chiêu để xem cách thức. Vì ông Chiêu là người được Đức Thượng Đế dạy Đạo từ lâu, nên quý Ông Trung, Cư, Tắc và Sang đồng tôn ông Chiêu làm anh cả.

RẰM THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 28/01/1926) Cuộc họp mặt và dự tiệc do ông Lê Văn Trung tổ chức gồm có 13 vị môn đồ đầu tiên của Đức Cao Đài Thượng Đế và 14 vị khác đã có hầu đàn cơ nhiều lần nhưng chưa được chính thức xem là đệ tử Cao Đài.

17 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 30/01/1926) Ông Lê Văn Trung thượng tượng thờ Thầy trọng thể hơn các môn đồ khác. Đức Thượng Đế giáng cơ dạy và chỉ cách thờ Quan Vân Trường, Phật Quan Âm và Lý Thái Bạch.

18 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 31/01/1926) Có vị tu sĩ đạo hiệu Thiện Minh muốn theo đạo Cao Đài mà còn do dự. Đức Thượng Đế giáng cơ rầy quở Ông nầy, đồng thời chấp thuận cho ông Trung, Cư, Tắc, Sang phải tập tánh nghiêm minh phòng sau dạy người.

20 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 02/02/1926) Ông Đốc học Đoàn Văn Bản hướng dẫn các vị giáo viên dạy học nơi trường Đa Kao đến hầu đàn. Tất cả đều được Đức Thượng Đế giáng dạy và chỉ bảo quý Ông về nghĩa vụ của mình phải thực thi trước khi muốn dạy trẻ con.

22 THÁNG CHẠP NĂM ẤT SỬU (DL. 04/02/1926) rước khi đưa ông Táo theo tục lệ, quý Ông cầu cơ và thiết lễ tiễn đưa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật triều thiên. Có Thất Nương và Lý Đại Tiên Trưởng giáng dạy và truyền lịnh là đêm giao thừa Bính Dần, quý Ông phải hội hiệp đông đủ. Và từ nay tới bửa đó, phải tận diệt tâm phàm, dọn mình trong sạch để thọ lịnh Thượng Đế. Ngài cho biết đàn cơ đêm giao thừa là tối trọng khởi đầu cho cơ bảo tồn…

Đến đây chấm dứt phần sơ lược về việc xây bàn của quý Ông Cư, Tắc và Sang trong năm Ất Sửu (1925). Còn nhiều việc thuộc về năm Đinh Sửu (1937), Kỷ Sửu (1949), Tân Sửu (1961), chúng tôi sẽ lần lượt sưu tầm để cống hiến quý vị đọc giả xin đón xem những số sau phát hành như thường lệ….

BAN BIÊN TẬP VÀ THÔNG TIN
CƠ QUAN PHÁT THANH PHỔ THÔNG GIÁO LÝ
SƯU TẦM

 

Trích từ THÔNG TIN - Xuân Quý Sửu 1973 trang 33 – 40. Do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành 02-1973.◙

 


 

 


Đôi Liễn Phạm Môn

C.1

Phạm giáo tùy nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp.

梵 敎 隨 元 救 世 度 人 行 正 法

C.2

Môn quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

門 權 定 會 除 邪 滅 魅 護 眞 傳

Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Hộ Pháp Đường thường gọi là đôi liễn Phạm Môn, vì có hai chữ đầu là PHẠM MÔN. Đôi liễn nầy cũng thấy treo phía sau ba cái ngai của Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh tại Tòa Thánh.

Đôi liễn Phạm môn biểu thị tôn chỉ của Phạm Môn: Cửa Phật.

GIẢI THÍCH:

* Phạm: Phật. Lưu ý: Chữ Phạm 梵 là Phật, khác với chữ Phạm 范 là họ Phạm. Giáo: dạy. Tùy: theo. Nguơn: chữ Nguơn của câu 1 đối với chữ Hội của câu 2. Nguơn Hội là chỉ những khoảng thời gian dài. Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim:

1 Nguơn = 12 Hội.
1 Hội = 30 Vận.
1 Vận = 12 Thế.
1 Thế = 30 năm.

Cứu thế: cứu đời. Độ nhơn: cứu giúp người đời. Hành: làm. Chánh pháp: giáo lý chơn chánh.

C.1: Phật dạy, tùy theo thời gian mà cứu độ người đời, thực hành chánh pháp.

* Môn: cửa, chỉ cửa Đạo. Quyền: quyền hành. Trừ tà diệt mị: diệt trừ tà mị yêu quái. Hộ: bảo vệ che chở. Chơn truyền: giáo lý chơn thật truyền lại.

C.2: Quyền hành nơi cửa Đạo là định ra cái khoảng thời gian để diệt trừ tà mị yêu quái, bảo hộ chơn truyền.

 

Trích từ CÁC ĐÔI LIỄN. Do Huỳnh Văn Sinh & Chánh Trị Sự Bùi Thanh Xuân & Luật Sự Nguyễn Văn Thăng & Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng sưu tầm và giải thích.◙


 


 

 

TRƯỚC VÀ SAU TẾT NGUYÊN ĐÁN TÂN SỬU (2021)


 

   

TRẤN ĐẠO ÚC CHÂU

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

CHÂU ĐẠO NEW SOUTH WALES

Cửu Thập Lục Niên

TỘC ĐẠO SYDNEY

TÒA THÁNH TÂY NINH

114-118 King Georges Rd,
WILEY PARK, NSW 2195,
AUSTRALIA

THÁNH THẤT NEW SOUTH WALES

Tel: +61 2 9740 5678
Mob. 0414 58 33 94
Email: thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au

THÔNG BÁO

CHƯƠNG-TRÌNH CÁC NGÀY LỄ VÍA
TRƯỚC VÀ SAU TẾT NGUYÊN ĐÁN TÂN SỬU (2021)

Tộc-Đạo Sydney, Châu-Đạo New South Wales, trân trọng thông báo chương-trình các ngày lễ, vía trước và sau Tết Nguyên-Đán TÂN SỬU (2021) và kính mời toàn thể chư Đạo-Hữu, Đạo-Tâm về chầu lễ Đức Chí-Tôn, Đức Phật-Mẫu cùng các Đấng Thiêng-Liêng tại Thánh-Thất New South Wales, số 114-118 King Georges Rd, Wiley Park, NSW 2195, theo lịch trình như sau :

1)- Lễ Tiễn đưa Cửu Huyền Thất Tổ & Chư Tiên Linh và Chư Phật, Tiên, Thánh, Thần triều bái Ngọc Hư Cung: lúc 06 giờ chiều, ngày 24 tháng Chạp, Canh Tý (dl. Thứ Sáu, 05-02-2021).

2)- Lễ rước Cửu Huyền Thất Tổ và Chư Tiên Linh: lúc 5 giờ chiều, ngày 30 tháng Chạp, Canh Tý (dl. Thứ năm, 11-02-2021).

3)- Lễ Giao-Thừa, Cung Nghinh Chư Phật, Tiên, Thánh, Thần đáo TÂN NIÊN: Thượng Phướn, cúng Tý Thời, đêm 30 tháng Chạp, Canh Tý, rạng Mồng 1 tháng Giêng Tân Sửu (tức 12 giờ khuya đêm Thứ năm, 11-02-2021). Xin Chư Đạo-Hữu, Đạo-Tâm cầu nguyện cho "Cả Thế Giới Hòa Bình, thoát ách, tiêu tai, chúng sanh thoát ly khổ nạn". Thỉnh lộc. thỉnh phong bao Bảo-Sanh, Nhơn-Nghĩa, Đại-Đồng (Lì-Xì), và cùng nhau hân hoan Chúc Mừng Năm Mới Tân Sửu An Lạc.

4)- Lễ KHAI THƯỢNG NGUƠN TÂN SỬU (Mồng 1 Tết Nguyên Đán, dl. Thứ Sáu, 12-02-2021): Cúng Đức Chí Tôn đầu năm Tân Sửu, Ngọ Thời, Khai U Minh Chung, Khai Di Lặc Chơn Kinh.

5)- Lễ Cúng Tất ngày mồng 3 tháng giêng Tân Sửu (dl. Chủ Nhựt, 14-02-2021): Cúng Cửu Huyền Thất Tổ & Chư Chơn Linh và Cúng Đức Chí Tôn vào Thời Ngọ (12 giờ trưa).

6)- Lễ cúng Sao Hội: lúc 6 giờ chiều, Mồng 8 tháng Giêng Tân Sửu, tại Điện Thờ Phật Mẫu NSW.

7)- Đại-Lễ Vía Đức Chí-Tôn: Dậu Thời, mồng 9 tháng Giêng, Tân Sửu (DL,Thứ Bảy, 20-02-2021).

8)- Đại-Lễ Thượng-Nguơn cập Kỷ Niệm Chư Vị Đầu Sư Cửu Trùng Đài: Dậu Thời, Rằm tháng Giêng Tân Sửu (DL. Thứ Sáu, 26-02-2021, lúc 6 giờ chiều).

Trước thềm năm mới, Thay mặt Tộc Đạo và các Bàn Trị Sự liên Hương, kính chúc quý quyến Chư Đạo Hữu, Đạo Tâm hạnh hưởng tràn đầy Hồng Ân của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng trong suốt năm Tân Sửu (2021).

Nay kính bạch.

