BẢN TIN SỐ 32 - THÁNG BA NHÂM DẦN - 2022
Kỷ Niệm Đức Cao Thượng Phẩm và Đức Cao Thượng Sanh

 

 

MỤC LỤC

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 

 

C

 

hư Hiền thân kính,

Tôi hồi tưởng lại, hồi nhỏ học văn hóa Pháp, văn hào kiêm kịch tác gia Pièrre Corneille, người viết truyện Le Cid có nói: "A vaincre sans péril, on triomphe sans gloire". (To overcome without peril, one triumphs without glory, hay là "chiến đấu không gian khổ, chiến thắng không vinh quang").

Thực vậy, bản tánh tôi đã chậm chạp, lại gặp thêm một trận covid, thân xác rã rời, nếu không cố gắng phấn đấu, bức thư ngỏ nầy không đến được quý hiền đọc giả thân thương. Người mà phải kiên nhẫn chờ đợi dài cổ ra, sau khi đã lên khuôn các tiết mục khác từ lâu. Đó là Hiền Đệ HT.

Trải qua mấy ngày tịnh dưỡng, tôi đã quyết định mời Hiền Đệ Ái Nhân vui lòng đảm trách phần Chủ Biên Bản Tin Hòa Hiệp cho các Bàn Tin kế tiếp, để kịp thay thế đám tre già cằn cỗi, hầu lót đường cho đám măng non đang cần có chỗ ngoi lên. Dù chưa thăm dò ý kiến trước, nhưng tôi tha thiết hy vọng HĐ Ái Nhân không từ chối vì vài lý do chính yếu sau đây:

  • BTHH là tiếng nói duy nhứt, không thể thiếu, trong gia đình cộng đồng Cao Đài Úc Châu ra đời, dù muộn màng, trong năm 1999 (BT đầu tiên, trước BT Đặc Biệt Mừng Lễ Khánh Thánh Thánh Thất NSW). Ái Nhân đã từng tham gia cộng tác từ đầu.

  • BTHH chủ trương làm theo lời dạy của Đức Chí Tôn và chính Đức Hộ Pháp đã lập lại trong Bài Diễn Văn, rằng: "Có Hòa mới có Hiệp, có Hiệp mới có thương, mà sự Thương Yêu là chìa khóa mở cửa Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh y như lời Chí Tôn đã dạy, chỉ nghĩa là phải Từ Bi Bác Ái mới đắc đạo Vô Vi, phải Hòa Hiệp mới có qui nhứt".

  • ……… ……… ……… ……… ……… ……… ……… ……… ……… ….

Thiết nghĩ, cơ Đạo càng có sự tiếp tay của nhiều bạn trẻ chịu hy sinh dấn thân, thế hệ cha ông càng mở rộng vòng tay "giúp người nên Đạo" và sẵn sàng thân ái, bao dung đón mời. Còn việc hành Đạo như thế nào, một phần do người lãnh đạo có đủ tài đức lèo lái hay không. Hy vọng sau cơn mưa, trời lại lại sáng. Nếu Bính Dần là năm Khai Đạo, Mậu Dần là niên Phục Sinh, thì Nhâm Dần là ước mơ sang trang Thành Tựu vậy.

Bản Tin Hòa Hiệp lần nầy, nhân lễ Kỷ niệm Đức Cao Thượng Phẩm, một trong Tam Vị tiền khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư và Thượng Sanh Cao Hoài Sang. Đức Ngài là Chức Sắc Hiệp Thiên Đài đã từng ăn mật, nằm gai, nếm trải khổ hạnh đủ điều trong rừng sâu nước độc, chịu nhiều gian nan cùng cực trong những ngày đầu khai Đạo. Chí hướng của Quý Ngài là cầu Hòa Bình cho dân Tộc Việt Nam và cả Nhân Loại. Qua khải ngộ của Ơn Trên, quý Ngài nhận thức rằng chúng ta đang hứng chịu nào thiên tai, địa ách trút xuống hành tinh của chúng ta, thách thức sự cao ngạo của văn minh khoa học hầu thức tỉnh lòng nham hiểm của con người nặng dày quả nghiệp, luôn nuôi tham vọng gây chiến tranh để xâm lược, để thôn tính, để làm bá chủ cả hành tinh 68 nầy.

Ước vọng sưu tầm các tài liệu quý hiếm và nguyên bản, cống hiến cho chư Hiền thân ái tham khảo và nhận định, so với các tài liệu phổ biến trước đây về việc "Phổ Cáo Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ"... không riêng cho dân tộc Việt Nam, mà cho cả Nhân Loại. Kính mời chư Hiền đọc lại "Ngũ Đức Lương Châm" của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh và theo dõi luận thuyết của Đức Thượng Sanh về "Nguồn gốc đau khổ", vài ý nghĩ chân thành của bạn trẻ Yến Mai. Đừng quên giữ gìn sức khỏe, qua bài thuốc "Tỏi" rất hữu ích của Bác sĩ Nguyễn Ý Đức và nhiều nữa...

Ban Biên Tập rất mong chư Hiền gửi nhiều bài vở cho Bản Tin 33 tới đây, hy vọng sẽ ra mắt vào dịp Kỷ niệm ngày Khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ năm Nhâm Dần-2022, xem như KỶ YẾU 40 NĂM CƠ ĐẠO CAO ĐÀI TẠI ÚC ĐẠI LỢI (1983-2023).

Trong lúc chúng tôi bắt đầu ghi vội mấy dòng chữ nầy, khói lửa tràn ngập Ukraine vẫn kéo dài chưa dứt, chưa biết cho đến khi nào.

Xin ngưỡng nguyện, Đức PHẠM HỘ PHÁP thể đắc háo-sanh đại-đức, bác-ái công-bình, vận-chuyển diệu huyền thần bút, thường giáng oai linh hộ-trì bố-hóa chư Đệ-tử trí-não quang-minh, tinh-thần mẫn-huệ, thừa-kế đại chí, bảo thủ chơn-truyền, thật-hành nhơn nghĩa, tế-độ Chúng-sanh, định tâm giác ngộ, hiệp-hòa chủng-tộc, huynh đệ nhất gia, giải-cứu chiến-tranh khổ-nạn, vãn-hồi trật-tự an-ninh, cộng-hưởng Quốc-gia thạnh-trị, thiên-hạ thái-bình, an-ninh hạnh-phước.

 

Nam Mô TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ PHÁP THIÊN TÔN.

Ban Biên Tập BTHH

 

 


 

 


 

Lundi 4 Octobre 1926
(27-8-Bính Dần)

THẦY

Chúng Nam nghe:

Thầy Khổng Tử trước có tam thiên đồ đệ truyền lại còn thất thập nhị Hiền.

Thầy Lão Tử trước đặng một trò là Nguơn Thỉ.

Thầy Giê-Giu trước đặng mười hai người, chừng bị bắt còn lại là Pierre mà thôi.

Thầy Thích Già đặng bốn người; ba người bỏ Thầy còn lại một.

Còn nay, Thầy giáng thế chọn đến:

Nhứt Phật,
Tam Tiên,
Tam thập lục Thánh,
Thất thập nhị Hiền,
Tam thiên Ðồ Ðệ.

Các con coi đó mà hiểu rằng: Các con có sự mà thiên hạ từ tạo thế đến chừ, chưa hề có chăng?

Nơi Bạch Ngọc Kinh hơn sáu chục năm trước, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thấy đại nộ Thầy, nên ra tình nguyện hạ thế cứu đời.

Thầy coi bọn ấy lại còn làm tội lỗi hơn kẻ phàm xa lắm. Vậy vì cớ chi các con biết chăng? Các con có cả ba chánh đạo là Tam Giáo, các con biết tôn trọng; ngày nay lại thêm chánh đạo nữa, các con biết ít nước nào đặng vậy?

Bị hàng phẩm nhơn tước phải phù hợp với hàng phẩm Thiên tước; đáng lẽ Thầy cũng nên cho các con chịu số phận bần hàn, mà không nỡ, nên ngày nay mới có kẻ như vậy.

Thầy nói cho các con biết:

Dầu một vị Ðại La Thiên Ðế xuống phàm mà không tu, cũng khó trở lại địa vị đặng.

Các con nghe à!

 

Phụ ghi:
Lundi 4 Octobre 1926 (27-08-Bính Dần).
Việt ngữ: Thứ hai, 04-10-1926 (âl. 28-08-Bính Dần).

Trích từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 bài 36. Thánh giáo dạy rằng: Nay Thầy giáng thế chọn Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên Ðồ Ðệ.◙

 


 

 

của Đức Hộ Pháp


 

Tại Tháp Đức Cao Thượng Phẩm, ngày 01/03 năm Nhâm Thìn (1952).

KHỔ NHỌC VÀ CÔNG LAO
VĨ ĐẠI CỦA NGÀI CAO THƯỢNG PHẨM ĐỂ LẠI

Mỗi năm đến ngày kỷ niệm của Đức Cao Thượng Phẩm, chắc cả thảy những em út, anh chị người nào cũng đã biết Ngài, tưởng cũng có một cái tình cảm nồng nàn, nhứt là Bần Đạo là bạn đồng khổ của Ngài, bạn thiếu niên, bạn đường đời, bạn cửa Đạo, một kiếp người đối với kiếp sống của Bần Đạo có tình cảm mật thiết không thể tả được, đứng trước bàn vong linh của Ngài, dám chắc cả thảy mấy em đều khác, còn Bần Đạo vẫn khác. Ôi! Biết bao nhiêu những di tích của Ngài để lụng lại tràn trề không thể tả cho hết, cái tình tri âm, tri kỷ với nhau trọn một đời biết tâm đức, biết tình cảm, biết tài năng với nhau trọn một kiếp, nếu có người bạn nào mà Ngài đã gọi cái tâm tình trọn vẹn hết, Bần Đạo tưởng có lẽ Bần Đạo là một người trong đấy.

Một người tài tử, cái lần (lòng) yêu nước vô cùng của Ngài thì đã chán biết, bởi cái tình cảm như thế, cái tâm ái quốc phải là hơn ai mới được, cái đặc sắc hơn hết là Ngài có tình cảm đối với nước nhà, đối nòi giống của Ngài, cũng như Bần Đạo biết một đặc tính với một tinh thần của một người tài tử.

Một người yêu nước là riêng, về con người của Ngài, có cái cảm kích đối với nòi giống Việt Nam là một việc khác, chẳng khác nào như ta đã ngó thấy, một kẻ tài nhân kia nhất thời mà mình yêu ái kính phục, chẳng khác nào như ta đã ngó thấy trước mắt những người đạt đặng hạnh phúc danh vị bị suy sụp, chúng ta thương vì tội nghiệp cái tình cảm của Ngài đối lụng lại với quốc dân Việt Nam, đối lại với nước nhà của Ngài buổi nọ vậy.

Ôi! Biết bao nhiêu trong thời buổi lệ thuộc, Ngài ngó trước mắt Ngài, đồng bào của Ngài, nước nhà của Ngài dám chắc rằng riêng biệt ra, đừng ai ngó thấy trong cảnh tối tăm, tịch mịch, thì bao nhiêu giọt lệ của Ngài đã đổ.

Vì cớ cho nên buổi khai Đạo rồi Đấng quyền năng tối linh ấy đã đến, Ngài đem cả tâm tình ấy, Ngài gởi cho Đấng đó, cũng như Bần Đạo đã gởi chỉ cầu nguyện một điều là xin quyền năng vô đối ấy, đem cái cân công bình thiêng liêng để nơi mặt thế, cho có mực thước một chút, nhứt là ái tuất đến những kẻ khổ não về tinh thần, kẻ chịu được là vô luận, những người chịu không nỗi xin có một thế là an ủi.

Nếu toàn thể quốc dân Việt Nam biết rằng, tinh thần chịu lệ thuộc không nỗi, chỉ cầu nguyện một điều là một phương an ủi của Đấng ấy.

 

Phụ ghi:
Ngày âl. 01-03-Nhâm Thìn nhằm ngày (dl. 26-03-1952)

Trích từ Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Q5 bài 08. Vía Đức Cao Thượng Phẩm - Khổ nhọc và công lao vĩ đại của Ngài Cao Thuợng Phẩm để lại.◙

 


 

 

Đức Cao Thượng Phẩm & Đức Cao Thượng Sanh

 

 

Bài Thài Kỷ Niệm

   

Ngảnh lại mà đau cảnh đoạn trường,
Cõi Thiên mừng đặng dứt dây oan.
Nợ trần đã phủi, lòng son sắt,
Ngôi vị nay vinh, nghĩa đá vàng.
Cổi tấm chơn thành, lòa nhựt nguyệt,
Phơi gan chí sĩ, nhuộm giang san.
Bốn mươi hai tuổi, sanh chưa phỉ,
Ðể mắt xanh coi, nước khải hoàn.

   

Từ lúc đưa tay nắm Ðạo quyền,
Nguyện đem thi thố tấm Trung kiên.
Ðộ đời quyết lánh vòng danh lợi,
Trau chí tìm roi bậc Thánh Hiền.
Từ ái làm nền an thổ võ,
Ðức ân dụng phép tạo nhơn duyên.
Những mong huệ trạch Trên nhuần gội,
Sứ mạng làm xong giữ trọn nguyền.

   
   

Thi Văn của Đức Cao Thượng Phẩm và Đức Cao Thượng Sanh


 

... ... ... Bỗng đâu đất bằng sóng dậy, nước lã khuấy nên hồ đem đến gieo ác cảm cho Ðức Cao Thượng Phẩm, làm cho Ðức Ngài phải về Thảo Xá Hiền Cung... ... ...

Ðức Ngài quá đau khổ có làm một bài thi tự thán như vầy:

TỰ THÁN

Công trình gầy dựng Thất Tây Ninh,
Bằng địa sóng xao khiến rập rình.
Tà mị phàm rung rinh Thánh chất,
Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.
Xưa Tòa Thánh dập dìu lai vãng,
Nay Bửu Ðình hiu quạnh lụy nhìn.
Thương Ðạo mến Thầy xin sớm liệu,
Cộng tâm chung trí chớ làm thinh.

THẤT NƯƠNG cho Ðức Thượng Phẩm một bài thi như dưới đây.

Nghĩ giận mà ra bắt nực cười,
Nhờ ai an vị lại an nơi.
Trăm năm chưa giữ bền thân sống,
Một kiếp đã gây lắm tội đời.
Phẩm Phật ngôi Tiên ai dẫn nẻo,
Ngai Thần vị Thánh kẻ toan dời.
Nhắn lời nói với phường đen bạc,
Ðến cửa Thiêng liêng ngó mặt Trời.

Đức Cao Thượng Sanh họa vận bài thi Tự Thán của Ðức Cao Thượng Phẩm.

Dập dìu nào buổi Thất Tây Ninh,
Hiu quạnh hôm nay ngó rập rình.
Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,
Sau hiên meo mốc mấy pho Kinh.
Rừng xơ vẻ thắm chim khôn đỗ,
Cảnh cũ màu xanh khách biếng nhìn.
Rường cột Ðạo mầu bao thuở dựng,
Sụt sùi để bước khó làm thinh.

ÐỨC THƯỢNG SANH đến thăm ÐỨC HỘ PHÁP bị đồ lưu 5 năm, mới về Tòa Thánh ngày 4 tháng 8 Bính Tuất (dl. 30/8/1946).

CẢM TÁC

Nhành lá rừng tòng đã điểm tươi,
Còn non còn nước lại còn người.
Xa nhà bỏ lúc thương pha hận,
Gặp bạn nầy khi khóc lộn cười.
Nguồn Ðạo xưa trông đôi cảnh nghịch,
Thuyền từ nay lướt một dòng xuôi.
Trời Nam thử điểm trang tân sử,
Ðổ lệ cùng nhau gượng để lời.

HUỆ GIÁC

 

HỌA NGUYÊN VẬN

Sắc son nhuộm tánh đượm màu tươi,
Hay dở khen chê để miệng người.
Ðày đọa xét thân không hổ thẹn,
Sang vinh nghĩ phận quá buồn cười.
Vó kỳ từng trải đường nguy hiểm,
Cánh hộc quen chiều gió ngược xuôi.
Ước trả mảy may ơn xả tắc,
Nợ muôn đền một kể chi lời.

ÐỨC HỘ PHÁP

 

Tài liệu tham khảo từ:
Đạo Sử Quyển I: ÐẠO SỬ XÂY BÀN Năm Ất Sửu (1925) Biên Soạn Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.
Tiểu Sử và Lời Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang. ÐIỆN THỜ PHẬT MẪU SAN JOSE Ấn hành lần thứ nhứt tại Hoa Kỳ Năm Tân Tỵ (2001).◙

 

 

CAO THƯỢNG PHẨM

... ... ...