 

Thánh Thất New South Wales, ngày 15 Tháng Chạp năm Canh Tý
(DL.27-01-2021)

Qu. Đầu Tộc Đạo Sydney

 

Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp

 

 


 

 

TẾT NGUYÊN ĐÁN TÂN SỬU (2021) ĐTPM-NSW


 

   

TRẤN ĐẠO ÚC CHÂU

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

CHÂU ĐẠO NEW SOUTH WALES

Cửu Thập Lục Niên

SỞ PHƯỚC THIỆN SYDNEY

TÒA THÁNH TÂY NINH

84 Wattle Ave,
CARRAMAR, NSW 2163,
AUSTRALIA

ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU NEW SOUTH WALES

Tel: +61 2 9788 7574 (M) 0404 223 973
Email: nguyencg@yahoo.com
ABN: 48 023 632 519

CHƯƠNG-TRÌNH SINH-HOẠT
TẾT NGUYÊN ĐÁN NĂM TÂN-SỬU (2021)

Thay mặt Bàn Cai-Quản Sở Phước-Thiện Sydney và Điện-Thờ Phật-Mẫu New South Wales, Tiện muội trân trọng kính thông-báo đến chư Thiện Nam Tín Nữ Chương-trình hành-lễ Tết Nguyên-Đán năm Tân-Sửu (2021) tại Điện-Thờ Phật-Mẫu NSW, số 84 Wattle Ave, Carramar, NSW. 2163:

1)- Lễ đưa Chư Thánh vào lúc 12 giờ trưa ngày Thú Sáu, 05.02.2021 (Âm lịch 24 tháng Chạp năm Canh-Tý).

2)- Lễ rước Chư Thánh vào lúc 12 giờ trưa ngày Thứ Năm, 11.02.2021 (Âm-lịch 30 tháng Chạp năm Canh-Tý).

3)- Đại-Lễ Cung-nghinh Đức Phật-Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương vào lúc 12 giờ trưa ngày mùng 1 Tết Tân-Sửu (DL.Thứ Sáu, 12.02,2021).

4)- Điện-Thờ Phật-Mẫu NSW sẽ mở cửa suốt 3 ngày: mùng 1, mùng 2 và mùng 3 tháng Giêng năm Tân-Sửu để chư Thiện Tín đến đãnh lễ Đức Phật-Mẫu và các Đấng Thiêng-Liêng.

5)- Lễ Cúng Tất vào lúc 12 giờ trưa ngày mùng 3 tháng Giêng năm Tân-Sửu (DL Chúa-Nhựt,14.02.2021).

6)- Lễ cúng Sao Hội vào lúc 18 giờ chiều ngày Mùng 8 tháng Giêng, năm Tân-Sửu, (DL, Thứ Sáu, 19.02.2021).

Sự nhiệt-tình tham dự của chư Thiện Tín vào chương-trình sinh hoạt trên đây là niềm khích-lệ lớn-lao, hổ-trợ cho Bàn Cai-Quản chúng tôi trên bước đường hành Đạo giúp Đời.

Nhân dịp Tân Xuân Nguyên-Đán Tân-Sửu, Bàn Cai-Quản Sở Phước-Thiện và Điện-Thờ Phật-Mẫu New South Wales cầu xin Ơn trên Đức Chí-Tôn, Đức Phật-Mẫu cùng các Đấng Thiêng Liêng ban bố tràn đầy hồng ân cho toàn thể gia-quyến chư Thiện Tín được thân tâm thường lạc và phước lộc viên dung.

Nay kính.

 

Điện-Thờ Phật-Mẫu NSW, ngày Mùng 1 tháng Chạp năm Canh-Tý
(Dl. 13.01.2021)

TM. Bàn Cai-Quản Sở Phước-Thiện & ĐTPM/NSW
Chủ-Trưởng

 

Nguyễn Thị Tài

 

 


 

 


 

VÀI NÉT SINH HOẠT ĐẠO SỰ CỦA TỘC ĐẠO SYDNEY

 

Gần cả năm dài đại dịch Covid-19 lúc ẩn, lúc hiện khắp mọi nơi trên hành tinh của chúng ta. Mọi sinh hoạt trong tình trạng dè chừng, khiến ai nấy hoang mang. Đó cũng là cái cớ có duyên do để một số ít người biện bạch cho việc “giữ an toàn công cộng” cho mọi người, nên e ngại việc về Thánh Thất lễ bái. Trong khi một số khác nhớ đến lời khuyên dạy của Đức Phật Quan Âm (1), nên đã không quản ngại đường xá xa xôi và việc lây truyền dịch bịnh, miễn thận trọng giữ đúng luật lịnh cập nhật của Chính quyền ban hành. Hơn nữa, Đức Hộ Pháp đã hằng thuyết về lòng Hiếu Hạnh của con cái đối với Đức Chí Tôn. Ngài nói: "Nếu nền Đạo của Đức Chí Tôn phài tùng theo sự nồng lạnh mà thạnh hay suy, thì đây về sau, Bần Đạo tưởng nếu Trời mưa miết ắt diệt Đạo Cao Đài nầy đặng, có phải?" (LTĐCĐHP, Q.2, Mậu Tý,1948).

Với nhận thức trên, phần nhiều đồng đạo vẫn về Thất sinh hoạt, làm công quả, cúng kính trong các Lễ Hội theo lịch Đạo hoặc khi được Lễ Vụ Tộc Đạo và các Bàn Trị Sự ân cần thông báo.

Trong năm 2020 vừa qua, lẽ ra Tộc Đạo Sydney lãnh tổ chức Đại Hội Tín Đồ Cao Đài Trấn Đạo Úc Châu. Song, vì ảnh hưởng đại dịch Covid-19, nên rất tiếc không thể thực hiện được. Hy vọng một dịp khác, mưa thuận gió hòa, đồng đạo gặp lại nhau hàn huyên, trao đổi đạo sự và kinh nghiệm hành đạo phổ độ chúng sanh, hầu chu toàn nhiệm vụ Ơn Trên giao phó.

Về Lễ Vụ, các ngày Sóc Vọng, Ngươn Hội, lễ Thành Hôn, lễ Tang, Tuần Cửu, Tiểu và Đại Tường... đồng đạo cố gắng sắp xếp thời giờ đến Thánh Thất NSW, Điện Thờ dự lễ. Theo đó, các nghi thức cúng kiến vẫn giữ được vẻ trang nghiêm, thành kỉnh và có cơ hội được nghe đọc Thánh Ngôn, Thánh Giáo cùng Lời thuyết Đạo của chư Tiền Khai, để học Đạo, trau giồi hạnh đức cho khỏi uổng phí kiếp sinh may duyên gặp Đạo.

Về Công Vụ, mấy tháng cuối năm nhiều bận rộn, chúng tôi thấy không thể không nhắc đến việc thực hiện trên 200 quyển lịch Đạo do ĐH Huỳnh Trọng trình bày, ĐH Thiện Chiến in ấn và nhiều vị khác xếp đóng, như gia đình ĐH Khi, Cẩm Vân, Xuân, Ngọc Trang, Tuấn, CTS Điệp, PTS Mai Hạnh, TS Yến Mai, v.v... Trong khi, ĐH Xuân trang hoàng cho Cây Mai mừng Xuân, với sự tiếp tay của TS Yến Mai, đã cùng ĐH Uyên Trang gắn hoa mai trên cành. Thêm vào đó, công quả hỉ hiến các phong bao Bảo Sanh, Nhơn Nghĩa, Đại Đồng của gia đình ĐH Cẩm Vân-Khi thay lời cầu xin chúc phúc cho chư Đạo Hữu, Đạo Tâm trong năm Tân Sửu (2021). Còn việc tạo phong quang cho Thánh Thất trong dịp Tết, Hiền Đệ Huỳnh Trọng đã cắt cỏ, tỉa cây, cắt hàng rào gọn gàng thẳng nếp, với sự tiếp tay của HĐ Tâm và HH Nghiệp, HĐ Nhân, HĐ Năng cùng sự yểm trợ ẩm thực của HM Yến Mai, Tuyết Hằng và Ngọc Tuyền. Trong vài ngày tới đây, các bạn Đạo sẽ làm vệ sinh tổng quát toàn bộ trong, ngoài Thánh Thất để chuẩn bị mừng Xuân Tân Sửu.

Thưa chư Hiền, khi ghi vội đôi giòng, dĩ nhiên không đủ được. Xin vui lòng thông cảm hỉ xã cho.

Tộc Đạo ước mong chư Hiền quan tâm chung tay đến mọi sinh hoạt của Thánh Thất, ngôi nhà chung của tất cả chúng ta, để việc hoằng hóa Đạo Trời không vì bất cứ lý do gì làm gián đoạn hoặc trì hoãn.

Kính chúc chư Hiền thân tâm thường an lạc.

TNN

 

(1) Đức Quan Âm dạy: "Các em phải lo cúng kiếng thường: Một là tập cho chơn thần được gần gủi với các Đấng Thiêng Liêng cho đặng xán lạn; Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh; Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên; Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ. Các em nhớ à". (TNHT, Q.2, trang 193).

 

 


 

 


 

SỰ TÍCH BỐN LOẠI BÁNH TRONG NGÀY TẾT


Mộc Lan sưu tầm

 

Trong ngày Tết Nguyên đán của chúng ta lúc nào cũng có 4 loại bánh này.

• Bánh Tét

• Bánh Ít

• Bánh Dầy

• Bánh Chưng.

 

 

Vì sao vậy?

Bởi vì 4 loại bánh này làm từ Ngũ Cốc, mà ngũ cốc trong Trời Đất không chi quí hơn, ngũ cốc là thực phẩm chánh nuôi sống loài người, nên Hoàng Tử Tiết Liêu con trai của Vua Hùng thứ 6 nghĩ ra và làm dâng lên Vua, trước cúng Tổ Tiên sau để Vua dùng.

Vua hỏi ý nghĩa thì được Hoàng Tử giải thích rằng;

Bánh Dầy hình tròn tượng chung cho Trời là Cha.

Bánh Chưng hình vuông tượng chưng cho Đất là Mẹ.

Nhà Vua thấy Hoàng Tử có lòng hiếu hạnh lại biết kỉnh thờ Trời Đất nên rất hài lòng và ban truyền cho chúng dân đến ngày Nguyên đán làm 2 loại bánh này mà dâng cúng Tổ Tiên.

Về sau dân chúng cữ Tiết Liêu gọi chạy là Tết nên mới có câu Tết Nguyên đán.

Ở miền Bắc bánh Dầy bánh Chưng vẫn còn giữ đúng hình dạng như thở xưa.

Còn ở miền Nam thì 2 loại bánh Dầy và bánh Chưng đã được đổi biến dạng từ khi thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

Chúa Nguyễn ở phương Nam, muốn lập một quốc gia riêng biệt đối với Chúa Trịnh ở miền Bắc, nên Chúa Nguyễn truyền lịnh sửa đổi phong tục của dân miền Nam cho khác miền Bắc.

Do đó, bánh Dầy trở thành bánh Ít.

Bánh Chưng trở thành bánh Tét.

 

Học và trích soạn trong Cao Đài Từ Điển quyển 1. Soạn giả: Đức Nguyên.◙

 

 


 


         
   

THỨ SÁU MƯA XUÂN

 
   

 

Xứ Úc mùa khô trong nắng Xuân,
Trời thương cho những hạt mưa Xuân.
Cỏ cây tươi mát ngày Xuân đẹp,
Màu lá hương hoa lẫn bụi trần.

 

Trần hoàn mưa gió của thiên nhiên,
Đi ở theo tâm chẳng trói phiền.
Vạn vật cùng chung, nguồn nước sống,
Trời sanh đất dưỡng, hạnh từ duyên.

 

Từ duyên đắc quả mở lòng thương,
Đáp nghĩa mưa Xuân mỗi bước đường.
Nhẹ gót cửa Không, tầm gốc Đạo,
Xuân chiều hoa cảnh, tuyệt trần hương.

 

Hương sắc vườn Xuân tâm ý Xuân
Bầu thơ nhàn rỗi sống thanh bần.
Trăm năm hóa kiếp về nguyên cội,
Chơn tánh vui cùng với cảnh Xuân.

   

Thảo Vân ngày mưa Xuân xứ Úc, 20-10-2017

Ái Nhân

   

Hôm nay thứ sáu trời mưa tôi viết vài vần thơ, gởi theo những giọt mưa Xuân về đầu nguồn sanh ra vạn vật.

         
       
       
 

THƠ XUÂN NĂM TÂN SỬU
THÁNH THẤT N.S.W. 9/12/2021

 
 

 

Thong dong trong cõi ta bà,
Cành hoa hé nở chiều tà nhẹ buông.
Tầm xuân điểm nhuỵ yêu thương,
Lặng tâm ta thấy Thiền buông chốn này.
Ngồi đây trong cõi mê say,
Ngàn năm vọng lại mới hay vô thường.

 

Mộc Lan

 
       
       
 

ĐÊM XUÂN

 
 

 

Mơ vầng trăng rạng của ngàn xưa,
Một cảnh Trời chơn văn bút ưa.
Đức tánh nhà tu, ngoài lợi thế,
Bầu thơ nhân ái, cửa danh chừa.

 

Đường trần diệu vợi mãi chờ trông,
Sông nước gió thương chạnh cõi lòng.
Nghiêng bóng trăng soi tình cố quốc,
Mơ về chốn cũ gốc Nam Phong.

 

Suối ngàn mây thảm giấc mơ Xuân,
Sự thế đổi thay gió bụi trần.
Đêm lạnh thuyền tâm về cảnh tịnh,
Cuộc tàn có lúc biệt người thân!

 

Trả lại dòng đời, qua lối Xuân,
Lối Xuân chơn tánh,đẹp chơn thần.
Xuân ban từ ái tình nhơn loại,
Tình ấy ngàn năm tạc bến trần.

 

Thử hỏi vì sao luôn ước mơ?
Ước mơ thường chẳng đến bao giờ!
Mơ trong Xuân mộng, tình Xuân đẹp,
Nét đẹp cuộc đời với tuổi thơ.

 

Danh lợi đường mây trong cõi mơ,
Việc không đến được vẫn mong chờ!
Chuyện đời khó hiểu cho cùng lý,
Tư tưởng con người, ảo mộng mơ.

 

Nước chảy hoa trôi về bến Xuân,
Non sông ngàn dặm cách xa lần.
Xuân đây buồn nhớ, Xuân hồn nước!
Cô quạnh đường chiều trong gió Xuân.

 

Gió Xuân se lạnh mảnh tình dâu!
Quyền lợi, áo cơm, nhuộm cõi sầu.
Cửa thế khó qua, con ý mã,
Hình danh sắc tướng, nhử mồi câu.

 

Câu thơ tâm mở nhẹ nhàng Xuân,
Xuân tánh thanh cao ý thoát trần.
Xuân Đức ái nhân, tình khoáng đạt,
Bao la bể rộng của Trời Xuân.

 

Trời Xuân non nước con thuyền vĩnh sanh…

   

Thảo Vân đêm Xuân tịch mịch xứ Úc, 12-10-2017

Ái Nhân

         

 


 

 

NGÀY XUÂN ĐẾN CÕI CỘNG SINH


Ái Nhân

 

Đi thăm một kiếp đoạn trường,
Cửa Hiền gởi phận, thuyền nương sóng trần…

Vào cõi lòng ta. - Kiến diện ta,
Tế bào, sinh vật ở chung nhà.
Vui buồn đau yếu chia bầu khổ,
Cộng nghiệp cùng nhau mỗi bước qua.
Lẽ sống vi sanh, tình trái chủ,
Đoạn căn oan nghiệt, quả duyên Dà.
Cõi Trời thanh tịnh nguồn chơn Đạo,
Tỉnh giấc mộng trần. - Ta với ta.

Vào cõi cộng sinh lắm hữu tình,
Vì rằng: vạn vật một nguồn sinh.
Rừng xanh núi thẳm trong Trời đất,
Tĩnh mịch nguồn ân đã tạo hình.
Sanh diệt từng giây, theo quả kiếp,
Khổ đau thân xác, bước đời kinh.
Đoạn trần giải khổ chiều Xuân lệ,
Kịch bản lần theo thấy được mình.

Mỗi sáng tôi ra quét lá vườn,
Hỏi rằng: sao mệt, chuyện trần vương?
Chổi Tiên phủi sạch tiêu phàm tánh,
Gậy Thánh đỡ chân mỗi dặm đường.
Cảnh trí dòng đời, yêu ghét hận,
Sân chơi dâu bể, đoạn hoài thương.
Cộng trừ nhân quả đem cân thử,
Giả cảnh phù sinh mộng thế thường.

Mỗi bước chân đi về bến tâm,
Mong rằng: tôi đến cõi Trời tâm.
Trong thân tâm có. - Sao mà khó,
Khó bởi đường xa. - Cảnh thật tâm.
Nét tục dễ chi, qua bến tục,
Tiên, phàm đôi nẻo, mở nguồn tâm.
Tâm sanh ý thật, chơn tình thật,
Như Đức Trời cao, Thánh chất tâm.

Thảo Vân mùa Xuân xứ Úc.
Ngày 22-09-2017
Ái Nhân

 

LỜI CỦA NGƯỜI VIẾT:

"Ngôn ngữ chỉ là cách để diễn tả nỗi lòng của người khách trần, ý văn như những giọt nước còn đọng lại bên chiếc lá Thu.

Miền trần mượn chiếc lá Thu, đưa giọt nước đời về lại rừng xanh nguồn thẳm".

Ái Nhân

Nhân có một người bạn Đạo, đã có nhã ý hỏi tôi về ý nghĩa của bài thơ. Người viết nầy xin được trả lời rằng:

Đây là một bài thơ Đường luật viết theo "Điệu Phú Đắc", được mở đầu bằng một câu thơ lục bát. Bài thơ gồm có bốn đoạn thơ Đường luật. Tổng cộng là 34 câu.

Bài thơ nầy nói về tâm sự của một người khách trần trên bước đường chiều dừng chân bên cầu Trần khổ, tìm về nguồn Đạo trong cõi lòng sâu thẳm của chính mình. Mà người viết muốn thi vị hóa cuộc đời trần tục theo cái kiếp nhân sinh.

Xin được giải nghĩa với cái nhìn thoát ý của câu văn.