Hồi em còn ở thế, sức giận của em đến đỗi, nếu em được thiêng liêng vị tức cấp, thì có lẽ cây quạt của em đã đưa họ trụm vào phong đô không sót một ai. Nhưng chừng bỏ xác phàm, được nhãn huệ quang rồi, em lại thương đau, thương đớn, dường như sợ cho họ sái đường lạc nẻo, thì phải mất một bạn thiêng liêng rất quí trọng vậy, thành thử phải dìu dắt chiều theo tâm phàm họ cao thấp mà sửa từ bước, độ từ chặng. Mà nếu rủi dìu họ không được, thì phải tận tụy với trách nhiệm làm thế nào cho họ đừng sa đọa phong đô để cầu với Tam Giáo Tòa, cho tái kiếp mà chuộc căn quả. ... ... ...

 


Thánh giáo của Cao Thượng Phẩm Ngày 15-7-Giáp Tuất (24-08-1934)
(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2 bài 84).◙

 

 

 


 

 

của ÐỨC THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG

 

LUẬN VỀ NGUỒN GỐC ÐAU KHỔ CỦA NHƠN SANH
tại Đền Thánh đêm 07/04/Ất Tỵ (1965)
VÍA ÐỨC THÍCH CA

 

Phật gọi đời là bể khổ, nước mắt của chúng sanh trong ba nghìn thế giới đem chứa tích lại còn nhiều hơn nước trong bốn biển.

Cái khổ là một sự thực hiển nhiên, mỗi người không ai tránh khỏi. Dầu giàu nghèo sang hèn ai cũng có cái khổ riêng của mình nhưng người đời ít ai dám nhìn thẳng vào đó. Tựu trung cái tâm lý chung của người đời là sợ đau khổ và sợ cả sự nghĩ đến đau khổ, luôn luôn có thái độ lẫn tránh, che đậy hay muốn quên đi bằng cách ẩn mình trong những vui thú nhất thời. Do đó, người đời ít khi muốn bàn đến đau khổ, vì ai cũng muốn sống trong sự vui tươi và ai cũng mong cầu hạnh phúc.

Nhưng dầu người ta không dám nghĩ đến đau khổ và muốn tránh xa đau khổ, nó cũng cứ thung dung bước tới chụp bắt con người, chẳng khác chi thú dữ vồ lấy con mồi, không phương nào thoát khỏi được.

Không thoát khỏi được là chí lý, vì tự người ta vời nó đến thì cái nguyên nhân đau khổ chỉ nói ta tạo ra mà thôi.

Cái nguyên nhân ấy là dục tức là ham muốn. Con người khổ vì ham muốn cuộc đời, ham muốn hưởng thụ, ham muốn chiếm đoạt, ham muốn chế ngự, ham muốn phô trương, ham muốn khoái lạc về vật chất lẫn tinh thần, ham muốn tình cảm, nói tắt là ham muốn sống một cách huy hoàng dù là phải dấn thân vào vòng tội lỗi.

Dục vọng vô bờ bến của con người bao hàm sự quyến luyến ràng buộc với điều mình ham muốn. Nhưng một khi đã dính líu, người ta không còn tự do nữa, như cá phải mắc câu, chim sa lưới.

Khi muốn, muốn được rồi lại muốn nữa, muốn cái khác. Dục như ngọn lửa hồng càng cho thêm củi vào thì lửa càng to, cũng như dục càng lớn.

Con người khi thiếu thốn quá nên cho là khổ, bởi thiếu thốn nên muốn, muốn tất cả cái gì mình không có. Muốn mà không được là khổ, được rồi lại mất cũng khổ, mọi đau khổ ở đời dưới hình thức cá nhân cũng như dưới hình thức tập thể đều do nguyên nhân sâu xa là dục.

Vậy người đời dệt bằng nhiều đau khổ hơn là bằng vui sướng và chính những vui sướng đó lại làm cho đau khổ hơn khi không còn vui sướng nữa. Phật phân chia bể khổ làm 5 loại:

1/ Sinh lão bịnh tử khổ.
2/ Ái biệt ly khổ, nghĩa là sự phải ly biệt những người thân yêu là khổ.
3/ Oán tăng hội khổ, tức là ghét nhau mà phải chung sống là khổ.
4/ Cầu bất đắc khổ, tức là muốn mà không được là khổ.
5/ Ngủ uẩn thạnh khổ, tức là 5 yếu tố (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) làm cho người không thấy chân thực, đâm ra triền miên trong ngũ trược và tạo nên khổ.

Những đau khổ trên đều có tính cách công khai rõ ràng, ta cảm thấy hoặc nhận thấy nơi người khác, còn những đau khổ gián tiếp không xuất hiện một cách rõ ràng, ta phải suy nghĩ và chú ý lắm mới nhận định ra được.

Thân xác ta luôn luôn có những nhu cầu cần được thoả mãn như: ăn no, mặc ấm, nhà cao, cửa rộng là những điều kiện mà ta cho là hạnh phúc, rồi đến nhu cầu giải trí, ái tình danh vọng, chức tước.

Khi ta đi tìm hạnh phúc cá nhân, tất nhiên ta phải đụng chạm đến người khác cũng đi tìm như ta vậy. Thành thử có việc tranh giành, có đụng chạm, tranh chấp, mâu thuẫn giữa người và người để rồi đi đến chỗ thù oán, có khi giết hại lẫn nhau cũng chỉ vì ta làm nô lệ cho dục vọng.

Sự ham muốn làm cho ta mù quáng, chúng ta chỉ muốn hưởng thụ trên cái đau khổ của kẻ khác. Giành giựt được một cái gì của kẻ khác đang hưởng, ta hiu hiu tự đắc, lòng dục được thỏa mãn chớ không dè là sự thỏa mãn ấy chỉ được trong chốc lát, rồi nó phải nhường cho chỗ thất vọng. Sự công bình thiêng liêng đâu có cho ta hưởng như vậy được. Cái vui chưa được thỏa, cái buồn, cái khổ đã kề bên, không có cái gì chân thực vĩnh viễn.

Phật ví cái vui, khổ ở đời cũng như những cảm giác của người gánh nặng. Khi đổi vai thì vai không có gánh dễ chịu và vai có gánh thấy khổ cực; một lúc sau đổi vai nữa thì vai vừa mới dễ chịu lại thấy trở lại nặng nề khổ cực.

Thế thì cái vui vẫn đi liền với cái khổ chỉ khi nào bỏ gánh xuống thì mới chấm dứt hẳn được vui sướng và khổ đau. Bỏ gánh xuống nghĩa là diệt dục, tức là giải thoát vậy.

Nhận định được nguồn gốc đau khổ, con người cần tìm ra phương pháp để diệt khổ, mà diệt khổ tức là phải diệt dục, diệt nghiệp.

Phật giáo cho rằng điều kiện cần thiết của sự giải thoát là Tự lực nghĩa là phải có sự nổ lực cố gắng của chính con người muốn giải thoát, bằng không thì dụng phương pháp nào cũng chỉ là vô ích.

Như thế sự cứu rỗi của mỗi người hoàn toàn tùy thuộc nơi người đó.Ðức Phật không tham dự vào công cuộc cứu rỗi của ai khác hết. Ngài đã có công tìm ra con đường giải thoát và chỉ con đường đó lại cho ta cố gắng noi theo để tự giải thoát cũng như Ngài đã tự giải thoát.

Mỗi người đều phải tự liệu đảm nhiệm sự cứu rỗi chính mình đã tự trói buộc gây ra nghiệp nên chỉ chính mình mới cởi trói giải thoát cho mình mà thôi. Ngoài ra có cầu khẩn, cúng bái, dâng lễ cũng không được ơn phúc gì cả. Chính ta tự giúp cho ta không có một quyền lực thiêng liêng nào giúp cho ta được.

Về sự diệt dục, Ðức Phật có nói: "Chiến thắng mười vạn quân còn dễ hơn chiến thắng lòng mình, mình tự thắng được mình là chiến công oanh liệt nhứt."

Chúng ta, ai có trải qua những ngày đau khổ vì bị dục vọng lôi cuốn vì mình không tự quyết thắng mình.

Khá tua tỉnh giấc mộng trần, quay về với đạo đức chơn thật, để sống lại những ngày giác ngộ sống với ý nghĩa cao đẹp vị tha

Cây "giác ngộ" chỉ mọc giữa đám đất đau khổ (vì bị dục vọng lôi cuốn) lấy chúng sanh làm gốc, lấy lòng thương bao la làm nước tưới mới có hoa giữa trí tuệ.

Thánh giáo của Ðức CHí TÔN ngày 15/4/1927 có dạy rằng: "Thầy đã nói cho các con hay trước nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy là cái đời tạm của các con thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng. Ấy vậy, vấn đề tự lập là vấn đề các con phải lo đó. Thầy vì công lý mà khai Ðạo cho các con cũng là một hạnh phúc lớn cho các con. Nếu Thầy còn đưa tay bồng ẵm thì các con chẳng còn để ý chịu nhọc vì Ðạo."

Ấy vậy, theo lời Ðức CHÍ TÔN, nếu chúng ta không tự lo cứu lấy mình thì Ðức CHÍ TÔN cũng không làm sao trợ giúp chúng ta được.

Trong cuộc tiến hóa, mình làm mình hưởng, có nhân tất có quả, chúng ta đừng bao giờ bỏ dở cơ hội tốt nào. Hãy phấn đấu không ngừng, phấn đấu để thắng dục vọng, thực chứng sự lý giải thoát, để khỏi phải phụ lời dạy dỗ của Ðức CHÍ TÔN và thực hành lý tưởng của người tu chơn là giữ trọn cuộc đời cao thượng trong sạch sáng suốt, an vui, tự tại và giải thoát./.

THƯỢNG SANH

 

Trích từ Tiểu Sử và Lời Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang. Luận Về Nguồn Gốc Đau Khổ của Nhơn Sanh.◙

 

 

VỊNH TIỀU PHU

Gió mát trăng thanh lộc bốn mùa,
Ðổi cơm ra sức khỏi tiền mua.
Con rìu lưng giắt tài xông lướt,
Lợi thế tai ngơ nỗi được thua.
Rượu cúc rừng tòng quen thú cũ,
Khóm mai cụm trước bạn ngày xưa.
Sạch lòng lê hoác hằng no ấm,
Mặc kẻ cầu cao thế sự đua.

Mạnh Hạ Ất Tỵ
15-6-1965
HUỆ GIÁC

 


Trích từ Thông Tin số 13 ngày 25 tháng 08 Canh Tuất (dl. 25/9/1970), do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành.◙

 

 

 


 

 

của Ngài Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài

Huấn Từ nhân Lễ Đặt Viên Gạch Đầu Tiên xây cất Bảo Cô Viện tại Trí Huệ Cung ngày 19-7-Tân Hợi (dl. 08/09/1971).

 

HIẾN ĐẠO BAN HUẤN TỪ

Kính thưa

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...
... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...
... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

 

Thánh xưa có nói: “Cả một đời người cứ lo làm điều thiện, mà việc thiện chưa hẵn là nhiều, chỉ một ngày làm điều ác, mà việc ác tính đếm có dư, một ngày mà không nghĩ đến điều thiện, thì có muôn điều ác giấy lên”.

Làm thiện là giúp người khỏi khổ được vui. Người nghèo khó, kẻ tật nguyền cần được nâng đỡ, người bịnh hoạn cần được săn sóc thuốc men, kẻ già nua cô độc cần được bảo vệ nơi ăn chốn ở. Làm điều thiện là tạo được một căn lành, khiến lòng mình biết thương xót người đồng loại, lại hay đôn đốc kẻ có từ tâm hướng về điều thiện. Làm thiện rất có ích cho mọi người trong xã hội. Con người am hiểu đạo lý, ái nhân, ái chúng, còn hơi thở là còn nghĩ đến điều thiện. Ai đã có chí làm điều thiện, thì tánh ác không còn chỗ nương tựa.

Làm thiện là giải khổ cho người, tức là đem vui cho người, đem vui cho người chính là tạo vui cho mình vì có câu vi thiện tối lạc, còn làm ác là tự mình rước họa vào mình, dấn thân vào đường tội lỗi. Làm được nhiều điều thiện lại sanh ra trí huệ, tâm tình được yên tịnh sáng suốt, xử sự mọi việc hợp đạo trúng tiết, thung dung tự tại, không bị lương tâm cắn rứt, không khổ não về tinh thần, cũng không lo ngại về vật chất, vì biết xem thường xem khinh cái có cũng như cái không, lẽ thua cũng như lẽ được, không có gì làm nao núng.

Nay quí vị khởi công xây cất viện bảo cô, đó cũng là do Thánh ý của Đức Hộ -Pháp, ngày xưa đã từng nhắc nhở Chức Sắc Cơ Quan Phước Thiện, nếu thời cơ thuận tiện, nền tài chánh được dồi dào, cần lập tại sở Phước Thiện Trung ương những: Bảo Cô Viện, Dưỡng Lão Đường, Bảo Sanh Viện, Bịnh Xá, Học Đường.

Quí vị làm theo đường lối Đức Hộ Pháp, quí vị tôn kính Đức Ngài, trước sau như một, không phụ lời Đức Ngài chỉ giáo, làm tròn sứ mạng Đức Ngài giao phó, đó là quí vị làm cho Đức Ngài sống mãi trong sự nghiệp Đạo. Nhìn xem sự nghiệp Đạo mà nhớ hình bóng Đức Ngài. Hội Thánh có lời ban khen quí vị và cầu xin ơn trên hộ trì quí vị sớm lập thành Viện Bảo Cô. Sau nầy những kẻ cô độc, những người quan quả có nơi ăn chốn nghỉ, có người chăm nom săn sóc và giúp đỡ khỏi vất vả đói lạnh, chịu trăm bề khổ sở. Ấy là một công tác xã hội quan trọng mà quí vị đương cố gắng thực hành. Quí hóa thay! Vì lợi ích nhơn sanh, vì ái quả truất cô mà lòng từ thiện được thể hiện bằng công việc làm của quí vị hôm nay.

Hội Thánh ân cần nhắc nhở toàn thể chư tính hữu trong đại gia đình của Đạo, nên thuận hòa đối đãi với nhau, dẹp những nổi bất bình, những điều ganh tỵ làm mất niềm tương thân tương ái. Phải tôn trọng luật pháp chánh truyền và tuân theo chỉ thị của Hội Thánh về phần Đạo, chẳng nên tự ý canh cải mà đắc tội với bậc đàn anh. Trong sự sửa mình để tự lập, quí vị đừng vì tư lợi mà làm mất nhơn cách, thì rất uổng cái điểm linh quang của Đức Chí Tôn đã để vào xác thân của mỗi người. Quí vị cũng nên tập lần lần mà bỏ hẳn ba cái nghiệp độc: tham, sân, si, là ba cái chướng ngại vật ngăn trở bước đường lập đức của chúng ta, lại cũng là ba cái nguyên nhân làm cho thiên hạ đảo huyền, nhơn tâm ly tán, người mất phẩm người, sa vào đường trụy lạc, tội lỗi chất chồng biết rửa mấy sông cho hết.

Quí vị nên ghi nhớ lời Đức Chí Tôn đã dạy mà khắn khích giải đồng tâm, nối liên tình đồng Đạo. Đây là lời Đức Chí Tôn: "Các con thương mến nhau, dìu dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó.”

Thân ái kính chào./.

 


Trích từ TIẾNG GỌI của Ngài Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài, trang 35-36.
Bản in ronéo 1973 do Chức Sắc và Nhân Viên văn phòng Hiến Đạo thực hiện.◙

 

 

 

Vào Đạo phải giữ trai giới - Trai là gì, giới là gì?

Trai nghĩa chay lạt, đồ trong sạch nhẹ-nhàng tinh-khiết.
Giới
là điều cấm răn của Đạo. Trai là chay, nếu ăn chay thì tâm tánh phải hiền lành lánh điều tội lỗi, giảm tánh hung-hăng, đổi lần họa ra phước, bỏ dữ về lành:

1- là chẳng giết hại loại bò bay máy cựa.
2- là tránh nợ oan báo, linh-hồn đặng trong sạch nhẹ-nhàng.
3- lòng nhơn biết thương người mến vật.

Đó là giữ trai-giới. Nên có câu rằng: "Phật ái chúng sanh như mẫu ái tử". Nghĩa là: "Phật thương loài chúng sanh như mẹ thương con vậy". Và có câu rằng "Nhứt tử trì trai thiên Phật hỉ" nghĩa là: "Một người ăn chay đặng thì ngàn muôn Phật thảy đều vui lòng mừng đó".


Giảng Đạo Yếu Ngôn. Chương thứ 32.
(Tác giả Nguyễn Văn Kinh. Tái bản năm Canh Tuất 1970).◙

 

 

 


 

 


BÀI DIỄN VĂN
của Hộ Pháp PHẠM CÔNG TẮC
đọc tại Tòa Thánh Tây Ninh ngày 14 tháng 2 Mậu Thìn (dl. 05-03-1928).

 

Thưa

Cùng chư Chức sắc Thiên phong "Cửu Trùng Đài" và "Hiệp Thiên Đài".