 

GIẢI NGHĨA:

Tựa bài viết "Ngày Xuân Đến Cõi Cộng Sinh":

Gió Xuân man mác đường trần, ta đi đến cõi cộng sinh trong bốn mùa thay lá.

Sao gọi là cõi cộng sinh, xin được thưa rằng:

Từ lúc ta bước vào sân chơi dâu bể trong cõi cộng sinh. Ta chịu ơn vay mượn mảnh hình hài cát bụi, nơi tinh của Cha, huyết của Mẹ, nếu ta không có hai giọt máu mủ đó thì không thể tượng hình nên con người. Cho đến khi ta lớn khôn, có trí não phán xét mọi điều hư thật trong xã hội lắm nhiều tang thương. Ta lại phải chịu ơn vay mượn của xã hội cộng đồng nhơn loại, từ sự giáo dục đời sống tinh thần, cho đến miếng cơm manh áo đời sống vật chất.

Nhìn gần hơn nữa trong một cơ thể, xác thân của ta có biết bao nhiêu tế bào phải sống cộng sinh trên đường sanh hóa. Đi theo một luật định thiên nhiên sanh tử. Khi hình hài khí chất của ta hết sanh lực, có nghĩa là sức khoẻ của ta cùng kiệt không còn đủ sức tiếp đặng khí sanh quang nuôi dưỡng thi hài, lúc đó ta phải lìa bỏ xác thân để tiếp tục đi trên con đường tấn hóa luân hồi.

Chiếc lá Đông về cội trở lại cái thuở ban đầu, nguồn gốc sanh ra vạn vật.

Thiên nhiên vạn vật hữu tình sanh hóa trong một cõi cộng sinh.

C 1-2:

Đi thăm một kiếp đoạn trường,
Cửa Hiền gởi phận, thuyền nương sóng trần.

Đi đến cõi trần vào trong cái kiếp nhân sinh với một mảnh hình hài cát bụi, là một đoạn đường đau thương. Nơi cửa Tu chơn gởi phận mình, định duyên, định nghiệp Hiền, nương theo lượn sóng trần lần qua bờ giác.

C 3-4:

Vào cõi lòng ta. - Kiến diện ta,
Tế bào, sinh vật ở chung nhà.

Đi vào trong tận cùng của cõi lòng sâu thẳm để nhìn thấy được mình. Một tiểu vũ trụ bao la trong một cơ thể hữu vi với những tế bào sanh diệt từng giây từng giờ.

C 5-6:

Vui buồn đau yếu chia bầu khổ,
Cộng nghiệp cùng nhau mỗi bước qua.

Từ lúc tế bào gốc tạo hình cho đến lúc phân chia. Ta nhìn thấy từng tế bào sinh vật sống cộng sinh trong cái tiểu "vũ trụ nhân sinh", trong đó có những tế bào lành tính và tế bào ác tính. Do một lực vô hình làm thay đổi tế bào phát triển. Lực tác động đó, ta không biết được nguyên căn của chuỗi di truyền. Có thể là từ nghiệp lực của quả kiếp xa xưa mà ta đã vay mượn. Ta không bao giờ biết trước những cơn phong vũ bất chợt đến với mình trong nỗi khổ đau bệnh.

Dầu cho lành tính hay ác tính vẫn phải sống cộng sinh, chung cùng một hơi thở như nhau và đi theo bước chân vô định cho hết một kiếp trần.

Đó là kịch bản của ta đã hình thành từ bao tiền kiếp.

C 7-8:

Lẽ sống vi sanh, tình trái chủ,
Đoạn căn oan nghiệt, quả duyên Dà.

Trong những kiếp sanh của ta đã vay mượn biết bao nhiêu oan trái, những oan nghiệt trên bước đường đời trần tục. Ta phải có đủ nghị lực để cắt dây oan nghiệt. Con đường Tu chơn tri khổ nghiệp chướng đắc qui Phật vị. Quả duyên là do ta định phận trong một kiếp Tu.

C 9-10:

Cõi Trời thanh tịnh nguồn chơn Đạo,
Tỉnh giấc mộng trần. - Ta với ta.

Ở nơi cõi Trời thanh tịnh ta cảm nhận được nguồn Chơn Đạo trong cõi lòng sâu thẳm của ta.

Một giấc mộng trần nay đã tỉnh say! Ta trở về sống với nguồn Đạo trong cõi lòng ta. Nương theo tánh linh mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho ta từ cái thuở sơ khai hằng sống.

C 11-12:

Vào cõi cộng sinh lắm hữu tình,
Vì rằng: vạn vật một nguồn sinh.

Bước vào cõi cộng sinh thiên nhiên vạn vật thật đáng yêu, lắm hữu tình, như cảnh Trời cao thẳm ngàn cây reo gió nhạc. Trời đất ôm cả thiên nhiên vạn vật vào lòng, trong khối Thánh Đức thương yêu một nguồn sanh hóa.

C 13-14:

Rừng xanh núi thẳm trong Trời đất,
Tĩnh mịch nguồn ân đã tạo hình.

Thiên nhiên bao la tĩnh mịch, nguồn ân Trời đất ban cho Vạn vật sự sống, đi theo tánh Đức Chí Linh hầu trở về ngôi xưa cựu vị của mình.

C 15-16:

Sanh diệt từng giây, theo quả kiếp,
Khổ đau thân xác, bước đời kinh.

Nhìn lại xác thân, ta thấy từng tế bào thay đổi, sanh hóa theo quả kiếp của ta. Nỗi thảm khổ đau bệnh của xác phàm, kinh sợ hải hùng trong một kiếp sanh con người.

C 17-18:

Đoạn trần giải khổ chiều Xuân lệ,
Kịch bản lần theo thấy được mình.

Bóng Xuân chiều là dòng lệ đổ, nỗi thảm khổ của nhơn sanh, phải có đủ nghị lực thoát vòng trần tục qua cầu giải khổ. Lần theo kịch bản của mình đã tạo thành từ bao tiền kiếp, mong ra sẽ thấy được mình trong quả kiếp xa xưa.

C 19-20:

Mỗi sáng tôi ra quét lá vườn,
Hỏi rằng: sao mệt, chuyện trần vương?

Tôi thường có một thói quen hay ra ngoài sân quét lá vườn vào mỗi buổi sáng sớm, quét lá cây như quét sạch lòng trần. Vần thơ trôi theo cảm xúc bên chiếc lá rơi.

Tôi tự hỏi vì sao bước vào sân chơi dâu bể vương vấn chuyện trần thế tục? Nợ đời duyên Đạo gánh tình là đâu? Thật khó mà cạn phân cho được!

C 21-22:

Chổi Tiên phủi sạch tiêu phàm tánh,
Gậy Thánh đỡ chân mỗi dặm đường.

Mượn chổi Tiên phủi sạch lòng trần phàm tánh. Nương nhờ gậy Thánh đỡ bước chân vô định, trên những chặng đường gió bụi, cái gió bụi mịt mờ của cảnh đời khổ đau ly biệt.

C 23-24:

Cảnh trí dòng đời, yêu ghét hận,
Sân chơi dâu bể, đoạn hoài thương.

Cõi trần là một cảnh trí của dòng đời yêu ghét hận. Vì bởi ở nơi lòng ta biết bao thay đổi,có những lúc miệng thì ừ mà lòng không thuận, có những khi lòng thì thuận mà miệng lại chối từ. Trí phàm, tánh tục, sự thương yêu ghét hận đã cột ta trong nghịch cảnh bể khổ trần ai.

Rõ là một cảnh bể dâu, đòi đoạn lòng ta rối rắm nhớ nhung, hợp tan ly biệt. Khúc sanh ly là những u buồn hoài vọng xót thương, để lại trong lòng cho kẻ ở người đi về một phương trời xa xăm viễn mộng.

C 25-26:

Cộng trừ nhân quả đem cân thử,
Giả cảnh phù sinh mộng thế thường.

Kiếp sanh của ta là một bài toán cộng trừ nghiệp căn nhân quả. Thế gian nầy là cảnh giả như giấc mộng đường mây, như ánh trăng qua cửa, như bóng nắng dưới cây. Chợt thấy đó! Rồi lại mất đó! Bước chân con người rồi cũng chôn theo gió bụi thời gian của dòng đời vô tận.

C 27-28:

Mỗi bước chân đi về bến tâm,
Mong rằng: tôi đến cõi Trời tâm.

Mỗi một bước Tu chơn, là mỗi bước chân cố gắng đi về nơi cõi lòng ta. Mong rằng mình sẽ đi đến cõi Trời thanh tịnh và sống trong khối Thánh chất thương yêu vô tận của Trời đất.

C 29-30:

Trong thân tâm có. - Sao mà khó!
Khó bởi đường xa. - Cảnh thật tâm.

Trong tấm thân cát bụi của ta hằng có chơn linh của Đấng Tạo Hóa ban cho ta. Mà sao ta lại khó gần, khó thấy nó đặng! Vì bởi cái ngoại cảnh dòng đời nó lôi cuốn ta đi vào chốn thị phi đen trắng.

Nỗi khó khăn đó dường như xa lắm! Xa xăm mịt mờ đểđi đến cảnh chơn thật của lòng ta.

C 31-32:

Nét tục dễ chi, qua bến tục,
Tiên, phàm đôi nẻo, mở nguồn tâm.

Nét tục tánh phàm của ta, đã làm cho ta khó đi qua khỏi bến trần khổ hải. Tiên, phàm hai nẻo. Mở đặng lòng mình hay không là do ở nơi ta. Chỉ có lòng ta hiểu, tâm ta tìm mà cảm nhận được đi trên con đường giải thoát.

C 33-34:

Tâm sanh ý thật, chơn tình thật,
Như Đức Trời cao, Thánh chất tâm.

Lòng ta sanh ý thật, thì tấm chơn tình kia mới chơn thật. Chơn thật với lòng mình và chơn thật với nhơn sanh. Sự chơn thật như nguồn Đức Chí Linh Thánh chất trọn lành.

Ngôn ngữ chỉ là cách để diễn tả nỗi lòng của người khách trần, ý văn như những giọt nước còn đọng lại bên chiếc lá Thu.

Miền trần mượn chiếc lá Thu, đưa giọt nước đời về lại rừng xanh nguồn thẳm. Những mong gởi khách may duyên đến người thiện đức tìm về cõi lòng chơn thật của chính mình. Mà mỗi người, mỗi cảnh nỗi niềm riêng.

Hay gọi đó, là duyên Tri ngộ!

Thảo Vân đêm Xuân tịch mịch xứ Úc, 15-10-2017
Ái Nhân

 

 


 

 

XUÂN TÂN SỬU 2021

Mộc Lan

 

Mang thân là con của Đấng Cao Đài Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Lòng thấy khắc khoải khi Xuân Tân Sửu 2021 về, gợi nhớ lại năm Ất Sửu - 1925 vào thời 3 vị tiền bối Vọng Thiên Cầu Đạo.

Đó là:

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc,
Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư,
Thượng Sanh Cao Hoài Sang.

Tính đến nay cũng vừa tròn 96 năm, mặc dù Lễ Khai Ðạo chính thức vào ngày rằm tháng mười năm Bính Dần (Dl. 19/11/1926) tại Chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén) Tây Ninh.

Thầy lại mượn một sắc dân nhỏ nhít của hướng Á Đông là An Nam ta đặng làm trọn lời Tiên tri.

"Đạo xuất ư Đông".

Vì thế trong một dịp Đức Chí Tôn nói chuyện với Hòa Thượng Như Nhãn có dạy rằng:

"Như Nhãn hiền đồ, Thầy không muốn nói với con bằng tiếng Hớn ngôn, vì tiếng An nam từ đây Thầy cho là chánh tự đặng lập Ðạo của Thầy, nên buộc phải nói rõ ràng với con". (*1)

Thầy đã đến và ban cho dân tộc Việt Nam hạt giống yêu thương đó là Bác Ái và Công Bình để cứu giúp nhân loại trong cơn đói lã của tâm hồn.

Như vậy, sứ mạng của người Tín Hữu Cao Đài nói chung là phải đem hoàn thuốc linh đơn "LUẬT THƯƠNG YÊU QUYỀN CÔNG CHÁNH" đến tận tay các bạn đồng sanh cùng nhìn nhận Đấng Thượng Đế là Cha chung của nhân loại.

Sự truyền bá không phân biệt Nam hay Nữ.

"Phần các con truyền đạo kỳ Phổ Ðộ nầy cũng lắm nặng nề; bao nhiêu Nam tức bao nhiêu Nữ; Nam biết thành Tiên Phật chớ Nữ lại không sao? Thầy đã nói Bạch Ngọc Kinh có cả Nam và Nữ, mà phần nhiều Nữ, lấn quyền thế hơn Nam nhiều". (*2)

Vào thời kỳ tiền khai Đạo, trong thời kỳ Pháp thuộc chư vị Tiền Khai gặp rất nhiều khó khăn do Chánh quyền Pháp cho người theo dõi rình rập các đàn Cơ nơi tụ tập để đe dọa, bắt bớ, đàn áp,.... nhờ "Huyền Diệu Thiêng Liêng" nên sau cùng họ trở thành những sứ đồ truyền Đạo.

Để tưởng nhớ công ơn của những bậc Tiền Khai chúng ta là những người con của Đức Cao Đài Ngọc Hoàng Thượng Đế nên cố gắng hết sức mình mà lo phụng sự cho Đạo giúp đỡ cho nhơn sanh để mối đạo được trường tồn vĩnh cửu.

Thầy có giải rõ;

"Hàng phẩm Nhơn tước đạo đức các con nó trùng với hàng phẩm Thiên tước của các con.

Ngôi thứ Thầy đã sắp sẵn, các con rán đoạt thủ địa vị mình. Trước qua sau tới, liệu mà tu hành.

Thầy khuyên các con một điều là: Ðừng tưởng lầm tước phẩm Thiên đạo Thầy đem cho ai cũng đặng. Cửa Bạch Ngọc Kinh chẳng phải ai vô cũng đặng. Mỗi đứa con đều có tên trong Thiên thơ cả, chức phận cũng đã tiền định, chớ chẳng phải tước hàm trần thế dâng cho kẻ lễ nhiều". (*3)

Thời hạ ngươn mạt kiếp, sự tương tranh của nhân loại đi đến cực điểm, khiến cho con người mất đi sự thương yêu nên xảy ra bao điều thống khổ từ gia đình, xã hội và toàn cả thế giới.

Biết trước ngày tận tàn của nhân loại đến cả Thần Tiên cũng chau mày.

Vì thế, Đức Chí Tôn đến để ban cho nhân loại "Luật Thương Yêu và Quyền Công Chánh", khi nào nhân loại biết dùng thì mới có Hạnh Phúc và Hoà Bình, lúc đó sự tương tàn, tương sát không còn nữa.

Lời Thầy dạy:

Cương tỏa đương thời đã giải vây,
Ðừng mơ oan nghiệt một đời nầy.
Hữu duyên độ thấu nguồn chơn đạo,
Tu niệm khuyên bền chí chớ lay.

28-1-1926 (*4)

Thầy vui vì các con thuận hòa cùng nhau; Thầy muốn cho các con như vậy hoài, ấy là một lễ hiến cho Thầy rất trân trọng.

29-1-1926 (*4)

Mộc Lan
Cẩn bút
đêm 10/1/2021

 

__________________________________________
(*1) Thánh giáo ngày 05-09-1926 (âl. 29-07-Bính Dần), Đạo Sử Q.2 biên soạn Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.
(*2) Thánh giáo ngày 17-07-1926 (âl. 08-06-Bính Dần) - Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 bài 19.
(*3) Thánh giáo ngày 27-08-1926 (âl. 20-07-Bính Dần) - Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 bài 29.
(*4) Thi Tập -Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2.

 

 

Cưỡi trâu về thẳng đến gia san,
Trâu đã không rồi người cũng nhàn.
Mặt nhật ba sào vẫn say mộng,
Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/
(Thập mục ngưu đồ)

 

 


 

 

TRI KỶ TRONG NGÔN NGỮ


Ái Nhân

LỜI CỦA NGƯỜI VIẾT:

Đêm khuya tri kỷ về đâu,
Để cho bến vắng canh thâu cảnh buồn!
Rừng thiền hành giả bỏ xuồng,
Cõi Không thanh tịnh tiếng chuông thoát trần.

Bài viết của ba năm trước vào một ngày Mạnh Thu, hôm nay xin được yết lại. Người viết vẫn đốt đuốc đi tìm hồn Đạo trong ngôn ngữ văn chương tao nhã thoát trần. Đâu là duyên tri ngộ của khách tri âm khi trở lại đầu nguồn muôn thuở của cái duyên gặp gỡ đó! Cũng có khi gọi đó là nhân cũng không chừng!

Xin mời vào rừng văn chương chữ nghĩa… Sau bức tranh đó là gì?

Vì chữ nghĩa vốn không phải là cơ sở tâm truyền tâm và sang tâm một cách thung dung được.

Đó là phần dẫn nhập về bài viết xa xưa.

Thảo Vân mùa Thu,12-04-2020
Ái Nhân

 

XIN MỞ TRANG GIẤY CŨ:

"Lý Đạo huyền vi mầu nhiệm không phải là thứ ngôn ngữ của thế gian. Nó là một khối sanh quang, điễn khí của Thầy hằng sống."

Ái Nhân

Ngôn ngữ thế gian lòng khó tả,
Văn phong do cảm nhận chân tình...

Trong ngôn ngữ nói và viết, người nghe hay đọc, không nhất thiết phải nghe người nói và viết trong thứ ngôn ngữ đó! Vì đó là sự cảm nhận. Nên cũng có những cảm nhận khác nhau trong cách suy nghĩ của con người, đó là nếp sống văn hóa của mỗi người, của tập tục mỗi xã hội, mỗi cộng đồng nhơn loại được hình thành và trải qua nhiều đời, nhiều ý thức hệ. Theo dòng thời gian, được in sâu trên lối mòn tư duy đó! Hay nói đúng hơn, đó là con đường tấn hóa luân hồi của các chơn linh.

Bởi thế, ta nên dùng đức tin khôn ngoan của mình để xét đoán một sự việc. Đừng bao giờ theo tình cảm riêng tư, hoặc lý trí để nhìn sự việc một chiều theo cái cảm tính đời thường. Vì cái cảm tính đời thường, có khi đi đến cực đoan mê tín, đó là một điều không tốt cho một nhà chơn tu giác tánh.