Nay nhơn dịp nhóm Đại Hội, em xin vô lễ bày giải sơ lược ra đây những đạo lý mà em đã thọ giáo nơi Đấng CHÍ TÔN cho mấy anh mấy chị tường lãm, tưởng cũng không phải là một điều không bổ ích vậy.

Nhiều huyền vi mầu nhiệm trong Đạo của Đấng CHÍ TÔN đã lập ra đều ẩn núp trong mấy bài thi của Thầy dạy dỗ; song vì nghĩa sâu xa bí mật, chúng ta không thấu đáo đặng; kỳ dư một đôi điều vì trúng nhằm trách nhậm của em, Thánh ý muốn em trọn phận sự nên giáng bút chỉ giáo.

Lẽ thì em phải giải rõ những điều em học hỏi ra sớm mới phải; ngặt nỗi Thánh ý chưa định, nên khiến cho em đi hành đạo Kim Biên trên bảy tháng trường mà ra trễ nãi.

Bắt đầu hết, em xin giải nghĩa HỘI THÁNH là gì.

HỘI THÁNH là gì? - Trong bài phú của THẦY cho bà cụ di mẫu của chị Phối Sư Hương Thanh có câu:

“THẦY dùng lương sanh mà cứu vớt quần sanh”.

Hội Thánh tức là đám lương sanh của Thầy tom góp lại làm một. Cả lương sanh ấy, THẦY đã dùng quyền thiêng liêng dạy dỗ, trước un đúc nơi lòng một khiếu từ bi cho tâm địa có mảy mún tình "ái vật ưu sanh" theo Thánh đức háo sanh của Thầy, dùng làm lợi khí phàm tục, để độ rỗi người phàm tục.

Những lương sanh ấy phải thế nào hội hiệp lại nhau làm một, mà làm ra một xác thân phàm của Thầy, thì Thầy mới có hình thể trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ nầy, hầu tránh cho khỏi phải hạ trần như mấy kỳ trước vậy. Thầy mới dùng huyền diệu cơ bút dạy dỗ mỗi người, đặng tỏ ra rõ ràng có quả nhiên Thầy trước mắt; để đức tin vào lòng mỗi lương sanh ấy rằng Thầy thật là CHÍ TÔN, Chúa Tể Càn khôn Thế giái, cầm cân công bình thiêng liêng thưởng phạt, quyết đoán rằng chính mình Thầy đủ quyền bảo hộ con cái của Thầy, dầu đương sanh tiền hay buổi chung qui cũng có Thầy trước mắt, công thưởng tội trừng, tu thì thành, dữ thì đọa; chỉ rõ Niết Bàn, Địa Ngục đôi đàng, đặng dẫn bước đường đời không lầm lạc. Hứa rằng: lập ngôi nơi Bạch Ngọc Kinh, khai đường vào Cực Lạc Thế Giái và đóng chặt cửa Phong Đô đặng độ tận chúng sanh, vớt chín mươi hai ức nguyên nhân trở về cựu vị.

Các lời hứa ấy, nếu chẳng phải Thầy thì chưa một vị Phật nào dám gọi mình đủ quyền mà làm đặng.

Cả lương sanh Thầy lựa chọn so sánh quyền CHÍ TÔN của Thầy và cân lời hứa ấy mà nhìn quả thật là Thầy, để đức tin mạnh mẽ mà trông cậy nơi Thầy. Cái đức tin ấy nó tràn khắp trong nhơn sanh, mà gây ra một khối lớn, tủa khắp cả toàn cầu, sửa đời cải dữ. Cải dữ đặng thì phải tu, tu thì phải thành, mà nếu cơ thành chánh quả chẳng để trước mắt người thì khó mà làm cho nhơn sanh mến yêu mùi Đạo; nên buộc Thầy phải lập chánh thể, xây nền đạo tại đời cho cả chúng sanh đều nhìn nhận vì cớ hiển nhiên đặng giục lòng tu niệm.

Đạo là gì?

Là cơ mầu nhiệm, mà cơ mầu nhiệm ấy phải làm ra thế nào có hình thể như một con đường dẫn người ra khỏi chốn trầm luân khổ hải, lại đặng phước siêu phàm nhập Thánh.

Muốn thoát khỏi luân hồi phải làm sao?

Phải đoạt cho đặng cơ bí mật siêu phàm nhập Thánh, cơ bí mật ấy nếu không phải Thầy cho thì chưa ắt xin ai mà đặng.

Ấy vậy, Đạo là cơ bí mật làm cho kẻ phàm có thể đoạt đặng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thầy đến qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi đặng để cho chúng ta hiểu cơ mầu nhiệm mà luyện tinh, thần.

Thầy đã đến rồi, thoảng muốn lập riêng ra một tôn giáo khác lại chẳng đặng sao? lại qui Tam Giáo và hiệp Ngũ Chi mà làm gì?

Nếu như kẻ ngoại giáo nói mình bắt chước đoạt cả đạo của người ta mà làm của mình thì mới nói sao?

Ai ai cũng hiểu rằng: Nhơn đạo dạy tu luyện phần xác, Tiên đạo phần trí thức tinh thần, Phật đạo phần thiêng liêng hư vô tịch diệt.

Em xin giải quyết vì cớ nào mà qui Tam Giáo trước đã, lại luận đủ hình thể và tinh thần cho trọn vẹn.

Về hình thể:

Ai sanh ra dưới thế nầy cũng phải giữ đủ tôn chỉ của ba đạo: Nhơn đạo, Tiên đạo và Phật đạo mới làm đặng hoàn toàn phận sự con người. Tỉ như Nhơn đạo thì dạy mình vẹn giữ Tam cang Ngũ thường, mới biết bổn phận mình đối với xã hội nhơn quần thế nào cho nhơn loại cộng hưởng hòa bình, chẳng nghịch lẫn nhau, không tiêu diệt lẫn nhau mà phải trái hẳn với đức háo sanh của Thượng Đế.

Muốn cho nhơn loại đặng lòng hữu ái mà kính mến lẫn nhau thì Tiên đạo lại dạy ta phải lão luyện tinh thần cho đặng thông minh trí hóa, hầu kiếm phương giúp đỡ binh vực lẫn nhau. Nơi địa cầu số 68 nầy là nơi luyện cảnh (monde expiatoire), chúng ta chẳng những phải bị ma hồn quỉ xác cám dỗ mà thôi, mà chúng ta lại còn bị thiên tai mộc ách; chúng ta chẳng những phải đối địch cùng sự hung bạo của đời mà thôi, mà ta lại còn phải đối địch cùng các nghiệt bịnh của Trời hành xác nữa.

Ôi! Vì vậy mà nhiều bậc văn tài trí sĩ bên Âu Tây, cắm cúi cả đời, tìm kiếm một phương hay mà sửa đời, đặng binh vực nhơn sanh khỏi điều tận diệt. Trí não phải tháo luyện đến đỗi nhiều vị đoạt đặng cơ bí mật của Trời mà làm ra một khoa học, có nhiều phương hay và quá trí khôn ngoan của người, nên ta coi các Đấng ấy như là Địa Tiên cũng phải.

Khi chúng ta đã đặng đủ khôn ngoan chiếm đoạt cơ bí mật của Trời mà lập ra các cơ khí, nếu không có Phật giáo dạy ta giữ dạ từ bi mà cứu độ nhơn sanh, thì cái học thức khôn ngoan ấy nó trở lại hại cho nhơn sanh hơn nữa.

Cái lý hữu nhân hữu quả, em xin để cho mấy anh mấy chị thẩm nghĩ. Em chỉ tưởng lòng bác ái từ tâm thì buộc người phải có, bằng chẳng vậy thì dầu cho toàn xã hội đều công chánh mà có một kẻ bất lương vụ ngã lộn vào thì cũng đủ làm cho xã hội trở nên rối loạn. Biểu sao chúng ta không thấy dưới mắt chúng ta đời chẳng khác nào một buổi chợ mơi: khôn ngoan thì đặng hơn, thiệt thà thì bị ép.

Người biết đạo người thì là trọng mình, mà trọng mình thì phải giữ tinh thần cho tinh tấn. Tinh thần tinh tấn mới đủ tư cách dạy đời làm lành lánh dữ. Ấy là Tam Giáo qui nhứt. Nếu trong một xã hội mà mỗi người đặng vậy thì xã hội đặng hưởng phước hạnh thái bình; còn ước như các xã hội trên mặt địa cầu nầy đều đặng vậy thì đời mới thế nào? Cái hạnh phước của toàn nhơn loại trên địa cầu 68 nầy có ngày đặng vậy chăng? Coi lại tôn chỉ (của) Đạo thì anh em ta có lòng dám tin chắc rằng sẽ đặng điều hạnh phước ấy không sai.

Về thiêng liêng:

Trước không có chi trong càn khôn thế giái là vô vi. Thoạt nhiên, hai lằn không khí chẳng biết gốc nơi đâu, kêu là "Hư Vô Chi Khí" đụng nhau mới có chơn linh của Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Trái lửa Thái Cực là cơ của hữu hình, vâng lịnh Thầy mà phân ra Lưỡng Nghi, Tứ Tượng và biến Bát Quái, nhứt nhứt có trật tự: Ấy là cơ Nhơn đạo; rồi sanh ra vàn vàn muôn muôn địa cầu cùng khắp càn khôn thế giái, trong các địa cầu ấy thì có ba ngàn thế giái và bảy mươi hai trái địa cầu có nhơn loại ở. Ấy là phép biến hóa của Tiên đạo. Khi chia mình ra mà lập càn khôn thế giái rồi thì khối lửa Thái Cực của Thầy đã tiêu mất trở lại vô vi, tức là cơ mầu nhiệm của Phật đạo đó vậy. Bát Quái biến hóa vô cùng mà lập ra các địa cầu toàn trong càn khôn thế giái và vạn vật mà chúng ta thấy đặng dưới mắt rõ ràng đây. Ấy là một cuộc hữu hình, mà trọn cuộc hữu hình nầy dường như vâng mạng lịnh của một quyền hành Thầy rất lớn, không xâm phạm lẫn nhau mà phải hại. Cơ mầu nhiệm Nhơn đạo rõ ràng đó vậy.

Mỗi trái địa cầu có nhơn loại, tức là có chơn linh ở. Hằng ngày tô điểm sửa sang làm cho nó đặng đẹp; hễ địa cầu đẹp thì tinh thần của các chơn linh phải tấn hóa thêm cao đến ngày cực điểm văn minh. Ấy là cơ mầu nhiệm của Tiên đạo.

Chừng địa cầu đặng toàn hảo, các chơn linh đặng cực điểm văn minh rồi, dầu hưởng đặng lâu hay mau, thì rồi phải bị tiêu diệt. Ấy là cơ mầu nhiệm của Phật đạo.

Người lúc chưa vào thai bào thì là hư vô, khí âm dương tương hiệp biến thai ra nhơn hình, tới lúc sanh ra cho đến khi trưởng thành là cơ mầu nhiệm của Nhơn đạo; khi đã trưởng thành lại học tập tu luyện tinh thần cho trí hóa trở nên khôn ngoan là cơ mầu nhiệm của Tiên đạo; khi già rồi chết, thi hài bị tiêu diệt là cơ mầu nhiệm của Phật đạo.

Luận qua hiệp Ngũ Chi (theo hình thể):

Ngũ Chi là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo. Cả toàn địa cầu nầy, hễ làm người thì có Nhơn đạo nơi mình rồi, mà mình nong nả làm ra người hữu dụng cho đời tức nhiên mình đã hơn người, ấy là Thần đạo đó vậy; hễ hữu dụng cho đời tức là mình hơn đời, gọi là quán thế, tức nhiên mình làm Thánh đạo đó vậy; mình hơn đời là nhờ cái khiếu thông minh nó hứng sự thông suốt của đời dạy mình cho nhiều rồi lại biến hóa ra thêm; trí hóa phù hạp với cơ huyền vi mầu nhiệm của Trời Đất. Nếu đoạt đặng cơ mầu nhiệm ấy mà làm của mình, rồi lại truyền bá ra cho cả nhơn loại học hiểu cái biết của mình mà thật hành ra sự hữu ích cho đời, tức là mình làm Tiên đạo đó vậy; biết đời rồi biết mình, rồi biết đến tinh thần mình là chủ tể của mình; mình biết đặng tinh thần mình rồi, hễ nhờ nó mà nhơn phẩm mình đặng cao bao nhiêu thì lại càng yêu thương lại nó bấy nhiêu, nên buộc phải lo cho nó đặng thanh tịnh nghỉ ngơi đôi lúc mà đợi ngày thoát xác, tức là làm Phật đạo đó vậy.

Với các nguyên nhân thì Ngũ Chi tỉ như một cái thang năm nấc bắc cho mình leo lên một địa vị ngang bực cùng Thầy, tức là Phật phẩm đó vậy. Chưa ai nhảy một nhảy mà lên cho tới một từng lầu năm thước bề cao; mà như ai đã để sẵn một cái thang năm nấc mình có thể lần lần mà leo lên đặng.

Thầy hiệp Ngũ Chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình; hễ ngồi đặng phẩm nào thì địa vị mình nơi ấy, chẳng ai còn tranh giành ngược ngạo không nhìn nhận cho đặng.

Mình là người tức là có sẵn Nhơn phẩm, mình mới luyện Nhơn hồn theo gương của chư Thần mà chúng ta thờ phụng đó, thì tức nhiên cũng đoạt đặng đức tánh của chư Thần mà làm Thần vị của mình. Đặng Thần vị rồi lại xem gương của các Thánh mà tu luyện Thần hồn mình cho đặng Thánh đức tức nhiên cũng đoạt đặng Thánh vị vậy. Đặng Thánh vị rồi cũng luyện Thánh hồn mình theo tánh đức chư Tiên mà đoạt cho đặng Tiên vị. Khi biết mình đã vững nơi Tiên vị rồi thì mình cũng cứ đào luyện Tiên hồn theo gương chư Phật mà gấm ghé vào Phật vị.

Thoảng như có kẻ hỏi: Thần, Thánh, Tiên, Phật xa cách với người như Trời với đất, khác nhau kẻ tục người thanh, thì thế nào người phàm mà mong mỏi leo lên phẩm vị ấy cho xứng đáng?

Ta lại đáp như vầy: Dầu cho hạng Hóa nhân đi nữa thì là:

Những Vật chất hồn có một điểm Thảo mộc hồn như bông đá (Éponge) đó vậy.

Thảo mộc có một điểm Thú hồn như cây mắc cở (Sensitive); Thú hồn có một điểm Nhơn hồn như loài cầm điểu thì là: két, quạ, cưỡng, nhồng; như tẩu thú thì là: chó, ngựa, khỉ; như ngư thì là cá ông đó vậy.

Nhơn hồn có Thần hồn, đã đành chẳng cần phải giải.

Thần hồn có Thánh hồn, Thánh hồn có Tiên hồn, Tiên hồn có Phật hồn.

Ấy vậy, nơi mình chúng ta đã có sẵn một điểm Thần, Thánh, Tiên, Phật hồn, nếu ta biết làm cho chơn hồn tăng tiến lên hoài cho tới phẩm vị Tiên Phật thì phải tập luyện tu hành và đắc kỳ truyền mới đặng.

Muốn tu ắt phải có Đạo, vì vậy nên Thầy mới lập Đạo.

Đạo thì hữu hình, nếu có kẻ hỏi: Đạo vốn vô vi mà lấy hữu hình lập thành thì thế nào đắc đạo vô vi cho đặng?

Ta lại đáp rằng: Không hữu hình, vô vi cũng khó có; mà chẳng có vô vi thì hữu hình vốn không bền vững, tỉ như hồn với xác ta đây vậy. Không hồn thì xác phải tiêu diệt, mà có xác không hồn cũng không cơ khí mà lập thành nên đạo người vẹn vẻ. Hai đàng phải tương hiệp nhau mới đặng hoàn toàn. Ấy vậy có vô vi ắt có hữu hình.

Chánh pháp và Hội Thánh là hữu hình, mà hữu hình ấy nó phù hạp với luật lệ Thiên điều và đối chiếu với Cửu Thiên Khai Hóa. Luật đạo ấy là Thiên điều, còn Hội Thánh là chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế đó vậy.

Sao lại dám sánh luật đạo của chúng ta hội nhau lập thành với Thiên điều?

Thầy đã dạy rằng: Từ khi có Thầy, rồi dựng nên Càn khôn, Thế giái, hóa sanh nhơn loại, thì Thầy chưa hề biết hành phạt chúng ta bao giờ, vì lòng quá yêu, nên Thầy không nỡ nào hành phạt. Thầy lại nói: Dầu Thiên điều thì cũng do nơi chư Thần, Thánh, Tiên, Phật hội lập để định tội của nhau, hầu gìn giữ lẫn nhau đó thôi, chớ Thầy chưa hề biết đến. Mà hễ lập rồi dâng cho Thầy thì chính mình Thầy cũng không quyền sửa cải. Như Tân Luật ngày nọ thì Lý Giáo Tông hội cùng chư Thánh mà lập thành, chớ Thầy chưa hề biết đến, chỉ ngày đã dâng lên cho Thầy thì nó đã thành Thiên luật mà thôi.

Hễ Thiên luật thì phải vô tư, tỉ như Thiên điều, dầu cho chính mình Thầy là CHÍ TÔN cũng chẳng vị tình. Bởi cớ ấy mà khi lập Pháp Chánh Truyền, Thầy không lập Hiệp Thiên Đài một lượt với Cửu Trùng Đài, e cho cả Chức sắc Hiệp Thiên Đài ra ngoại luật. Thầy lại để các Chức sắc ấy dự hội lập luật cùng chư Chức sắc Cửu Trùng Đài thì phàm thân của họ cũng phải dưới quyền luật lệ như mọi người vậy.

Hội Thánh hiệp nhau lập Tân Luật cũng như cả Thập Nhị Khai Thiên lập luật.

Thập Nhị Khai Thiên lập luật giao lại cho Thầy; còn Hội Thánh lập Luật cũng giao lại cho Thầy. Vậy thì Tân Luật với Thiên điều cũng đồng giá trị. Dầu cho Hộ Pháp phạm luật cũng bị đòi đến Tòa Tam Giáo bên Cửu Trùng Đài, thì Thiên phẩm mình dường như không có, kể như một người Đạo hữu kia vậy.

Còn Giáo Tông, nếu phạm tội cũng phải bị đòi đến Tòa Hiệp Thiên Đài thì cũng chẳng khác một người Tín đồ kia vậy.

Luật đạo thành ra Thiên điều thì Hội Thánh là Ngọc Hư Cung tại thế.

Hội Thánh hiệp nhau lập Luật đạo thì cũng như chư Thần, Thánh, Tiên, Phật hội lập Thiên điều.

Vậy thì Hội Thánh và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cũng đồng một thể.

Luôn dịp, em cũng xin bày giải cách sắp đặt Hội Thánh của Thầy lập ra nơi thế nầy ra sao mà dám đối hàm cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật?

Hội Thánh chia ra làm ba phần, hiệp cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cùng Người cho hiệp cơ mầu nhiệm chánh trị của Càn khôn, Thế giái thì mới ra lẽ Đạo đặng.

1- Bát Quái Đài là tòa ngự của cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật mà Thầy làm chủ.

2- Cửu Trùng Đài là tòa ngự của chư Chức sắc Thiên phong đối hàm với chư Thần-Thánh-Tiên-Phật tại thế, mà Giáo Tông chưởng quản.

3- Hiệp Thiên Đài là nơi chuyên về Đạo Pháp, bảo hộ luật Đời và luật Đạo, như Ngọc Hư Cung nắm Thiên điều, tức là Ngọc Hư Cung tại thế mà Hộ Pháp chưởng quản.

Hiệp Thiên Đài là cửa Trời đó vậy. Hiệp là chung với, Thiên là Trời: Hiệp cùng Trời, tức là cửa vào đường Trời, cái thang bắc cho phàm đến cùng Trời.

Trong Hiệp Thiên Đài có: Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân.

Thập Nhị Thời Quân là ai?

Thập Nhị Thời Quân đối với Thập Nhị Thời Thần. Các chơn linh dầu đến bực nào cũng phải tại nơi ấy mà xuất hiện, như Thầy nắm trọn Thập Nhị Thời Thần vào tay rồi mới khai Thiên lập Địa.

"Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần".

Các chơn linh, dầu nguyên nhân hay là hóa nhân, hễ chịu hữu sanh thì đều nơi tay Thập Nhị Thời Quân mà siêu đọa, cũng như Thần, Thánh, Tiên, Phật nhờ Thập Nhị Thời Thần mà thăng giáng. Thập Nhị Thời Quân, tức là Thập Nhị Thời Thần tại thế đó vậy.

Thập Nhị Thời Quân chia làm ba chi: Pháp, Đạo, Thế.

Bốn vị về Pháp, bốn vị về Đạo, bốn vị về Thế.

Thượng Sanh là gì?

Vật chất hữu sanh, thảo mộc hữu sanh, cầm thú hữu sanh, nhơn loại hữu sanh, tức là chúng sanh.

Trong chúng sanh có nguyên sanh và hóa sanh.

Nguyên sanh là gốc từ khai Thiên đã có.

Hóa sanh là khai Thiên rồi mới biến hóa mà ra.

Tỉ như nguyên nhân là khi khai Thiên rồi thì đã có các chơn linh ấy. Còn Hóa nhân là chơn linh vật loại đoạt đến phẩm vị nhơn loại. Trong các kiếp hữu sanh, duy có phẩm người là cao hơn hết, nên gọi là Thượng Sanh.

Lập Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy đem các chơn linh dầu nguyên sanh hay hóa sanh lên phẩm vị nhơn loại mới trọn nghĩa câu phổ độ.

Chơn linh các nguyên nhân bị đọa trần hay là của hóa nhân thăng cấp đều nhờ Thượng Sanh độ rỗi. Ấy là Thế độ, nên Thượng Sanh làm chủ của Thế đạo nắm luật thế nơi tay mà dìu dắt cả chúng sanh vào cửa Đạo. Ai làm cho cản bước đường tu của thế gian thì Thượng Sanh đặng quyền kiện cùng Tòa Thánh. Chư Chức sắc phạm luật làm cho chúng sanh phải xa lánh Đạo thì người có quyền xin trị tội tức thì. Ấy là chủ phòng Cáo Luật.

Dưới quyền người có bốn vị Thời Quân: Bảo Thế, Hiến Thế, Khai Thế và Tiếp Thế.

Thượng Phẩm là gì?

Hễ bước chơn vào cửa Đạo rồi thì là có Thiên phẩm, mà hễ có phẩm rồi thì Thầy lại đem lên cho tới Thượng Phẩm mới trọn câu phổ độ.

Các chơn linh nguyên nhân hay là hóa nhân nhờ Thượng Phẩm giữ gìn, binh vực cho ngồi đặng an ổn địa vị của mình, giúp đỡ cho đức hạnh trổi thêm cao, khỏi phạm nhằm luật lệ, xem sóc ngôi thứ chẳng cho giành giựt lẫn nhau, giữ cho Cửu Trùng Đài đặng hòa nhã êm đềm, khép cửa Thiên môn, cấm đường chẳng cho các chơn linh thối bước.

Phẩm trật nhờ người mà đặng lên hay là bị người mà phải hạ. Người nắm luật Đạo nơi tay mà binh vực cả chư Chức sắc Thiên phong và các tín đồ chẳng cho ai phạm luật, vùa lo cho người đạo hạnh lên tột phẩm vị của mình. Thượng Phẩm làm chủ phòng Cãi Luật, làm Trạng sư của Tín đồ.

Dưới quyền người có bốn vị Thời Quân là: Bảo Đạo, Hiến Đạo, Khai Đạo và Tiếp Đạo.

Hộ Pháp là gì?

Huyền vi mầu nhiệm của Đạo có Bí pháp cũng như Đời có luật pháp. Hộ Pháp là người nắm cơ mầu nhiệm của Đạo, nắm luật của Đời, xử đoán chư Chức sắc Thiên phong và cả Tín đồ, cùng là xin ban thưởng; công thưởng tội trừng của Đạo nơi thế nầy. Hễ có phàm trị mới khỏi Thiên trị; phải chiếu luật Đạo cho toàn cả Tín đồ khỏi bị Thiên điều, giữ phẩm vị thiêng liêng mỗi Chức sắc, ắt phải gìn giữ đạo đức của mỗi người. Dùng hình phàm làm cho giảm tội thiêng liêng. Nắm cơ mầu nhiệm công bình mà đưa các chơn hồn vào Bát Quái Đài hiệp cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Người nắm trọn cả luật Đạo và luật Đời vào tay đặng xử đoán, làm chủ phòng Xử đoán. [*1]

Dưới quyền người có bốn vị Thời Quân là: Bảo Pháp, Hiến Pháp, Khai Pháp và Tiếp Pháp.

Hiệp Thiên Đài là hình trạng của Ngọc Hư Cung tại thế.

Ấy là cửa mở cho các chơn linh vào, đặng đi đến Tam Thập Lục Thiên, Cực Lạc Thế Giái và Bạch Ngọc Kinh, là nơi chúng ta hội hiệp cùng Thầy, hay là chỗ ải địa đầu ngăn cản các chơn linh chẳng cho xông phạm đến đường Tiên nẻo Phật.

Lòng từ bi của Thầy để cho có kẻ rước là Thượng Sanh, người đưa là Thượng Phẩm và người dẫn nẻo mở đường cứu độ là Hộ Pháp đặng đem cả con cái của Thầy về giao lại cho Thầy, kẻo Thầy hằng ngày trông đợi.

Còn luận theo hình chất thì nó là một cái Tòa lựa chọn người lương sanh đem vào hiệp làm một với Cửu Trùng Đài, lập vị cho cả Tín đồ, phần xác phù hạp với phần thiêng liêng, un đúc giữ gìn cho các lương sanh ấy nhớ cựu phẩm mình, hầu buổi chung qui, Hộ Pháp mở cửa Bát Quái Đài đem tên tuổi ấy vào thờ cùng chư Thần-Thánh-Tiên-Phật cho xứng phận. Hễ Đạo còn ắt tên tuổi cũng còn, cái cơ đắc đạo tại thế cũng do nơi đó vậy.

Cửu Trùng Đài

Cửu Trùng Đài là hình trạng của Cửu Thiên Khai Hóa, lại hiệp với Cửu phẩm Thần Tiên. Để chơn vào Đạo tức là vào các địa vị ấy. Cửu phẩm Thần Tiên cầm quyền trị thế thì Cửu Trùng Đài cũng cầm quyền chánh trị của Đạo nơi tay; cứu độ nhơn sanh dìu dắt lấy nhau, trở lại cùng Thầy. Cái Tòa Tam Giáo Thầy lập nơi Cửu Trùng Đài là quyền hành thưởng phạt Thầy ban cho Cửu phẩm Thần Tiên hành chánh điều đình trọn cả Càn khôn Thế giái đó.

Lập Pháp Chánh Truyền đã tỏ đủ quyền hành của Chức sắc Thiên phong.

Em xin kể sơ qua cửu vị nó phù hạp với Cửu Thiên làm sao:

1°) Thần vị:

Người không đạo mà mộ đạo, lại giữ đặng vẹn vẻ đạo người, hữu căn hữu kiếp, có thể đắc vị đối với Địa Thần. Kẻ tín đồ biết Đạo và giữ Đạo đối với Nhơn Thần.

Lễ Sanh đối với Thiên Thần.

2°) Thánh vị:

Giáo Hữu đối với Địa Thánh.

Giáo Sư đối với Nhơn Thánh.

Phối Sư đối với Thiên Thánh.

3°) Tiên vị:

Đầu Sư đối với Địa Tiên.

Chưởng Pháp đối với Nhơn Tiên.

Giáo Tông đối với Thiên Tiên.

Em chỉ nói các Chức sắc đối hàm mà thôi; chớ còn chiếu y như Thánh Ngôn thì Thầy nói Thầy đến lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy thì Thầy lựa chọn: Nhứt Phật, tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền, tam thiên Đồ đệ, là Thầy nói Thầy đến hiệp các Đấng mà Thầy đã sai đến trước lại làm một mà làm hình thể của Thầy hầu mở Tam Kỳ Phổ Độ. Ấy là Cửu Trùng Đài.

Còn nhứt Phật, nhị Tiên, thập nhị Thánh tại Hiệp Thiên Đài thì là các Đấng hầu hạ bên Thầy lúc trước, nay tuy xuống thế cũng cứ giữ phận hầu Thầy mà thôi.

Em đã chỉ rõ một đường các chơn linh đối hàm, một đường các chơn linh xuống thế mà mở Đạo.

Biết bao nhiêu bậc Thánh, Hiền ấy còn lẫn lộn theo hàng Tín đồ; Thầy đương dạy dỗ un đúc đặng ngày kia ra gánh vác cho xứng đáng phận sự của mình.

Còn Tam Trấn Oai Nghiêm, Thầy lập đặng thay mặt cho Thầy nơi Cửu Trùng Đài cầm quyền chánh trị, là Phật đó vậy.

Cửu Trùng Đài phù hạp với Cửu Trùng Thiên thì dầu cho cả chơn linh trong Càn khôn Thế giái, cũng phải vào nơi đó đoạt cho đặng các phẩm vị giả trạng ấy, mới mong mỏi tạo lập Thiên vị mình. Chẳng vào cửa Đạo hiệp cùng Cửu Trùng Đài thì chẳng đi đường nào mà vào Cửu Trùng Thiên cho đặng.

Bát Quái Đài

Bát Quái Đài là nơi để thờ phượng chư Thần-Thánh-Tiên-Phật và chư Tín đồ, chư Chức sắc Thiên phong qui vị, mới trọn phép Trời người hiệp một.

Cái cơ mầu nhiệm của Thầy chỉ mở cửa Bát Quái Đài đặng các chơn linh đã leo lên tột phẩm Cửu Trùng Đài đem cho hiệp một cùng Thần-Thánh-Tiên-Phật.

Cái phẩm chót của Cửu Trùng Đài, chỉ cách Bát Quái Đài có một cái cửa, vậy Niết Bàn cách phàm tục có một xác thân. Cái cửa Niết Bàn ấy mở đặng thì cơ đắc đạo tại thế cũng khai ra đặng.

Em xin kết luận:

Hiệp Thiên Đài là Thiên môn mở ra, có kẻ mời người đưa rước, kêu cả nguyên sanh trở lại cựu vị mình, đặng hiệp làm một cùng Thầy, hay là mời cả hóa sanh đến đối diện, tranh đoạt phẩm vị đến ngang bực với Thầy. Ấy là cái ngõ Hiệp các chơn hồn toàn trong Thế giái.

Cửu Trùng Đài là ngôi vị Thần-Thánh-Tiên-Phật, Thầy sắm sẵn tại thế. Nó là không khí biểu (baromètre) để chỉ trước Thiên vị của mình.

Bát Quái Đài là Bạch Ngọc Kinh tại thế.

*
***

Thảm thay! phần nhiều anh em chúng ta chẳng biết trọng phẩm vị của mình, lại còn làm cho ô uế nền Đạo thì mới đắc tội cùng Thiên Đình thể nào?

Cái màn bí mật của Đạo đã mở trọn rồi, Thầy dạy ráng mở mắt đặng xem mà mình cứ nhắm mắt không muốn ngó đến, thì làm sao thoát cho đặng cửa luân hồi.

Đạo vốn là Đạo, mình thâu phục đặng chúng sanh chỉ nhờ Đạo. Mà có Đạo phải có Đức, có Đức phải có Hạnh, toàn Đức Hạnh mới phải mặt cầm mối Đạo của Thầy, nhưng xét kỹ lại thì anh em chúng ta thiếu kém đức hạnh rất nhiều. Chúng ta hằng bị Đức Giáo Tông chê rằng, Thầy quá thương mà lựa chọn, chớ chẳng xứng đáng chút nào. Mỗi phen em nhớ đến lời nói ấy là mỗi lần em thẹn thuồng cho mảnh xác thịt nầy chẳng đủ trí lực mà làm phận sự. Ráng cho lắm bất quá cũng như lửa đôm đốm lúc ban đêm, chớ đâu đáng mặt đèn soi mà dẫn đường người đạo đức.

Bởi vậy em hằng nghĩ rằng: Hễ Thầy thương thì anh em chúng ta phải gắng trau giồi đạo đức đặng thêm nhiều, phẩm càng trọng thì hạnh kia gìn chặt chịa. Bấy nhiêu đó họa may đền đáp ơn thương tưởng của Thầy trong muôn một; chớ cái cơ thoát tục siêu phàm đâu mong vọng tưởng, chỉ nhờ lòng từ bi của Thầy định sao chịu vậy.

Chúng ta nên trông cậy nơi Thầy; thờ phượng Thầy cho hết lòng hết sức, hằng ngày tặng ơn Thầy.

Em đã thấy có một hình phạt sẵn dành cho anh em mình, vậy chúng ta nên đồng lòng ăn năn sám hối, họa may có thoát khỏi đặng chăng?

 

 


[*1] Khi nào Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài xử đoán rồi mà bị cáo còn uất ức, thì mới kêu nài đến Hiệp Thiên Đài).

 

 

Hiệu đính theo chánh tả hiện hành.
Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản tháng 4 năm 1970.◙
 

 

 

Tham khảo: 19280305-BaiDienVanCuaHoPhap_14-02-MauThin-1928(v2022).pdf

 

 


 

 


NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM

Thái Thơ Thanh (Nguyễn Ngọc Thơ)
biên soạn và ấn tống năm 1928.