Còn tình cảm và lý trí cũng có thể sai, đó là lối suy nghĩ theo cái nhìn nhị nguyên phàm tánh. Phải đi ra ngoài cái giả tướng của kiếp trần, mới tìm thấy được sự chơn thật và mới biết được bức tranh gió bụi dòng đời luân chuyển. Ta thử đi tìm những điều nghịch lý của sự việc, mong ra thấy được những điều thuận lý trong cái Đạo bao la của Trời đất vạn vật.
Ngôn ngữ là một sự cảm nhận, qua những cảm xúc từ nội tâm của con người. Người nghe và tiếp nhận nó, cũng bằng những cảm nhận qua những giao cảm tâm linh.

Dòng điễn quang giao cảm phải tương thông, thì mới hiểu được vấn đề mà người nói hoặc viết, muốn truyền đạt cho mình qua văn phong ý Đạo. Thật không dễ, để có được dòng điễn quang giao cảm tương thông!

Vì sao như vậy?

Xin được thưa rằng: đó là duyên tao ngộ ở từ tiền kiếp xa xưa. Được hình thành ở nhiều kiếp sanh, trong những lần hội ngộ.
Lại có những kiếp tái sanh, duyên tương ngộ chỉ có gặp nhau trong chữ nghĩa văn chương qua cảm xúc. Tầng điễn quang diêu động, gặp gỡ trong khối tình Đạo thiêng liêng lạ thường!

Lại là ngôn ngữ chữ nghĩa nữa rồi!

Điều nầy trong ngôn ngữ, không thể diễn tả hết được cảm xúc giao cảm.

Vì đó là sự rung động, trong từng giác quan của các tế bào. Sự rung động không qua ngôn ngữ, mà ở nơi sâu thẳm tận cõi lòng, ra ngoài những gì trần tục của đời sống con người. Đó là một đời sống tâm linh, tinh thần thật cao trọng, thật linh thiêng, huyền diệu vô cùng.
Có bao giờ, ta có được sự cảm nhận, bởi những dòng điễn quang thiêng liêng đó? Sự cảm nhận thật sự có được, từ trong cõi lòng sâu thẳm của mình, bằng chính những giọt nước mắt thương yêu, sống trong Khối tình Tạo Đoan.

Dù bao nghịch cảnh chơn tình rạng,
Mở Đức thương yêu tận cõi lòng... (*)

Hãy cố gắng đi đến đó, nếu kiếp nầy không được, thì ở những lần tái sanh ta cũng đạt được. Mỗi một kiếp sanh chơn thần tinh tấn thêm lên. Vì đó là con đường tấn hóa vô tận của các chơn linh. Vào trong khối Thánh chất thương yêu của Thầy, mà đạt được lý Đạo huyền vi mầu nhiệm.

Lý Đạo huyền vi mầu nhiệm không phải là thứ ngôn ngữ của thế gian. Nó là một khối sanh quang, điễn khí của Thầy hằng sống.

Vào trong khối Đức diệu huyền,
Chơn linh thoát tục, đồng nguyên đất Trời...

Thảo Vân mùa Thu mưa đầu mùa.Đêm 18-3-2017
Ái Nhân

 

(*) Giải nghĩa hai câu thơ.

Dù bao nghịch cảnh chơn tình rạng,
Mở Đức thương yêu tận cõi lòng...

Dù cho nghịch cảnh dòng Đời có đến với ta, chơn tình Đạo Đức cũng vẫn rạng rỡ trong sáng ngàn đời.

Luôn mở Đức thương yêu từ nơi cõi lòng của chính mình.

Ái Nhân
Cẩn bút.

 

 


 

 


CON NGƯỜI ĐI TÌM THUỐC TRƯỜNG SINH

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

Nhà Xuân vừa mở thọ diên,
Chén pha Giếng Cúc, bàn chen Non Đà
o.

– Nguyễn Huy Tự

Giấc mộng trường sinh, bất tử đã được ghi nhận từ thuở hoang sơ, khi con người còn ăn lông ở lỗ. Trong huyền thoại thần tiên, trong niềm mê tín dân gian, trong nguồn cảm hứng xuất thần của văn nhân thi sĩ hay luận lý của triết gia.Tân, Cựu Ước, kinh Koran cũng có nhắc tới nguồn nước trường sinh.

Nó là động lực thúc đẩy những nhà thám hiểm lặn lội đi tìm suối nước vĩnh cửu ở vùng đất lạ, cũng như là mục tiêu nghiên cứu của các khoa học gia xưa nay.

Nó đã tạo cơ hội làm giầu cho những lang băm, những tên lường gạt rao bán vịt trời giữa chợ với môn thuốc trường sinh bất tử.
Nó ám ảnh mọi người, mọi giống. Ai cũng mong mỏi sống mãi không già, thoát khỏi những tàn phá của cơ thể do thời gian, giữ mãi được những nét thanh xuân đầy nhựa sống. Ai cũng nghĩ là ở đâu đó, có môn thuốc mà khi uống vào ta sẽ thi gan cùng tuế nguyệt. Ta chỉ việc cố gắng, kiên nhẫn tìm là sẽ thấy nó.

Nhân dịp xuân về, chúng tôi mời quý vị, ta lang thang vào cái vườn địa đàng này. Biết đâu lại may mắn nhặt được vài trái đào của Tây Vương Mẫu rơi rớt đó đây; uống lén được chút rượu Kim Tương. Để rồi cùng nhau bách niên giai lão, tiếp tục mè nheo người bạn đường sung sức…

Trường sinh trong Triết học.

Đi trước các dân tộc khác, người Trung Hoa xa xưa đã có một khái niệm, một triết lý về sự sống lâu.

Lão Tử từng quan niệm là nếu một sự vật có thể biến thành sự vật khác thì với con người, sự chết cũng có thể thành bất tử. Như con nòng nọc có đuôi kia biến thành con cóc, con nhái, con sâu róm lột xác thành con bướm. Đạo Lão cho con người sống là nhờ sự hoà hợp của âm / dương, nếu giữ được sự hòa hợp này thì cuộc sống kéo dài.

Quan niệm này đã và vẫn là căn bản cho Y thuật Trung Hoa cùng các nước chịu ảnh hưởng văn hóa quốc gia này như Việt Nam, Triều Tiên. Lão cũng khuyên người ta phải tiết kiệm sinh lực bằng vô vi, tập phép hô hấp để tăng dưỡng khí cho não bộ, ăn nhiều trái cây, kiêng rưọu, thịt và sống cho phải đạo.

Câu chuyện người Luigi Cornaro, sanh năm 1470, sống cuộc đời phóng đãng hơn 30 năm. Thầy thuốc nói nếu tiếp tục như vậy sẽ không qua được tuổi 50. Ông ta bèn thay đổi nếp sống, tiết mực hơn và kết qủa là sống tới tuổi 103, để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm giá trị về bảo vệ sức khỏe. Hai trăm năm sau, nhiều người đã áp dụng lối sống của Cornaro.

Triết gia Plato, thọ 81 tuổi, khuyên ta không được rượu chè say sưa, nhất là ở tuổi trung niên, nếu muốn trường thọ.

Thuỷ tổ nền y học tây phương Hippocrates, sống tới 80 tuổi, nhắc nhở con người nên từ từ, dung hòa ở mọi lãnh vực để giữ gìn nhựa sống. Nhất là từ khi đặt chân lên ngưỡng cửa 60.

Có người muốn kéo dài sự sống thì cũng có người quan niệm ngược lại.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là lẽ thường của tạo hóa, hà cớ chi phải bận tâm quá đáng.

Sự chết cũng tốt cho loài người. Tre già măng mọc, đèn cạn dầu đèn tắt.

Và đã hưởng hết lạc thú rồi thì cầu sống lâu làm gì?

Trường sinh trong huyền thoại.

Huyền thoại Hy lạp, Ấn độ, La mã ghi lại nhiều giai thoại trường sinh thần tiên.

Nàng Eos yêu Tithonus hết mình, muốn cùng chàng bên nhau mãi mãi. Nàng xin Thần lãnh đạo Thiên Đường Zeus cho chàng được bất tử. Tithonus sống mãi, nhưng càng sống lâu càng trở nên đau yếu, bệnh hoạn và phải nuôi trong phòng riêng. Eos trở nên buồn, vì nàng đã quên không xin cho chàng vừa sống lâu vừa giữ được vẻ thanh xuân. Nàng đi kiếm người tình khác.

Người Ả Rập hay kể cho nhau nghe câu chuyện nhân vật quen thuộc El Khidr với Giếng Nước Vĩnh Cửu: Một hôm tình cờ El Khidr rửa con cá khô trong giếng nước, con cá tự nhiên quẫy động, sống lại. Không bỏ lỡ cơ hội, El Khidr nhẩy xuống giếng tắm và trở thành bất tử.

Hi Lạp xưa cũng có suối nước vĩnh cửu trong rừng Jupiter, mà, theo tục truyền, ai tắm nước đó sẽ được phục hồi tuổi trai tráng và khỏe mạnh.

Trường sinh trong văn học, nghệ thuật.

Văn nhân thi xưa nay cũng khao khát sự trường thọ.

Thi sĩ Hy lạp Hesiod tả hình ảnh đầy hấp dẫn của giống người Golden Race, sống lành mạnh tới cả trên trăm tuổi. Đến khi chết, họ ra đi một cách nhẹ nhàng, thoải mái như đi vào giấc ngủ say.