 

Chữ Hòa

 

Chữ HÒA - là hòa thuận vui hòa. Trong Kinh Lễ có nói rằng: Lễ dĩ hòa di quí. Nghĩa là: Lễ nghi phải lấy chữ Hòa làm quí. Ý nói lễ nghi tuy phiền phức mặc lòng, song rút lại chỉ lấy một chữ Hòa làm gốc. Vì ngoài mặt có hòa nhã thì trong tâm mới kỉnh thành, có tâm thành thì lễ nghi mới đặng trọng vọng. Nếu như có Lễ mà không Hòa thì dẫu lễ nghi to lớn đến đâu cũng là vô ích và Thánh, Thần cũng không hưởng chứng.

Thầy Mạnh-Tử có nói rằng: Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn hòa. Nghĩa là: Thời trời không bằng lợi đất, lợi đất không bằng người hòa. Ý nói thiên thời dầu thuận, địa lợi dầu phúc, song chỉ là trông cậy ở bề ngoài mà thôi, không có thể lâu dài đặng. Sự bền vững còn phải cần ở nhơn hòa, nhơn có hòa thì mới có tình liên lạc, mới một dạ một lòng, đồng tâm đồng lực, mới có thể thực hành trường cửu được. Nói cho đúng thì mưa đều gió thuận, cũng không tốt bằng lòng người. Thành cao hào sâu cũng chẳng hiểm bằng lòng người. Nếu lòng người mà đặng hòa thuận cùng nhau, mặn tình đoàn thể, thì như con cuốn chiếu trăm chân, dẫu cường bạo nào dùng thể lực mạnh mẽ cũng không áp chế nổi được. Nếu mỗi người đều mỗi dạ chia lìa, chẳng ai hòa thuận cùng ai, lại anh em cùng nhau khích bác, nòi giống coi như khẩu thù, nhơn tâm đã bất hòa thì đạo tâm còn từ đâu mà sanh ra đặng. Loài người mà đến đạo đức không có thì còn trông cậy nỗi gì? Thành cao hào sâu liệu đủ cậy chăng? Mưa hòa gió thuận liệu đủ nhờ chăng? Nói tóm lại thì một chữ Hòa có thể bền hơn thành sắt, mạnh hơn súng đồng, mà địa lợi thiên thời cũng không bằng vậy.

Đời Tam Quốc, ông Lưu Tiên Chúa duy lấy hai chữ nhơn hòa mà thắng cả thiên thời địa lợi, làm cho Tào Tháo lắm trận kinh hồn, Tôn Quyền nhiều phen mất vía. Ôi! Xem thế đủ biết một chữ Hòa mạnh mẽ là dường nào chăng?

Trong Kinh Thi có câu rằng: Âm dương hòa, võ trạch giáng. Phu phụ hòa, gia đạo thành. Nghĩa là: Khí âm, khí dương có hòa thì mưa nhuần rưới khắp. Vợ chồng có hòa thì đạo nhà mới nên. Trong Kinh Thơ cũng có câu rằng: Hiệp hòa vạn bang. Nghĩa là phải hiệp hòa muôn nước. Ấy đến Trời Đất âm dương cùng các bậc Thượng Cổ, Đế Vương còn phải lấy chữ Hòa làm gốc, mà truân chuyên đến thế, huống chi là chúng ta ngày nay sao?

Nói tóm lại thì mọi việc ở đời đều phải lấy một chữ Hòa làm lương châm thực hiện. Thế giới có hòa thì mới đặng thái bình thịnh vượng, nhà nước có hòa thì mới đặng tấn bộ văn minh, gia đình có hòa thì mới đặng sum vầy vui vẻ, cha con có hòa thì mới trọn điều từ hiếu, anh em có hòa thì mới biết đạo thương yêu, vợ chồng có hòa thì mới nên cửa nhà đồ sộ, bậu bạn có hòa thì mới hết lòng tín nghĩa. Bực quan trường có hòa thì mới biết sự vẻ vang, người phú túc có hòa thì mới đặng phần vui sướng. Đạo đức có hòa thì mới đặng hoàn toàn, Tôn giáo có hòa thì mới nên trường cửu.

Trên đây là nói phần công dụng kết quả của chữ Hòa, còn về phần thực hành của chữ Hòa thì ta cũng cần phải nên hiểu biết: Hòa đây nghĩa là hòa thuận, ăn ở một cách hòa thuận công bằng, đối với mình, đối với đời bao giờ cũng giữ một thái độ ung dung hòa lạc, không có một chút mảy gì là tư tâm, xử kỷ tiếp vật bao giờ cũng phải sẵn một tấm lòng lượng thứ bao dung. Người mà giữ trọn đặng chữ Hòa thì trong tâm hồn sẽ đặng thơ sướng (*1) thảnh thơi, mà tự nhiên chẳng còn chút cặn nhơ ô trược nữa.

Tuy nhiên, chữ Hòa cũng có nhiều nghĩa, ta chớ khá nên lầm. Đức Khổng-Tử có nói rằng: Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhơn đồng nhi bất hòa. Nghĩa là người quân tử hòa thuận mà không đồng đảng, còn kẻ tiểu nhơn thì chỉ đồng đảng mà không hòa thuận. Ấy chữ hòa với chữ đồng nghe thì tựa như giống nhau, mà xét kỹ ra thì thiệt là khác xa nhau lẳm. Hòa thì chỉ một mực công bằng hòa thuận mà thôi, chớ không tư không đảng. Còn đồng thì là đồng đảng, nghĩa là tụ hội nhau thành quần thành đảng, có ý tư mà không công, chớ chẳng có giá trị gì. Đó là điều giả mạo của kẻ tiểu nhơn thường làm. Nếu ta không cẩn thận thì hoặc có khi lầm vậy.

Chúng ta ngày nay nhờ ơn Đức Chí Tôn hoằng khai Đại Đạo mà Phổ Độ cho chúng sinh, thì chữ Hòa lại là cần hơn hết. Vì sao? Vì rằng muốn nên người đạo đức thì cần phải có một cái đức tính hoàn toàn, mà chữ Hòa tức là đầu phần đức tính của ta vậy. Ta phải hiểu biết rằng: Có hòa thì mới biết thương yêu nhau, trìu mến nhau, mới kết nên giây (dây) đoàn thể được. Một chữ hòa thiệt khiến cho ta sinh cảm tình vô hạn. Kể về phần đạo đức thì không những một chữ Hòa đã là đủ, song nếu ta hiểu biết và thực hành đặng, thì các cái đức tính khác tưởng cũng chẳng khó gì? Bởi vậy, trước hết Bần Đạo xin hiến dâng chư Đạo hữu một chữ Hòa để làm bức thang bước lên con đường đạo đức và xin chư Đạo hữu đừng nên khi nào quên bốn chữ: Hòa Khí Trí Tường (和氣致祥). Nghĩa là khí hòa rất tốt, thì thiệt là may cho nền đạo đức lắm vậy.

 


(*1) Thơ sướng: Rộng rãi, rổng thông
(Đại Nam Quấc Âm Tự Vị - Huình Tịnh Của Quyển 2, trang 404)
Hiệu đính chánh tả theo:
VIỆT NAM TỰ ĐIỂN – Hội Khai Trí Tiến Đức https://vietnamtudien.org/vntd-kttd/a-b.html

 

 

Tham khảo:
NGŨ ĐỨC LƯƠNG CHÂM
Thái Thơ Thanh ấn tống IMPREMERIE ĐỨC-LƯU-PHƯƠNG 394-396-398, Rue Paul Blauchy SAIGON TANDINH 1928
http://caodaiebook.net/tailieusuutap-pdf/19280000-NguDucLuongCham_ThaiThoThanh(v2021).pdf.◙

 


 


 

 


Lời của Allen Kardec
(Trích trong Le livres des Mediums)

Translated by Thanh Nguyen.

 

"Đạo Thư ngày 03/07/1932 (âl. 30 tháng 5 năm Nhâm Thân) của Thượng Đầu Sư THƯỢNG TRUNG NHỰT về VIỆC CƠ BÚT trong Đạo" có phần Pháp văn nơi trang 4 và 5, chúng tôi xin mạn phép lược dịch ra Anh ngữ và Việt ngữ cho chư bạn đọc tường lãm.

Bản Tin Hòa Hiệp

Tham khảo: http://caodaiebook.net/tailieusuutap-pdf/19320703-VeViecCoBut(v2021).pdf

 

.... .... ... ... ... ...

Luôn dịp tôi cũng lục rút ra đây những lời của Đức ALLEN KARDEC, là ông tổ việc cơ bút bên Thái Tây, than, trong cuốn sách “Le livres des Mediums” của Ngài, những điều khó khăn trong việc cơ bút.

Người Ây-Mỹ học việc chi cũng tầm cho thấu đáo tôn chỉ, chớ không phải biết niệm chú vẽ bùa mà dốt rồi dám xưng là Pháp-Sư.

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

“Quelques personnes auraient désiré que nous publions un manuel pratique très succinet, contenant un peu de mots l’indicationdes procédés à suivre pour entrer en communication avec les Esprits; elles pensent qu’un livre de cette nature pouvant, par la modicité de son prix, être répandu à profusion, serait un puissant moyen de propagande en multipliant les médiums ; quant à nous, nous regarderions un tel ouvrage comme plus nuisible qu’utile pour le moment du moins. La pratique du spiritisme est entourée de beaucoup de difficultés, et, n’est pas toujours exemple d’inconvénients qu’une étude sérieuse et complète peu seule prévenir. Il serait donc à craindre qu’une indicationtrop succincte ne provoquât des experiences faite avec légèreté, et don’t on pourrait avoir lieu de se repentir; ce sont de ces choses avec lesquelles il n’est ni convenable, ni prudent de jouer et nous croirions render un mauvais service en les mettant à la disposition du premier étourdi venu qui trouverait plaisant de causer avec les morts. Nous nous adressons aux personnes qui voient dans le spiritisme un but sérieux, qui en comprennent toute la gravité, et ne se font pas un jeu des communications avec le monde invisible.

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

A ces considérations nous en ajouterons une très importante, c’est la mauvaise impression que produit sur les personnes novices ou mal disposes la vue d’expériences faites, légèrement et sans connaissance de cause; elles ont pour inconvenient de donner du monde des Esprits une idée très fausse et de prêter le flanc à la raillerie et à une critique souvent fondée, c’est pourquois les incrédules sortent de ces réunions rarement convertis et peu disposés à voir un côté sérieux dans le spiritisme. L’ignorance et la légèreté de certains médiums ont fait plus de tort qu’on ne le croit dans l’opinion de beaucoup de gens.”

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

Pour extrait conforme.

Translation into English

"Some people would have liked us to publish a very succinct practical manual, containing a few words indicating the procedures to be followed to enter into communication with the Spirits; they think that a book of this nature which could, by the low price of its price, be spread in abundance, would be a powerful means of propaganda by multiplying the mediums; for our part, we would regard such a work as more harmful than useful for the time being at least. The practice of spiritualism is surrounded by many difficulties, and is not always an example of disadvantages that a serious and complete study alone can prevent. It would therefore be to be feared that an indication too succinct would provoke experiences made with lightness, and one might have reason to repent; these are things with which it is neither suitable nor prudent to play with and we would think we are doing a disservice by making them available to the first stunned person who would find it pleasant .We are addressing people who see spiritism as a serious goal, who understand its gravity, and who do not make a game of communications with the invisible world.

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

To these considerations we will add a very important one, it is the bad impression that produces on people novices or poorly disposed of the sight of experiences made, slightly and without knowledge of the facts; they have the inconvenient of giving the spirit world a very false idea and of lending the flank to mockery and often well-founded criticism, which is why the unbelievers come out of these meetings rarely converted and unwilling to see a serious side in spiritism. The ignorance and lightness of some mediums has done more harm than is believed in the opinion of many people."

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

For compliant extract.

Tạm dịch Việt Ngữ:

"Một số người muốn chúng tôi xuất bản một cẩm nang thực tế rất ngắn gọn, chứa một vài từ ngữ chỉ ra các thủ tục cần tuân thủ để giao tiếp với các Chơn Linh; họ nghĩ rằng một cuốn sách kiểu này, với giá trị nhỏ nhoi của nó, được lan truyền rất nhiều, sẽ là một phương tiện tuyên truyền mạnh mẽ bằng cách tạo nhiều đồng tử. Về phần mình, chúng tôi sẽ coi một công việc như vậy là có hại hơn là hữu ích, ít nhất, trong thời gian này. Việc thực hành chủ nghĩa tâm linh bao quanh bởi nhiều khó khăn, và không chỉ luôn luôn là những điển hình bất lợi mà một nghiên cứu nghiêm chỉnh và đầy đủ có thể đoán trước được. Do đó, người ta sẽ sợ rằng với một chỉ dẫn quá cô đọng sẽ không kích thích những trải nghiệm được thực hiện với sự dễ dàng, và người ta có thể có lý do để ăn năn; đây là những thứ mà nó không phù hợp, cũng không thận trọng để đùa giỡn và chúng tôi sẽ nghĩ rằng chúng tôi đang làm một việc tồi tệ bằng cách làm sẵn cho họ choáng váng đầu tiên, và sẽ cảm thấy thú vị khi trò chuyện với người chết. Chúng tôi đang nói chuyện với những người coi chủ nghĩa hữu thần là mục tiêu nghiêm túc, hiểu được mức độ nghiêm trọng của nó và họ không tạo ra một trò chơi bằng cách giao tiếp với thế giới vô hình.

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

Đối với những cân nhắc nầy, chúng tôi sẽ thêm một điều rất quan trọng, đó là cảm tưởng xấu tạo ra cho những người mới làm quen hoặc quá ham muốn khi nhìn thấy những trải nghiệm được thực hiện một cách dễ dàng và không hiểu biết duyên cớ. Họ đem những bất lợi cho thế giới Tâm Linh ý tưởng rất sai lầm khiến người ta mượn sườn chế nhạo và thường xuyên có cớ công kích. Thế nên, những người không tin bước ra ngoài những cuộc họp này, hiếm khi được đổi ý và không sẵn sàng nhìn thấy khía cạnh nghiêm trọng của chủ thuyết Thông Linh. Sự thiếu hiểu biết và dễ dãi của một số đồng tử đã gây hại hơn là tạo sự tin tưởng theo ý kiến của nhiều người."

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

“Trích dẫn để minh chứng”.

 

 


 

 


 

VÀI NÉT SINH HOẠT ĐẠO SỰ CỦA TỘC ĐẠO SYDNEY
ĐẦU NĂM NHÂM DẦN - 2022

 

 

K

 

ính chư Hiền,

Mặc dù các ca dịch bịnh vẫn không giảm, dù thiên tai lũ lụt từ Bắc chí Nam liên tiếp đổ ập xuống dân NSW, chư Chức Sắc, Chức Việc và đồng đạo vẫn kiên trì giữ vững thói quen sinh hoạt Đạo trong khả năng thực hiện được theo kế hoạch và chương trình vạch sẵn. Nói chung, các việc hành chánh thuộc VP Đầu Tộc Đạo như: nhận các Văn Thư đến qua bưu điện hoặc điện thư (PO or email); theo dõi các sinh hoạt Đạo Sự về phương diện hành chánh sở tại hoặc các Tiểu Bang trong nước Úc và hải ngoại; nhận các e-mail hoặc tin nhắn từ các Cơ sở Đạo trong nước và hải ngoại v.v... Đồng thời, Tộc Đạo Sydney vẫn duy trì việc giúp Hương Đạo Adelaide soạn các hồ sơ Hành Chánh và Tứ Vụ, vì Hương Đạo không đủ nhân sự.

Về Lễ Vụ:

Ngoài các Đàn Sóc Vọng và Lễ Vía, Lễ Vụ Tộc Đạo đã điều hành các Lễ:

- Tang sự (cho Cố ĐH Ngô Văn Thạnh được tổ chức vào ngày 29 tháng Chạp năm Tân Sửu tại Tang Nghi Quán Trường An (Aussia), Fairfield và đưa linh đến nơi an nghỉ cuối cùng, tại Rookwood Crematorium, Lidcombe);

- Lễ Tuần Cửu (Cố CTS Nguyễn Quan Lữ và Cố ĐH Ngô Văn Thạnh).

- Lễ Đại Tường (Cố Quyền Nữ Đầu Tộc Đạo Lê Thị Hồng Ngọc).

- Lễ cầu nguyện Hôn Phối cho thứ nam của PTS Lê Gọi Ánh và Huỳnh Song là cháu Huỳnh Thái kết duyên cùng Jessica Lu. Do CTS / Lễ Vụ Trần Ngọc Điệp làm chủ lễ và đôi lứa được nghe lời chúc hôn và nghiêm huấn của Hiền Huynh Q. Quản VP Trấn Đạo Úc Châu, Hiền Tài Nguyễn Chánh Giáo.