Pindar tả cảnh thiên đường trường thọ của dân chúng trong một hải đảo giữa biển Atlantic: sống cả ngàn năm trong hoan lạc, không biết gì đến đau yếu, bệnh tật.

Trong tiểu thuyết Lost Horizon xuất bản năm 1933, James Hilton tả cảnh sống thiên đường của dân chúng ở vùng Shangri-La.
Trong sách Metamorphoses, thi sĩ La Mã Ovid kể lại chuyện vua Aeson của Hi Lạp được phục hồi sức khoẻ bằng cách chích vào tĩnh mạch một hỗn hợp điều chế từ máu cừu đực chưa thiến, da rắn, thịt cú và rễ nhiều thảo mộc khác nhau.

Trường sinh với các nhà thám hiểm.

Nhiều nhà thám hiểm cũng đã giương cờ đi khắp năm châu bốn bể để tìm thuốc trường sinh.

Juan Ponce de Leon, người Tây Ban Nha, đã lên đường thám hiểm Tân Thế Giới với hy vọng kiếm được thuốc hồi xuân. Ông ta đã già yếu, không thỏa mãn được cô vợ trẻ sung sức. Đồng thời ông ta cũng muốn kiếm thần dược dâng Quốc Vương Ferdinand II. Không kiếm ra thuốc, nhưng ông ta đã tìm ra tiểu bang phì nhiêu, hiền hòa Florida năm 1513. Ông qua đời vì vết thương bị nhiễm độc trong khi giao tranh với thổ dân gốc Indian vào tuổi 63.

Tần Thủy Hoàng Đế, sau khi gồm thâu lục quốc, dựng nên nghiệp Đế, muốn bất tử để trị vì trăm họ. Ông đã phái các phương sĩ Từ Phước và Lư Sinh căng buồm ra Biển Đông tìm thần dược. Lư Sinh, Từ Phước không tìm ra linh dược, nhưng đã lánh nạn và tìm được những mùa xuân bất tận cho nhiều thế hệ con cháu trên đất Phù Tang mầu mỡ.

Năm 1498, Columbus tuyên bố là đã tìm ra miền vĩnh cửu ở dọc theo bờ biển Venezuela, gần đảo Trinidad.

Trường sinh với căn bản khoa học.

Bên cạnh những ý kiến, dữ kiện khó tin, nhiều người đương thời đã có cái nhìn nghiêm túc hơn về sự hóa già và phương cách trì hoãn diễn biến này.

Tu sĩ dòng Franciscan kiêm khoa học gia Roger Bacon đã lý luận rằng con người già vì sự mất bớt nhiệt năng bẩm sinh. Nếu sống hợp lý cộng với thuốc men hiệu nghiệm, ta có thể trì hoãn sự mất mát này và sống lâu hơn. Ông ta hỗ trợ thuốc chế từ thịt rắn, tim hươu nai và một vài thảo mộc trong rừng ở Nam Phi hay nước san hô, ngọc trai. Nhưng phương thức mà ông ta ưa thích nhất là hít sinh khí hơi thở của trinh nữ.

Người Do Thái khi xưa cũng tin rằng con gái là phương thuốc chữa bệnh tốt. Vua David, khi về già không được khỏe, cơ thể lạnh toát, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ ấm. Thần dân bèn đặt Người nằm cạnh những thiếu nữ với ý định là để chân khí từ thiếu nữ tiếp sức cho vua cha. Và Ngài khỏe ra.

Boerhaave, danh y người Đức, sống từ 1668 tới 1738, cũng khuyên viên thị trưởng Amsterdam là nếu muốn lấy lại sinh lực thì hãy nằm giữa hai thiếu nữ còn trinh.

Công dụng Hơi Thở thiếu nữ cũng thấy ghi trong ngôi mộ cổ của một lão nhân Ai cập, nói rằng ông ta sống tới tuổi 115 là nhờ những hơi thở này.

Nhà luyện kim kiêm y sĩ Paracelsus của Đức, vào thế kỷ 16 đã tin tưởng rằng lão hóa là do sự thay đổi hóa chất trong cơ thể như sự rỉ sét của kim loại. Ông ta khuyên nên ăn uống cân bằng, sống tại vùng khí hậu ôn hoà, dùng những thuốc do ông ta chế.
Theo Leonardo Da Vinci, con người mau già là do hậu quả của mạch máu dầy lên, máu lưu thông khó khăn, dinh dưỡng suy giảm.

Những thế kỷ kế tiếp, việc tìm kiếm phương thức trì hoãn sự lão hóa mang ít nhiều tính cách khoa học hơn và được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề này.

Mùa thu năm 1885, Charles Ed. Brown Sequard, 72 tuổi, nguyên giáo sư Đại học Harvard, hùng hồn trình bầy trước các học giả uy tín của College of France. Ông ta cho hay là đã lấy lại được sinh lực, thỏa mãn đòi hỏi tình dục cuả người vợ trẻ bằng cách dùng nước tinh chế từ ngọc hành loài chó. Y giới mọi nơi vội vàng áp dụng môn thuốc này, nhưng hiệu quả không được như lời nói.

Sau Thế chiến thứ nhất, viên Y sĩ người Nga, Serge Vernof, sang Pháp và cấy tế bào ngọc hành cho nhiều người để tăng cường sinh lý.

Ở Mỹ, mấy năm sau, John Romulus Brinkly cũng áp dụng phương pháp này cho thân chủ, kiếm được nhiều tiền, mua đài phát thanh và ra tranh cử chức Thống đốc tiểu bang Arkansas.

Descartes, Benjamin Franklin, Francis Bacon, Christopher Hufeland… với nhiều công sức nghiên cứu đều tin tưởng là sự lão hóa và sự tử vong sẽ bị khoa học khuất phục. Hufeland còn khuyên ta nên tránh sự tức giận, sự tự hủy hoại và coi chúng là kẻ thù của trường thọ.

Các nghiên cứu hiện đại.

Jean Martin Charcot, Y sĩ Pháp, được nhiều người coi là cha đẻ của Lão-khoa-học, xuất bản cuốn sách đầu tiên về khoa này năm 1867 nhan đề Clinical Lectures on Senile and Chronic Diseases. Tác giả đề nghị nghiên cứu diễn tiến sự hoá già, nguyên nhân già, thay đổi cơ thể khi về già.

Bác sĩ Ignatz Leo Nascher vận động để các trường Y Khoa đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu vấn đề liên quan tới hóa già.

Sir Peter Medawar và Sir Mac Farlane Burnet là những người đầu tiên lưu ý tới ảnh hưởng của gene trong sự lão hoá.

Sau thế chiến thứ hai, tốc độ nghiên cứu về vấn đề già phát triển mạnh. Tờ báo uy tín Journal of Gerotology ấn hành số đầu tiên vào năm 1946 ở Hoa Kỳ.

Từ năm 1970, tại Mỹ, do sự đòi hỏi của dân chúng, các khoa học gia và chính trị gia liên kết thúc đẩy chính phủ trợ cấp nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu các vấn đề về lão hóa. Do sự ủng hộ tích cực củaThượng Nghị Sĩ Alan Cranton, cơ quan Quốc Gia Tuổi Già ( National Institute of Aging) được chính thức thành lập năm 1976. Cơ quan này có ngân sách cao tới cả nửa tỷ mỹ kim và chuyên chú về các vấn đề liên quan tới người cao tuổi.

Ngày nay, trên thị trường thương mại, ta có thể kiếm được nhiều sản phẩm được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền về y khoa học, hoặc được người chế ra quảng cáo là có công hiệu trì hoãn sự lão hoá.

Nhớ lại vào giữa thập niên năm mươi, đồng bào ta ở Việt Nam nhiều người đua nhau dùng thuốc Gerovital-KH3. Thuốc này được một y sĩ Lỗ Ma Ni điều chế và nghe nói các nhân vật nổi danh như Tưóng De Gaulle, Thủ tướng Adenauer, văn hào Sommerset Maugham cũng có dùng. Gerovital vẫn còn được bán tự do ở Âu Châu, nhưng không được cơ quan Dược Phẩm Hoa Kỳ công nhận giá trị chống lão hóa.

Nhiều người hiện đang dùng các loại sinh tố, khoáng chất, anti-oxidant, các loại kích thích tố, Q-10, Glutathione, Melantonin, Sod, DHEA, Omega-E,... Và được giới thiệu là có thể làm chậm sự lão hoá.

Các khoa học gia đang đi xa hơn trong công việc này. Họ nhắm vào việc thay đổi gene trong nhiễm thể tế bào, việc giới hạn tác hại của các phó sản trong biến hóa căn bản của tế bào.

Đi xa hơn nữa, họ nghĩ tới chuyện thay thế những bộ phận hư hao bằng bộ phận tạo ra do chính tế bào của mình, được nuôi dưỡng, cấu tạo trong phòng thí nghiệm hay trên bào thai, để tránh hiện tượng khước từ thông thường. Một ngày nào đó, biết đâu ta lại chẳng tân trang được cơ thể con người và chỉ cần đưa đi kiểm tra định kỳ mười năm một lần, như một chiếc xe hơi.

Kết luận.

Trở lại với thực tại, ta thấy tuổi thọ con người đã tăng đáng kể trong hơn trăm năm qua.