- Để Thánh Thất luôn có người vãng lai, cúng kính, Lễ Vụ Tộc Đạo Trần Ngọc Điệp và Nguyễn Đức Nhân luôn kêu gọi đồng đạo dành thời giờ đến làm công quả, tiếp khách hành hương và thực hiện tứ thời. Tham gia khá thường xuyên có Đạo Hữu Khi, Cẩm Vân, ĐH Duyên, ĐH Giới, C.CTS Di Sanh, TS Hạnh, TS Thủy, cùng với HH Q.ĐTĐ...

Về Hộ Vụ:

- Hiền Huynh Hộ Vụ Nguyễn Quan Lữ qui vị là một mất mát lớn cho Tộc Đạo Sydney. Tộc Đạo đã vận động người thay thế. Rất may, cháu Việt Sơn, trưởng nam của Huynh Lữ, người từng giúp Huynh Lữ theo dõi tài chánh của Tộc Đạo, chấp nhận lời mời tham gia Tứ Vụ, với điều kiện có người phụ giúp. Theo đó, các ĐH Lê Vũ và Diễm Trang, cùng TS Đức Nhân sẵn sàng hỗ trợ khâu nầy. Ngoài ra, còn có Huynh Giáo giúp đỡ, với tư cách là Administrator của quỹ.

- Chức sắc, Chức việc, Đạo Hữu thuộc Tộc Đạo Sydney và Bàn Cai Quản sở Phước Thiện và ĐTPM/NSW đã gửi Ủy Lạo Tết Nhâm Dần cho Chức Sắc, Chức Việc tu tại gia và ĐH đau yếu, số tiền A$5,000.00.

- Ngoài ra, hưởng ứng việc tu bổ Thánh Thất, có gia đình Đạo Hữu đã hỉ hiến trướcsố tiền công quả hàng vài chục ngàn Úc kim.

Về Công Vụ:

- Các Chức Việc và Đạo Hữu Thành, Nhuần (Hiếu), Xoàn, Bình, Nhân, Kỳ đã cùng nhau làm xong lều khung nhôm để xử dụng trong các nhu cầu cần thiết sau nầy. H.Đệ Bình đã đặt may lều. Giá ước tính tổng cộng khoảng trên dưới A$5000.00. Tuy nhiên, đã có sự đóng góp tài chánh của một số đồng đạo, như sau: Huynh Giáo $2000, H.Đệ Nhuần $1000, H.Đệ Bình $500, H.Tỉ Cao thị Minh Lệ $500 (đề tên Cao Văn Hải), H.Tỉ Cúc $500 (ghi tên Nguyễn Quan Lữ), H.Tỉ Thu Lan $1000 (tên Trầm Thiện Phú).

- Việc sơn phết mặt tiền Thánh Thất và các câu liễn Hiệp Thiên Đài do Hiền Đệ Bình, Kỳ, Hiếu, Thành, Xoàn, Nhân, Tony, v.v...

- Hiền Đệ Bình đã đắp xong, từ nhà, tượng "Cân Công Bình". Sẽ ráp đặt phía trên tượng Tam Thánh.

- Dĩ nhiên, dù thiếu Lương Vụ, nhưng khâu ẩm thực vẫn được cung cấp khá đầy đủ, mỗi lần có công quả, nghĩa là không thiếu CTS Thu Lan, TS Mai Hạnh, ĐH Mộng Thơ, PTS Ngọc Tuyền, TS Yến Mai, TS Ngọc Thủy, ĐH Cẩm Vân,... có khi đột xuất thì các H.Đệ Bình, Kỳ hoặc Điệp thanh toán mì gói! Rồi cũng trả nợ được cho bao tử "phải uống, ăn nuôi sống thây phàm".

Các sinh hoạt khác:

- Hai Hiền Muội Yến Mai và Duyên đã đặt bánh để tổ chức mừng sinh nhật cho quý vị chức việc sinh trong tháng. Ngoài ra, ĐH Duyên, với sự hổ trợ của H.Tỉ Ngọc Thủy, Mai Hạnh, Yến Mai và H.Đệ Nhân, đã tổ chức nấu ăn gây quỹ giúp ủy lạo các Chức Sắc cao niên, già yếu, bịnh tật và thiếu thốn bên Việt Nam.

- Hiền Huynh Hiền Tài Nghiệp, Q. ĐTĐ Sydney trình bày về chuyến đi hành Đạo ở Adelaide: Giúp tổ chức tang lễ cho một nam Đạo Hữu tên Nguyễn Hồng Phúc, dạy cho Đồng Nhi đọc Kinh, dự lễ cúng Cửu Cửu cho Cố Đạo Hữu Nguyễn Thị Lộc, thân mẫu ĐH Hằng và thăm viếng, hướng dẫn Giáo Lý cho đồng đạo, nhân chuyến đi nầy...

- Đã gắn hai handrails cho hai cầu thang nhỏ dẫn lên thềm ở mặt tiền Thánh Thất. Dự đinh sẽ dựng giàn gỗ để tiếp tục việc sơn tượng Phật Di Lặc và Tam Thế Phật.

- Tộc Đạo đã nhận được bức thư của TS Đức Nhân, viết bằng Anh Ngữ gửi đến các Bạn Trẻ, bạn vong niên, "tâm tình" về hiện trạng thanh thiếu niên Cao Đài và đề nghị một buổi họp mặt thân mật tại Thánh Thất Cao Đài NSW. Chúng tôi rất hoan nghinh tinh thần nầy. Vậy thân mời các bạn đạo mọi giới, hãy vui lòng đến với nhau, để cùng chia sẻ những kỷ niệm thuở nào. Xin đừng ngại đưa con em đến càng đông, càng tốt với chúng tôi nhé!!!

Hẹn gặp.

Thân ái chúc an lạc.

Thanh Nguyên

 

 


 

 


 

Ideas on Caodai Youth Group - Suggestions invited

 

D

ear Caodai Sis n Bro,

 

Good morning to all. A bright Sun morning after such a lengthy rainy period certainly gives us reason to feel happy and inspired. Also, you would've noticed that I placed Sis before Bro just to be... politically correct .

Now, I'd like you to spend a few minutes reading about what I have to say below, and please give it some thoughts .

We have been hearing, talking and thinking about how to maintain and develop our religion here in Australia and the lack of youth participation.

For a start, I'd like to invite all of you (including those I don't have email now) to come up with your own suggestions n initiatives about how to start a CD youth group that is fun and appropriate for the current atmosphere n environment, that is, the 21st century Australia and world.

We all know that currently, there are so many other attractions and distractions out there for our young, and it will be a hard task to guide them back to our religion. The idea is first to provide our young with a place to meet, to have fun and to get to know each other. The introduction of our religion will gradually come afterwards so they won't...get bored n scared away in the first place .

I think we may need to have our first meeting at TT ourselves to discuss more about this. I'll also try to talk to everyone individually before this meeting.

F

or a start, I'd like to propose some of my own thoughts below and you are all welcome to add to / modify them:

CD YOUTH GROUP - HAVE FUN, KEEP FIT & GET TO KNOW YOUR CAODAI FRIENDS

Raise this at monthly meeting to get approval from Toc Dao: will ask for the freedom to run the youth group by our own initiatives, will be opened to advices but reserve the right to apply them selectively as we see fit n relevant.

Talk to your children and encourage them to get involved.

Organise an initial meeting to gauge the reaction/response of our youth then on the first Sun of every month for say 2 hrs.

To get to know other youths within the Caodai community.

To invite grand children of chu Minh, chu Duong and others from Cabramatta group.

Promote exercises, outdoor activities, share music, interests...

Participants to talk abt own field of work, expertise, hobbies, interests, own experiences... for abt 3 minutes each, 2, 3 people at every meeting, with exercises/fun activities in between.

Suggesting topics, activities for next meeting.

Organise outdoors activities: bushwalk, picnic, bike rides...

For the youth group to come up with a catchy name for the group, a fun motto every few months...

Please take some times to think about this, contribute ideas and support to get this initiative off the ground. Also, by getting involved with starting the Youth Group, a side benefit for ourselves would be to feel young once again, and to share our own life experiences with our young.

Thanks and warmest regards

DUC-NHAN

 

 


 

 

THỨ BA NGÀY TẾT ĐẦU NĂM


Ái Nhân

 

 

Đi về thế giới nội tâm,

Vào nơi sâu thẳm đặng tầm nguồn chơn.

Ngày qua năm Tết đến,
Mượn chữ nghĩa thế gian.
Trải lòng chơn trên giấy,
Một khối tình chứa chan.

 

M

 

ùng một tháng giêng năm Nhâm Dần, nhằm Ngày một tháng hai năm 2022. Đông Tây lại gặp nhau cùng ngày của đầu tháng, người viết mới có dịp cầm bút viết ít lời cho vui trong thế giới chữ nghĩa cằn cỗi của tuổi già. Mà đã có lần nhủ bảo với lòng quăng bỏ mọi thứ trên đời để trở về đầu nguồn đại tịnh của Trời Đất.

Thứ Ba ngày Tết đầu năm nhìn về phương trời xa xăm! Một năm của thế giới đổi thay đi về đâu trong cảnh bể dâu? Sân chơi dâu bể đó là những cảnh đời phô diễn hằng ngày, theo nhịp đập của thời gian bên cạnh dòng đời vô định.

Bao nhiêu tâm thức còn sót lại trong tuổi già, con người đến rồi lại đi. Bóng Xuân lần khuất vào nắng chiều của rừng Thu tĩnh lặng. Người thân xa lần, người quen mất dạng.

Nhưng cái ác lẫn lương thiện vẫn sanh hóa nơi vườn địa cầu, trong lớp võ bọc của xác thân trần tục. Vì đó là đời sống kia mà!

Nhơn loại lại tốn hao giấy mực chữ nghĩa để nói về thiên hạ sự. Nhưng ít ai nhìn lại một thế giới sâu thẳm nơi nội tâm, để nhận ra lẽ thật trần trụi của kiếp trần.

Nơi thế giới đó là một trường tranh đấu giữa thiện và ác. Mà không dễ gì nhìn thấy được sự chơn thật. Vì thiếu lòng từ và cái dũng đó chăng? Bởi con ý mã phàm tánh luôn ngự trị trong trí năng con người, khi mà ta đã chọn nẻo về của Trí.

Nẻo về của Trí hay nẻo về của Tâm là hai con đường do ở nơi ta lựa chọn. Không phải do ngoại cảnh bên ngoài. Ngoại cảnh chỉ là một lực tác động trong cái nhân duyên mà thôi.

Con người vẫn luôn đi tìm một ước mơ, một hoài bảo dầu đó là con đường xa xăm vô tận. Nhưng đó là điểm đến trong ý nghĩa thiện lành. Cũng có những ước mơ hoài bảo trên con đường danh lợi quyền chức theo tư ý phàm tâm, trên một sân khấu thay đổi nhiều kịch tính, khóc cười ra nước mắt.

Mùa Hè năm nay trời trở lạnh giống như hơi lạnh của tiết Thu. Lòng cứ ngỡ gió Thu lại đến! Gọi gió kêu mây hỏi rằng:

Nhắn gió, gió lại bảo. Ta đưa ngọn gió Thu theo dòng đời ấm lạnh, để nhận ra chân hạnh phúc nơi thế giới nội tâm. Nguồn tâm sâu thẳm!

Hỏi mây, mây lại nói. Ta giúp cho có hạt mưa Thu thấm lá vàng rơi. Tắm kiếp nhân sinh rửa sạch bụi trần bên Đoạn Trần Kiều.

Ngoài hiên mây đen che phủ rỉ rả những hạt mưa rơi, những chiếc lá hứng những giọt nước ngọt lịm theo dòng đời. Cảnh sắc tuổi Xuân hay bóng chiều của kiếp trần, là một vẻ đẹp của những buổi bình minh hay hoàng hôn.

Cái vẻ đẹp lắng động lòng trần đi vào nội tâm. Ta mới thấy Đấng Tạo Hóa đã ban cho nhơn loại tình yêu thiên nhiên vô tận. Ắt hẳn các bạn đã có lần cảm xúc khi đứng trước bức tranh tuyệt tác của Đấng Chí Linh ban cho loài người.

Tình yêu thiên nhiên vạn vật đó! Đã đưa con người sống gần với nhau hơn, lương thiện hơn. Sống mãi trong trái tim thương yêu nhơn loại.

Xin mượn bài thơ “TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN” viết vào mùa Đông năm 2017 để thay cho lời kết.

 

Thiên nhiên phong cách thoát trần,

Đã cho sức sống về gần cửa chơn…

Khối Đức chân như thật đáng yêu,
Ngàn cây hoa lá, cảm ơn nhiều.
Hoa chen trong nắng ngày Đông lạnh,
Cây cỏ thắm tình cảm bấy nhiêu.
Lẽ thật trong hoa, màu cỏ nhận,
Cây cho tình ái, sắc hương chiều.
Đường trần đi ở theo Trời đất,
Lưu lại khối tình thật đáng yêu.

Là tình yêu trong khối Thánh chất trọn lành của Đấng Hóa Công, Cha của vạn vật muôn loài.

Georges Hall nước Úc Ngày Tết năm Nhâm Dần.
DL. 01-02-2022
Ái Nhân

 

 

 

CHIẾC LÁ NHÂN SINH

 

Cửa chơn nhơn loại duyên may,

Thương sanh ái tuất Đức dày tâm thân.

Thầy khuyên phụng sự đường trần,

Chí Từ Mẹ dạy lòng nhân lối về.

 

Về nguồn gốc Đạo cảnh Trời cao,
Chiếc lá nhân sinh gởi kiếp nào?
Chơn pháp Chí Linh là tận độ,
Khuôn thuyền Bát Nhã đỡ nâng đau.
Nghiệp trần khổ hải dây oan trái,
Đường Đạo Thánh tâm vẫn một màu.
Nhân nghĩa, bảo sanh, người Phước Thiện,
Khai tâm mở trí hiểu Trời cao.

Thảo Vân Trang mùa Thu nước Úc,
01-03-2022
Ái Nhân

 

 

 

 


 

 

KỶ NIỆM ĐỨC CAO THƯỢNG PHẨM
MÙNG MỘT THÁNG 3 (ÂL)


Mộc Lan

 

Đ

 

ôi dòng suy nghĩ của một hậu tấn đang lần mò bước chân tìm quay về nguồn cội.

Hậu sinh thiết nghĩ, cuộc đời là một dòng chảy lớn, người đến kẻ đi và gieo vào lòng chúng ta những dư âm thăng trầm như nốt nhạc.

Chúng ta cũng là những người khách trần xuất hiện ở cõi đời này, đều mang trong người một sứ mạng và nghiệp lực, vì thế khi chúng ta gặp ai và làm gì đó là duyên nghiệp đã định.

Và nó diễn ra như một sân khấu hý trường, trong đó có đầy đủ đào kép và ông bầu, dầu hay dầu dở thì bổn phận chúng ta phải diễn cho xong vai tuồng cõi tục.

Xong rồi thì mới biết, biệt phân chơn giả trắng đen.

Đạo Cao Đài khai rạng, trong buổi Hạ ngươn là cốt yếu để lọc lược tâm lý của nhơn sanh, chọn phần đức hạnh đặng gầy tạo cuộc đời tân dân, bảo tồn nhơn loại.

Nền luân thường xưa con người cho ra đời Thánh đức hiền lương.

Vì thế Đạo cần phải có đức mới lập nên. Đức trọng thì ắt có quyền cao, đó là sở định của Đức Chí Tôn [*1]. Bởi vì có đạo đức mới có lòng bao dung.

Có câu;

Ngoan vì đạo đức phước mới lai tồn. [*2]

Tục ngữ cũng có câu;

Vàng không thuần khiết, người không ai hoàn mỹ.

Vì thế khi chúng ta có đối diện với một vai diễn khắc nghiệt của một bạn diễn thì cũng nên nhẫn nhịn, bao dung và tha thứ,

Nhẫn nhịn không phải chúng ta ngu mà vì chúng ta là người tu, người tu là phải biết trừ khử sửa đổi những thứ vướng mắc ở cõi trần tục, diệt tánh phàm thì tánh Thánh mới hiển lộ, bởi vì nó là chủng tử của mỗi con người mà ai cũng có nhưng lại bỏ quên.

Ngài VICTOR HUGO có nói: "Trên thế giới thứ rộng lớn nhất là Đại dương, nhưng thứ rộng lớn hơn đại dương là bầu trời, mà thứ rộng lớn hơn bầu trời lại chính là lòng người".

Vì thế muốn có cuộc sống vui vẻ và hạnh phúc trong cõi hồng trần này thì đừng đắm chìm trong lớp bụi màu hồng mộng uyển, mà hãy sống trong tỉnh thức vì có tỉnh thức chúng ta mới nhận ra rằng cuộc đời là giả tạm, chúng ta đến đây mượn thân xác này có dài lắm chăng cũng chỉ là 100 năm, rồi cũng phải trả lại mà quay về nơi xưa vị cũ.

Vì vậy hãy sống tốt và đối xử tốt với nhau, dùng tấm lòng từ bi độ lượng mà lãnh hội hầu qui hồi nhơn tâm, tâm chúng ta cho ra cái gì sẽ được phản hồi cái đó, nếu muốn biết có phải không thì chúng ta thử đến hang đá hay vào phòng trống, hét lên những gì chúng ta muốn nói, tức thì tiếng nói đó sẽ được phản chiếu lại bên tai chúng ta tức thì, có người cho là tiếng vọng âm thanh nhưng kỳ thực đó là tiếng vọng cuộc sống là nhân quả mà chúng ta cho ra và nhận lại.

Cho nên; muốn có một cuộc hành trình tốt đẹp thì chúng ta nên tạo một tiếng vọng thiện lương, có thiện lương thì mới gầy thân ái với nhau, không sanh ra những bất đồng hơn thua ganh ghét tỵ hiền oán thù thì cơ sanh hóa mới không bị tận diệt.

  

THI

Đường trần là chốn quanh co,
Muốn cho thẳng lối phải dò cái tâm.
Bước chân không muốn thăng trầm,
Thì nên độ cảnh diệt mầm khổ đau.

Nhật Ký Cõi Trần, sáng ngày 27 tháng 1 năm 2022.

Mộc Lan cẩn bút.

 


[*1] Thánh giáo Cao Thượng Phẩm ngày 22-12-Kỷ Sửu (dl. 8-2-1950) THÁNH NGÔN SƯU TẬP QUYỂN III. Sưu Tầm Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng.

[*2] Thánh giáo Nữ Đầu-Sư Lâm Hương Thanh ngày 25-7 Kỷ-Sửu (dl. 18-8-1949) THÁNH NGÔN SƯU TẬP QUYỂN III. Sưu Tầm Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng.

 

  

Tờ thỉnh giáo của Hộ Đàn Pháp Quân, ngày 1 tháng 4 Quí Tỵ (1953) về việc bái lễ Chí Tôn tại Bát Quái Đài, cả Chức Sắc, Chức việc, xây lưng lại xá Bàn HỘ PHÁP khi mãn Đàn, rồi Chức Sắc Hiệp Thiên Đài xá đáp lễ lại.

LỜI PHÊ ĐỨC HỘ PHÁP

Cái xá ấy chẳng phải làm lễ trọng Chức Sắc Hiệp Thiên Đài từ lớn đến nhỏ, mà là xá chữ KHÍ. Chữ KHÍ là nguồn cội của PHÁP đã biến sanh ra vạn vật, PHẬT là trước tới PHÁP là thứ kế TĂNG là tiếp, cái xá ấy là kính Đệ Tam Qui, trong Pháp ấy xuất hiện PHẬT MẪU kế tới Vạn linh, vì cớ cho nên DIÊU TRÌ CUNG cùng Hiệp Thiên Đài có tình mật thiết cùng nhau về một căn cội PHÁP, để vận hành Ngươn Khí tạo Vạn linh thì vị HỘ PHÁP do DI ĐÀ xuất hiện rồi kế vị HỘ PHÁP, rồi kế tiếp Long Thần HỘ PHÁP cùng toàn bộ Pháp Giới đương điều khiển Càn Khôn Vũ Trụ cũng đều do nơi chữ KHÍ mà sanh sanh hóa hóa. Chào chữ KHÍ tức là chào Tam Qui Thường Bộ Pháp Giới, tức là chào mạng sanh của chúng ta, chớ chẳng phải chỉ chào HỘ PHÁP Thập Nhị Thời Quân. Thập Nhị Địa Chi đã xuất hiện mà đang thi hành sứ mạng nơi Hiệp Thiên Đài, mà chào toàn thể Vạn Linh đã sanh hóa từ Tạo Thiên Lập Địa.

Xin nhớ và truyền bá lời Huấn Giáo nầy, chính mình lầm hiểu là thất đức chớ chẳng phải người đảnh lễ là thất đức.

HỘ PHÁP (Ấn Ký)

 


Lời Phê các việc của Đức Hộ Pháp, trang 27.
Bản in ronéo Tài Liệu Sưu Tầm của Ban Kiến Trúc dành để học hỏi.◙

19730000-LoiPhe-cacviec-cua-DucHoPhap_BanKienTruc(v2021).pdf

 

 


 

 

DÒNG SỬ ĐẠO! ĐI TÌM HỒN ĐẠO
HIỆP THIÊN ĐÀI


Ái Nhân

 

 

Ánh trăng soi bóng về đâu?

Đi bên dòng sử bể dâu gánh tình.

Rào ngăn con ý mã,
Mới mong mở Huệ tâm.
Tu chơn càng khó đạt,
Bởi chẳng gần Thánh tâm.
Lần theo cơn gió bụi,
Đường sao quá xa xăm!

 

PHÁP CHÁNH. - Cầm cân giữ chánh công,
HIỆP THIÊN. - Thầy ngự Đạo gieo lòng.
Chơn thần của Đạo luôn hằng sống,
Nguồn Đức diệu huyền Đấng Hóa Công.
Hội Thánh. Trường thi nhiều khổ hạnh,
Cửa Tu. Hạt giống nghĩa nhân trồng.
Chủ quyền Đạo Pháp không thay đổi,
Sống mãi trong lòng với núi sông.

 

Đường Đạo ngày nay,
Xã hội đổi thay!

 

Dòng sử Đạo quyền, lúc thịnh, suy,
Không vì lẽ ấy diễn sai đi.
Rồi đem phàm ý tô thêm vẽ,
Nguồn Đạo phân chia hữu ích gì?
Bởi khó đường Tu, nơi bước tục,
Cửa Chơn xa lắm, Đạo nan vi.
Thuyền tâm đâu dễ tìm Tri kỷ,
Gởi cả nỗi lòng qua lối thi.

 

Đường vạn dặm đi tìm Hồn Đạo,
Rất nghiêu khê nhưng bảo với lòng.

Không vì rét mướt thôi Đông,

Đức tin gốc Đạo vẫn không bỏ trường.

 

Trường Hạnh Đường hiền lương gắng bước,
Nẻo đời qua mấy lượt Thu sang.

Kiếp sanh luôn nhớ cội nguồn,

Trời cao bể rộng, vui buồn ngoài tâm.

 

Rừng xanh gió nhạc thơ ngâm…

Thảo Vân Trang mùa Hè nước Úc, 15-02-2022
Ái Nhân

 

 

 

LỜI CỦA NGƯỜI VIẾT:
Đi tìm Hồn Đạo HTĐ


 

Hiệp Thiên Đài là hồn. Là chơn thần của Đạo.

Luôn luôn hiện hữu và sống mãi trong lòng của người Tín Đồ Cao Đài. Dầu cho lịch sử có thay đổi theo vận nước. Dầu cho nền Đạo phải chịu dưới sự áp lực của quyền Đời.

Là một người Tín Đồ Cao Đài phải biết tôn trọng chủ quyền tối cao của Hội Thánh. Chủ quyền đó là:

PHÁP CHÁNH TRUYỀN là Hiến Pháp của Đạo.

"Pháp Chánh Truyền được Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho ngay sau khi làm Lễ Khai Đạo Đó là đêm 15 rạng 16 tháng 10 năm Bính Dần (dl 20-11-1926)." [*0]

TÂN LUẬT. Hội Thánh lập luật, Đức Chí Tôn phê chuẩn.

ĐẠO LUẬT. Hội quyền Vạn linh công nhận và được Hội Thánh ban hành.

Quyền Vạn Linh lập luật làm một nền tảng pháp lý Đạo. Mà Hội Thánh sẽ thay cho hình ảnh Chí Linh của Thầy tại thế, để thực thi cái quyền Chánh Trị Đạo được vận hành hết chu kỳ thất ức niên. Đưa con thuyền Đạo tận độ Vạn linh đem con cái của Thầy trở về thiêng liêng vị.

Hội Thánh, trường thi nhiều khổ hạnh,
Cửa Tu, hạt giống nghĩa nhân trồng.

Hội Thánh thay cho Thánh Thể của Thầy phải chịu nhiều thử thách. Là một trường khảo thí đạt quả vị thiêng liêng. Từ phàm chất sang Thánh chất. Càng trọng quyền ắt trọng phạt. Phải đủ nghị lực đức tin mới xứng đáng làm Môn Đệ của Thầy. Quả thật không dễ chút nào!

Cửa Tu hành là con đường thiên lý gian nan. Rất khó khăn để thắng con ý mã của mình, tư dục phàm tánh luôn ngự trị ở trong ta.

Người Tín Đồ nên sống cho trọn vẹn bổn phận và trách nhiệm của mình đối với Đạo lẫn Đời. Đem hạt giống nhân nghĩa thương yêu gieo vào lòng con cái của Thầy. Giữ gìn hạnh khiêm cung. Vì hạnh khiêm cung là hạnh Đạo yêu quý của Thầy.

Quý lắm thay!

Thảo Vân Trang ngày 15 tháng 1 năm Nhâm Dần
Mùa Hè nước Úc ngày 15-02-2022.
Ái Nhân
Cẩn bút

 


XIN TRÍCH LỤC TÀI LIỆU ĐẠO SAU ĐÂY:

HIỆP THIÊN ĐÀI.

Hộ Pháp Chú Giải Pháp Chánh Truyền:

Ấy vậy Cửu Trùng Ðài là xác, Hiệp Thiên Ðài là hồn. Ðã nói rằng Cửu Trùng Ðài là Ðời, tức nhiên là xác của Ðạo, còn Hiệp Thiên Ðài là Ðạo, tức nhiên là chơn thần của Ðạo, vậy thì xác thịt có định hạn lệ đẳng cấp, chớ chơn thần chẳng hề định hạn lệ đẳng cấp đặng. [*1]

Cửu Trùng Ðài là Ðời, mà Hiệp Thiên Ðài là Ðạo, cho nên buộc Ðời phải nương Ðạo mà lập ra thiệt tướng, mới mong độ rỗi nhơn sanh chuyển cơ tạo hóa.

Cái hệ trọng là nếu không có Hiệp Thiên Ðài thì không có Ðạo, Trời Ðất qua chớ Ðạo không qua, nhơn loại tuyệt chớ Hiệp Thiên Ðài không tuyệt. (Hay lắm) [*2]

BỘ PHÁP CHÁNH:

Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh cho Đạo tức là lập chủ quyền cho Đạo đó vậy. Nếu ai có tinh thần xây dựng nền Đạo thì tất nhiên phải tôn trọng chủ quyền đó.

Cũng nhờ chủ quyền đó mà Hội Thánh là hình thể Đức Chí Tôn tại thế mới có đủ quyền hành để thể Thiên hành hóa. [*3]

PHÁP CHÁNH TRUYỀN:

Xin trích lục Cao Đài Từ Điển Soạn giả Đức Nguyên nói về Pháp Chánh Truyền.

Pháp Chánh Truyền là pháp luật chơn chánh mà Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế truyền dạy để làm căn bản lập giáo, tổ chức và điều hành nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Pháp Chánh Truyền được Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho ngay sau khi làm Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất tạm đặt tại Từ Lâm Tự (chùa Gò Kén) Tây Ninh. Đó là đêm 15 rạng 16 tháng 10 năm Bính Dần (dl 20-11-1926), phò loan: Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.

Bản văn Pháp Chánh Truyền nầy rất quan trọng, nên Đức Lý Giáo Tông dạy Đức Phạm Hộ Pháp chú giải Pháp Chánh Truyền ra từng chi tiết cho thật rõ ràng để dễ thi hành, và dâng lên cho Đức Lý Giáo Tông duyệt lại rồi mới ban hành.

Ngày nay, Đạo Cao Đài có quyển Pháp Chánh Truyền Chú Giải làm cơ sở tổ chức điều hành nền Đạo, và có thể gọi đây là Hiến pháp của Đạo, do Đức Chí Tôn qui định, nên có tính cách cố định, bất di bất dịch trong thất ức niên. [*4]

TÂN LUẬT:

Tân Luật của Đạo Cao Đài là một Bộ Luật tu hành thời ĐĐTKPĐ, do Hội Thánh thay mặt nhơn sanh lập nên, được Đức Lý Giáo Tông giáng sửa, được Đức Hộ Pháp chuẩn nhận và có Đức Chí Tôn phê chuẩn. Do đó, Tân Luật là Bộ Luật vô cùng quan trọng của Đạo Cao Đài, có giá trị như Thiên điều, nên gọi Tân Luật là Thiên điều tại thế.

Tân Luật được Hội Thánh thay mặt nhơn sanh lập ra, đương nhiên phù hạp với trình độ tiến hóa của nhơn sanh hiện nay. Khi nhơn sanh tiến hóa đến một giai đoạn cao hơn nữa thì nhơn sanh có quyền cầu xin Đức Chí Tôn cho phép sửa Luật, để cho Tân Luật nầy luôn luôn phù hợp với nhơn trí, làm cho Đạo Đời tương đắc mà dìu dắt cả nhơn sanh tiến hóa trong sự bác ái và công bình. [*5]

QUYỀN VẠN LINH:

Xin trích lục Cao Đài Từ Điển Soạn giả Đức Nguyên nói về Quyền Vạn Linh như sau:

Đức Chí Tôn là Đấng Tối Cao, sản sanh ra muôn loài, song Ngài đã nói rằng: 'Thầy là các con, các con là Thầy ', ý nghĩa nói rằng: Quyền Vạn Linh bằng với Quyền của Chí Linh, ý muốn của Vạn Linh (Créatures) tức là ý muốn của Chí Linh (Créateur), ý muốn của các con tức là ý muốn của Cha Lành đó vậy.

Vì thế mới có lập Quyền Vạn Linh để Vạn Linh tự lập luật lấy đặng tự kềm chế mình trong con đường tu, hầu qui hồi cựu vị, hội hiệp cùng Thầy. [*6]

 

 


Ghi Chú:

[*0] CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN. Bản in PDF Q.2 VẦN P, trang 96.

[*1] Pháp Chánh Truyền. Bản in PDF, trang 90. Đoạn thứ 3.

[*2] Pháp Chánh Truyền. Bản in PDF, trang 90. Đoạn thứ 5-6.

[*3] CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Bản in PDF Q.2 VẦN P, trang 98.

[*4] CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Bản in PDF Q.2 VẦN P, trang 96-97.

[*5] CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Bản in PDF Q.3 VẦN T, trang 249.

[*6] CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Bản in PDF Q.1 VẦN H, trang 264-265.

PHÁP CHÁNH TRUYỀN Hội Thánh Giữ Bản Quyền Ấn Bản Năm Nhâm Tý (1972) In tại Nhà in Trung Tâm Giáo Hóa Thiếu Nhi Thủ Ðức.
Bản in PDF: http://caodaiebook.net/e-book-pdf/PhapChanhTruyen(v2011).pdf

CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Q.1 & Q.2 & Q.3  Soạn Giả Đức Nguyên - Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng.
Bản in PDF:
http://caodaiebook.net/CaoDaiTuDien(v2012)/index.html &
http://caodaiebook.net/e-book-pdf/index.html#CaoDaiTuDien
http://caodaiebook.net/e-book-pdf/CaoDaiTuDien(v2012) Q1.pdf
http://caodaiebook.net/e-book-pdf/CaoDaiTuDien(v2012) Q2.pdf
http://caodaiebook.net/e-book-pdf/CaoDaiTuDien(v2012) Q3.pdf

 

 

 

 


 

 

ĐI TÌM TÔNG ĐƯỜNG


Ái Nhân

 

 

Mơ về cố quốc Tây Ninh,

Ở nơi xa thẳm là hình nước non.

 

Đi từ muôn kiếp trước,
Của gánh nợ nhân luân.
Rõ là do duyên phận,
Nên trả nghĩa một lần.

 

Hành giả ngày Xuân!

 

Đâu nguồn cội? Nhìn ra lẽ thật,
Tìm Chí Linh Thánh chất nguyên căn.

Đường trần bước Đạo khó khăn,

Khổ Hiền chọn nghiệp nhọc nhằn vững tâm.

 

Đường đi nghịch cảnh dặm trần ai,
Vào cõi trăm năm một bước dài.
Ơn nghĩa kiếp xưa, tìm quả nghiệp,
Những mong trả hết, một lòng ngay.
Đoạn trường dầu đến không than vãn,
Gìn giữ hiền lương bỏ lợi tài.
Chơn Đạo lần theo gầy nghiệp Đức,
Tông Đường đâu dễ gặp duyên may.

 

May duyên đáp tạ nghĩa ân tình,
Không thẹn với lòng ở kiếp sinh.
Nhập cảnh mới hay muôn việc khó,
Tánh hiền nhân ái mãi lo gìn.
Nào ai hiểu được tiền căn trước?
Đi hết chặng đường hiệp Chí Linh.
Cửa Đạo mong trau tâm chí thiện,
Khiêm cung ngôn hạnh đặng nên mình.