Chừng nửa thế kỷ nữa, Hoa Kỳ sẽ có khoảng 75 triệu người trên 65 tuổi trong tổng số trên dưới ba trăm triệu dân. Tại các quốc gia khác, số người cao tuổi cũng tăng theo cùng nhịp độ. Đó là thành qủa những tiến bộ tuyệt vời của khoa học cũng như sự thay đổi nhân sinh quan của loài người.

Nhà bác học người Pháp, Louis Pasteur, năm 1856, đặt nền móng cho việc tiêu diệt hầu hết các bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân tử vong cao ở các thế kỷ trước, đã là người có công đầu trong việc tăng gia tuổi thọ.

Rồi khi sống lâu, loài người lại phải đối phó với những khó khăn mới gây ra do môi trường cũng như do thói quen, những bệnh nan y. Con người đã ý thức được vấn nạn đó và đang ứng phó rất hiệu nghiệm, tài tình.

Do sự tăng gia số, người cao tuổi sẽ có nhiều mầu sắc mới, sinh hoạt mới trong gia đình, xã hội. Những người trên 70 tuổi sẽ có nhiều việc để bận rộn trong khoảng thời gian trên dưới 30 năm còn lại của cuộc đời. Sẽ có nhiều người, 70, 80 tuổi còn đi làm, hoặc đi học để cập nhật kiến thức.

Tỷ lệ lão niên nữ sẽ cao hơn nam vì sống lâu hơn. Sẽ có nhiều cặp nhân tình đầu bạc sống chung để nương tựa, đầm ấm với nhau. Sẽ có nhiều trường hợp con cái dọn về ở với cha mẹ già để các cụ bớt đơn côi.

Kỹ nghê phục vụ nhu cầu người cao tuổi sẽ phát triển mạnh. Hãng du lịch sẽ phát triển mạnh để thảo mãn nhu cầu người già.

Đồng thời, khối cử tri của người cao tuổi sẽ có ảnh hưởng nhiều tới các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Người già sẽ lấy lại được sự trân trọng như trong thời kỳ nữ hoàng Anh Quốc Victoria xưa kia.

Và trong tương lai, khoa học nghiên cứu sẽ hướng nhiều vào việc “tăng đời sống cho năm tháng chứ không chỉ tăng năm tháng cho cuộc đời” (adding life to years, not just adding years to life). Để nhân loại sống trong thế kỷ thứ hai mươi mốt với tinh thần “Sống lâu, Sức khoẻ, mọi vẻ mọi hay”.

Đó sẽ là những chén rượu Kim Tương, những trái Bàn Đào mà chúng ta mong đợi.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Texas-Hoa Kỳ.

 

Nguồn: https://khoahocnet.com/2019/11/21/bac-si-nguyen-y-duc-con-nguoi-di-tim-thuoc-truong-sinh-3/

 

 


 

 


Uyên Trang phụ trách

BÁNH HẠNH NHÂN

Cách làm bánh hạnh nhân thơm giòn nhâm nhi ngày Tết.

Bánh hạnh nhân là một loại bánh thơm ngon có nguồn gốc từ chợ mới An Giang nay được phát triển rộng rãi và đang được mọi người ưa chuộng nhờ khẩu vị bùi béo thơm ngon phù hợp với khẩu vị người việt. Món bánh được làm từ nguồn nguyên liệu dễ làm và cách chế biến cũng không quá khó nên bạn có thể làm tại gia mà hương vị vẫn thơm ngon tuyệt vời. Hãy cùng vào bếp với Uyên làm món bánh hạnh nhân đãi khách Tết này nhé!

NGUYÊN LIỆU:

1. 300gr bột mì (self raising flour).

2. 150gr đường mịn (caster sugar).

3. 180gr dầu ăn (vegatable oil).

4. 3gr soda baking.

5. 3gr muối.

6. 50gr đậu phộng rang vàng.

7. 2 lòng đỏ trứng gà.

8. 1 ống vani hoặc 1 muỗng cà phê vani extract.

CÁCH LÀM BÁNH HẠNH NHÂN

• Rây bột ra mâm.

• Cho đường, trứng ,muối, dầu ăn, vani, baking soda vào chung với bột rồi nhồi kỹ cho đến khi bột và dầu quyện đều và không dính tay nữa là được.

• Đem bột ủ trong 30 phút.

• Sau 30 phút vo bột thành từng viên, mỗi viên nặng khoảng 20gr, dùng bàn tay ấn nhẹ cho bánh dẹp 1 chút, sau đó dùng dao khứa nhẹ bánh để tạo hình, đặt hạt đậu phộng vào giữa bánh rồi ấn nhẹ xuống để tạo nhụy.

• Xếp bột bánh vào khây có lót giấy nến (baking paper).

• Nướng trong vòng 25 -30 phút, sau khi bánh chín ngay lập tức mở lò để bánh được giòn.

Lưu ý – Nên làm nóng lò ở nhiệt độ 180 độ C trước 10’ trước khi nướng bánh, dùng fan force function.

Chúc các bạn thành công để có món bánh đãi khách uống trà ngày đầu Xuân nhé. ♬♬♬

 

 


 

 


 


Uyên Trang sưu tầm

 

Không Hiểu Ý Tốt

Một ông đang phóng xe trên đường thì thấy người phụ nữ lái chiếc xe chạy ngược chiều hét to:

– Heo!

– Chó! – Ông này lập tức trả miếng.

Mới vứa hả hê vì tài đối đáp nhanh của mình, xe của ông ta đâm sầm vào một con heo lớn nằm chắn ngang giữa đường.

Bài học rút ra: "Nếu người đàn ông bị phụ nữ chửi lảng xẹt thì cố hiểu xem họ nói về cái gì".

 

Bắt Lỗi Tận Gốc

Thầy giáo nói với học sinh:

– Em hãy mời ông của em đến gặp tôi!

– Dạ, ý thầy muốn mời "ông bố" của em?

– Không, mời ông của em. Tôi muốn chỉ cho ông ấy xem con trai ông ấy đã phạm những lỗi gì trong vở bài tập về nhà của em.

 

Thua 3-1 Nhưng Còn Lãi 7 Đồng

Một gã trẻ tuổi gặp một ông già. Đang huênh hoang muốn khoe trình độ mình hơn người, gã bèn rủ:

– Tôi với ông so kiến thức bằng cách đố nhau nhé!

Ông già đắn đo, gã bèn đặt thêm điều kiện:

– Nếu thắng, ông được 10 đồng, nếu thua, ông chỉ mất 1 đồng thôi!

– Đống ý, anh đố trước đi.

– Thế ai là ngưới lên vũ trụ đầu tiên?

Ông già không trả lời, lẳng lặng rút tờ 1 đồng trả cho gã trẻ tuổi. Được thể, hắn hỏi tiếp:

– Thế ai phát minh ra định luật bảo toàn khối lượng?

Không biết. Lại 1 tờ nữa.

– Thôi, anh đố nhiều rồi. Để tôi đố anh 1 câu được không? - Ông già hỏi

– Đồng ý!

– Vậy... con gì lên đồi bằng 2 chân, còn xuống đồi bằng 5 chân?

Sau một hồi lâu suy nghĩ, gã thanh niên quyết định rút tờ 10 đồng ra, đưa cho đối thủ và hỏi lại:

– Không biết! Thế con gì đấy hả ông?

Ông già im lặng rồi lẳng lặng rút tiếp tờ 1 đồng đưa cho gã trẻ.

 

 


 

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 


 

 

Chủ trương của Bản Tin Hòa Hiệp

Bản Tin Hòa Hiệp: Phổ biến tin tức Đạo sự gần xa; liên lạc, trao đổi kinh nghiệm hiểu biết; học hỏi, hợp tác thân hữu với các Tôn Giáo bạn, các Đoàn Thể xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu hướng thượng, nhằm phục vụ không biên giới cho Đạo lẫn Đời.

Bản Tin Hòa Hiệp: Xin đón nhận mọi ý kiến đóng góp xây dựng, bài vở với bất kỳ thể loại; ưu tiên trong lãnh vực biên khảo, nghiên cứu đạo giáo, triết học, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật phục vụ nhân sinh của chư vị thức giả đạo hữu, đạo tâm... miễn nội dung không nhằm mục đích: làm diễn đàn chính trị, bài kích cá nhân, tập thể; kỳ thị dưới mọi hình thức; gây chia rẽ nội bộ; đi ngược lại tôn chỉ, mục đích và đường lối của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh.

 

CHỦ TRƯƠNG: Tộc Đạo Sydney.
CHỦ BÚT: Quyền Đầu Tộc Đạo Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp.
BAN BIÊN TẬP: Bạch Sỹ - Thanh Nguyên - Ái Nhân - Lê Phong - Song Kha - Trần Nguyên Đức - Uyên Trang - Đức Nhân - Mộc Lan - Nguyên Chương.
TRÌNH BÀY & IN ẤN: Huỳnh Trọng - Trần Đại Thiện - Trần Lê Phong.

 

CAODAI TEMPLE OF NEW SOUTH WALES
HOA HIEP - VIETNAMESE NEWSLETTER
114-118 King Georges Road  WILEY PARK NSW 2195 - AUSTRALIA
Phone & Fax: + 61 2 9740 5678
Email: thanhthatnsw@yahoo.com.au ; thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au