Georges Hall mùa Hè nước Úc, ngày 01-02-2022
Nhằm ngày Tết năm Nhâm Dần
Ái Nhân

 

 

LỜI CỦA NGƯỜI VIẾT:


 

Cái nóng như thiêu của mùa nắng Hạ Miệt Dưới. Khi quê hương trên đó đã là Xuân ngày Tết năm Nhâm Dần.

Thế nhân vui Xuân ba ngày Tết với những lời chúc tốt đẹp cho nhau, với cảnh trí chưng bày đầy màu sắc theo ngọn gió Xuân.

Cành Mai Xuân thắm, Xuân tình đẹp,
Ngàn nụ hoa Xuân nở nụ cười.

Ở một nơi u tịch Thảo Vân Trang, người hành giả luôn có thói quen nhìn về một phương trời xa trong thế giới nội tâm. Để nhìn lại quả nghiệp trên con đường tấn hóa luân hồi.

Sanh ra nơi cõi thế, các chơn linh mượn mảnh hình hài xác thân của tổ tiên ông bà. Gia tộc đó đã định hình một chuổi di truyền từ muôn kiếp trước. Quả nghiệp của các chơn linh, sẽ đi theo chuổi di truyền đó cho hết cuộc hành trình sanh tử. Để rồi lực đẩy của cái nhân làm cho các tế bào lành tính hay ác tính phát triển.

Đường tấn hóa không dừng lại ở đó. Chơn linh lại tiếp tục đi tìm tông đường của mình dầu nội vi hay ngoại vi. Đó là bối cảnh của con đường chọn nghiệp trong một bức tranh xã hội.

Những sinh hoạt chung trong một cộng đồng nào đó. Những tương thông cùng suy nghĩ như nhau, cùng đi trên một con đường, cùng chia sẻ những kỷ niệm biến cố trong đời. Đó là tình bạn tương giao trong một tông đường đó chăng?

Không ai trả lời được điều đó bao giờ? Chỉ có người trong cuộc mới có thể nhận ra lẽ thật mà thôi.

Ái Nhân

 

 

 

DI SẢN THIÊNG LIÊNG

Ve kêu nắng Hạ bến trần,

Xuân đời dòng sử về gần cảnh chơn.

 

Bóng Xuân mờ dạng nỗi niềm riêng,
Của mỗi chơn linh có chủ quyền.
Tự định phận duyên đường tấn hóa,
Trở về nguồn cội cõi thiêng liêng.
Vườn tâm vun quén, tâm đầy khuyết,
Nguồn Đức Tu chơn, đạt hạnh hiền.
Thoát tục gìn lòng đâu phải dễ,
Bước trần di sản tạo nhà Thiên.

Georges Hall mùa Hè nước Úc ngày 01-01-2020
Ái Nhân

 

 

 

 


 

 


Tỏi với Sức Khỏe

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

T

háng 12 năm 1998, một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày rưỡi đã được tổ chức tại New Port Beach, California, để thảo luận và trình bày kết quả nghiên cứu về công dụng của tỏi.

 

 

Hội thảo được Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ và Đại Học Pennsylvania bảo trợ, với sự tham dự của trên hai trăm khoa học gia, chuyên viên y tế, dinh dưỡng đến từ 12 quốc gia trên thế giới.

Kết luận của hội thảo là các cuộc nghiên cứu trong nhiều năm qua đã xác định những ích lợi của tỏi đối với sức khỏe con người.

Kinh nghiệm chữa bệnh bằng tỏi.

Chữ viết đầu tiên của dân Sanskrit cách đây 5000 năm đã nhắc đến TỎI nhiều lần.

Trong mộ cổ Ai Cập 6000 năm về trước có những củ tỏi khô nằm ướp trong nắm xương. Sách Y học Ai Cập trên 3000 năm về trước có ghi hai mươi bài thuốc tỏi để trị một số bệnh như đau bụng, đau nhức khớp xương, nhiễm độc, cơ thể suy nhược…

Công nhân xây đắp Kim Tự Tháp được cung cấp thực phẩm có tỏi để tăng cường sức lao động. Những giác đấu Hi Lạp, binh sĩ La Mã cũng được cho ăn tỏi để chiến đấu can trường, dũng cảm hơn.

Trong các cuộc hải hành, dân Viking đều mang tỏi theo làm lương thực và để trị bệnh khi cần đến.

Tỏi đã được các vị thầy thuốc xưa kia ca ngợi như một dược thảo có giá trị. Ông tổ nền y học tây phương Hippocrates (460-377 trước Công nguyên) coi tỏi là môn thuốc tốt để trị các bệnh nhiễm độc, bệnh viêm, bệnh bao tử, và loại trừ nước dư trong cơ thể.

Galen (129 – 199), một trong những danh y nổi tiếng sau Hippocartes, ca tụng tỏi như môn thuốc dân tộc trị được nhiều bệnh.

Theo Pedonius Dioscorides (40 – 90), một danh y Hy Lạp, thì tỏi làm giọng nói trong trẻo, làm bớt ho, làm thông tắc nghẽn ở mạch máu, làm lợi tiểu, bớt đau răng, chữa bệnh ngoài da, và chữa cả hói tóc nữa.

Vào thế kỷ 16, Alfred Franklin nói với dân chúng thành phố Paris là nếu họ ăn tỏi tươi với bơ vào tháng Năm thì họ sẽ được khỏe mạnh trong những tháng còn lại.

Trong thế chiến thứ nhất, người Nga đã dùng tỏi để trị bệnh nhiễm vi trùng. Họ gọi tỏi là “thuốc kháng sinh Nga Sô”. Các bác sĩ Anh cũng đã biết dùng tỏi để trị vết thương làm độc ở chiến trường.

Khi có các dịch cúm vào đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đã dùng tỏi như một phương tiện để chống lại sự hoành hành của bệnh.

Sách xưa có ghi lại câu chuyện về bốn tên trộm lừng danh ở thành phố Marseille: trong vụ dịch hạch kinh khủng ở thành phố này, có bốn tên trộm vẫn ngang nhiên vào nhà các người bị bệnh để trộm của mà không bị lây bệnh. Khi bị bắt, chính quyền hứa sẽ tha tội nếu họ nói bí quyết không lây bệnh. Bốn chú đạo chích khai là suốt thời gian dịch hạch, họ ăn rất nhiều tỏi tươi, do đó họ không bị bệnh.

Vào thời Trung Cổ, khi đi vào những vùng nhiễm độc, các thầy thuốc đều mang nhiều nhánh tỏi để phân phát cho dân chúng cũng như để ngăn chặn hơi độc xâm nhập vào mũi.

Các triết gia cũng có nhiều nhận xét về giá trị của tỏi.

Celsius, vào thế kỷ I đã khuyên dùng tỏi để trị nóng sốt và bệnh đường ruột.

Virgil (70 – 19) thấy tỏi làm tăng sức lực của nông dân.

Aristophanes (448 – 385 trước Công nguyên) thì nhắc nhở lực sĩ, chiến sĩ ăn tỏi trước khi xuất trận để chiến đấu cang cường hơn.

Dân Nga xưa kia ngâm tỏi với rượu vodka, để lâu hai tuần rồi uống và tin là sẽ sống lâu.

Dân Ukraine uống nước chanh ngâm tỏi để làm tăng sức lực, làm người trẻ ra.

Dân Da Đỏ bắt chước đoàn thám hiểm Tây Ban Nha, dùng tỏi để trị các bệnh khó tiêu, đau bụng, đau tai và họ rất ít bị bệnh yết hầu vì mùi tỏi làm cuống phổi mở rộng, hô hấp dễ dàng.

Người Mỹ xưa kia chữa bệnh tim phổi bằng cách đắp tỏi giã nhỏ lên chân và họ giải thích là như vậy tỏi sẽ hút hết chất độc xuống để đưa ra ngoài. Tổng Thống Benjamin Franklin thích ăn súp nấu với tỏi, còn binh sĩ của Tổng Thống George Washington thì được cho thêm tỏi trong khẩu phần.

Vào đầu thế kỷ trước, bệnh lao rất phổ biến và khó trị vì chưa có thuốc kháng sinh. Các bác sĩ bèn chữa bằng tỏi và thấy là rất công hiệu để diệt vi trùng lao. Sau đó một thời gian, nước Mỹ bị dịch cúm và bệnh tinh hồng nhiệt, dân chúng bèn đốt tỏi trong nhà và hơi khói tỏi che chở nhiều người khỏi bị bệnh. Nhiều người còn nhai tỏi để ngừa bệnh cúm.

Năm 1941, bác sĩ Emil Weiss ở Chicago làm một cuộc thử nghiệm trị bệnh bằng tỏi cho 22 người mang các bệnh khác nhau như đau bụng, nhức đầu, táo bón. Kết quả là những người này hết bệnh.

Về niềm tin dị đoan, tỏi đã được dùng là vũ khí để trừ tà ma, quỷ quái. Dân Âu châu xưa rất sợ ma cà rồng hút máu và để xua đuổi, mỗi nhà đều treo nhiều nhánh tỏi ở trước cửa. Văn tự Ấn Độ giáo từ nhiều ngàn năm trước có ví một củ tỏi như một tráng sĩ diệt trừ yêu quái.

Dân nài ngựa treo vài nhánh tỏi vào cương để ngựa phi mau hơn. Nằm mơ thấy tỏi là điềm lành.

Trong các cộng đồng Do Thái xưa kia, vài nhánh tỏi được trang điểm vào áo cưới cô dâu với niềm tin là cuộc hôn nhân sẽ muôn vàn hạnh phúc.

Dân Ai Cập so sánh hương vị cay hôi của tỏi với những thăng trầm của cuộc đời.

Các tu sĩ nói với con chiên là khi họ cầm vài nhánh tỏi trên tay tức là đang cầm mọi phức tạp của cuộc đời. Và khi tuyên thệ, họ đặt tỏi trên bàn tay hay trên bàn thờ.

Bên Việt Nam ta, các cụ treo tỏi trước cửa buồng đàn bà mang bầu để trẻ sinh ra được mẹ tròn con vuông, khỏe mạnh.

Đông Y việt Nam ta ghi nhận công dụng trị bệnh của tỏi như sau: “tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc nằm trong hai kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa bệnh lỵ ra máu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đàm, chữa đầy chướng bụng, đại tiểu tiện khó khăn. Người âm nhu, nội thiệt, có thai, đậu chẩn, đau mắt không nên dùng.

Kết quả nghiên cứu công dụng tỏi trong trị bệnh

Qua nhiều nghiên cứu khoa học và qua kinh nghiệm xử dụng của dân chúng, thì tỏi không những là một thực phẩm ngon mà còn có nhiều công dụng trị bệnh.

Năm 1951, hai nhà hóa học Thụy sĩ Arthur Stoll và Ewald Seebeck đã tìm ra hóa chất chính của tỏi là chất Allin và men Allinase. Hai chất này được giữ riêng rẽ trong tế bào tỏi.

1-Tỏi và cholesterol.

Khi quan sát dân chúng ở một số vùng ăn nhiều tỏi, các nhà nghiên cứu thấy họ rất ít bị các bệnh về tim mạch, mặc dù họ ăn nhiều thịt động vật và uống nhiều rượu vang. Có người cho là do ảnh hưởng của rượu vang, nhưng các bác sĩ ở địa phương thì cho là nhờ uống rượu và ăn nhiều tỏi.

Sự kiện này thúc đẩy các chuyên viên của Đại Học Western Ontario, Canada, để tâm nghiên cứu và họ kết luận rằng một dân tộc càng ăn nhiều tỏi thì bệnh tim mạch càng ít. Bằng chứng là dân Triều Tiên ăn nhiều tỏi và họ cũng ít bị bênh tim.

Nhiều khoa học gia bèn nghiên cứu tương quan giữa tỏi và bênh tim ở súc vật trong phòng thí nghiệm. Họ đều thấy là tỏi làm chậm sự biến hóa của chất béo trong gan, khiến gan tiết ra nhiều mật, đồng thời cũng lấy bớt mỡ từ thành động mạch.

Các bác sĩ H.C. Bansal và Arun Bordia ở Ấn Độ nhận thấy khi ăn bơ với tỏi, cholesterol trong máu đã không lên cao mà còn giảm xuống.

Năm 1990, nghiên cứu do bác sĩ F.H. Mader ở Đức cho hay, nếu mỗi ngày ăn vài nhánh tỏi thì cholesterol sẽ giảm xuống tới 15%.

Một nghiên cứu tương tự ở Đại học Tulane, New Orleans do bác sĩ A. K. Jain thực hiện năm 1993 cho thấy người có cholesterol cao, khi dùng tỏi một thời gian, thì cholesterol giảm xuống được 6%. Đó là một sự giảm đáng kể.

Bác sĩ Benjamin Lau, thuộc Đại Học Loma Linda, California cho biết là tỏi giúp chuyển cholesterol xấu LDL thành cholesterol lành HDL. Còn bác sĩ Myung Chi của Đại Học Lincoln ở Nebraska chứng minh là tỏi làm hạ cholesterol và đường trong máu.

Một câu hỏi được nêu lên là tỏi có làm giảm cholesterol ở người có mức độ trung bình không? Các nhà nghiên cứu cho là tỏi có một vài ảnh hưởng, nhưng nếu cholesterol cao thì tác dụng của tỏi tốt hơn. Có bác sĩ còn cho là tỏi công hiệu hơn một vài âu dược hiện đang được dùng để chữa cholesterol cao trong máu.

Do hạ thấp cholesterol trong máu, tỏi có thể ngăn ngừa nguy cơ một số bệnh tim. Đã có nhiều bằng chứng rằng cholesterol trong máu lên cao là nguy cơ đưa tới các bệnh vữa xơ động mạch và đột quỵ.

2-Tỏi và sự đông máu

Tỏi có tác dụng ngăn sự đóng máu cục, một nguy cơ của kích tim và tai biến động mạch não.

Máu cục gây ra do sự dính chùm của tiểu cầu mỗi khi có dấu hiệu cơ thể bị thương để ngăn ngừa sự xuất huyết

Trong tỏi có chất Ajoene được bác sĩ Eric Block, Đại học Nữu Ước, khám phá ra. Theo ông ta, chất này có công hiệu như aspirin trong việc làm giảm sự đóng cục của máu, lại rẻ tiền mà ít tác dụng phụ không muốn. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của bác sĩ I.S. Menon là ở miền nam nước Pháp, khi ngựa bị máu đóng cục ở chân thì nông gia đều chữa khỏi bằng cách cho ăn nhiều tỏi và hành.

Bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ trong trại Pendleton, California, cũng công bố là tỏi có chất ngừa đông máu do đó có thể làm máu lỏng và ngăn ngừa tai biến động mạch não, kích tim vì máu cục.

Ngay cả ông tổ của nền y học cổ truyền Ấn Độ Charaka vào thế kỷ thứ 2 cũng ghi nhận là “tỏi giúp máu lưu thông dễ dàng, làm tim khỏe mạnh hơn và làm con người sống lâu. Chỉ vì mùi khó chịu của nó chứ không thì tỏi sẽ đắt hơn vàng”.

Các thầy thuốc xưa kia cũng nói là tỏi làm máu loãng hơn.Tác dụng này diễn ra rất mau, chỉ vài giờ sau khi dùng tỏi. Chưa có trường hợp nào trong đó ăn nhiều tỏi đưa đến máu loãng rồi dễ xuất huyết, vì tỏi chỉ làm máu loãng tới mức bình thường thôi.

3-Tỏi và cao huyết áp

Tỏi được dùng để trị bệnh cao huyết áp ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước đây. Tại Nhật Bản, giới chức y tế chính thức thừa nhận tỏi là thuốc trị huyết áp cao.

Năm 1948, bác sĩ F.G. Piotrowski ở Geneve làm thế giới ngạc nhiên khi ông tiết lộ kết quả tốt đẹp khi dùng tỏi để trị cao huyết áp. Theo ông, tỏi làm giãn mở những mạch máu bị nghẹt hay bị co rút, nhờ đó máu lưu thông dễ dàng và áp lực giảm. Các nghiên cứu ở Ấn Độ, Gia Nã Đại, Đức cũng đưa đến kết quả tương tự.

Nhà sinh học V. Petkov thực hiện nhiều nghiên cứu ở Bulgarie cho hay tỏi có thể hạ huyết áp tâm thu từ 20-30 độ, huyết áp tâm trương từ 10 tới 20 độ.

4-Tỏi và cúm

Trong các dịch cúm vào đầu thế kỷ trước, dân chúng đã dũng tỏi để ngăn ngừa sự lan tràn của bệnh này. Y học dân gian nhiều nước đã chữa cảm cúm bằng cách thoa tỏi tươi mới cắt vào bàn chân.

Trong dịch cúm ở Liên Xô cũ vào năm 1965, dân Nga đã tiêu thụ thêm trên 500 tấn tỏi để ngừa cúm. Trước đó, vào năm 1950, một bác sĩ người Đức đã công bố là tinh dầu tỏi có khả năng tiêu diệt một số vi sinh có hại mà không làm mất những vi sinh vật lành trong cơ thể.

Bác sĩ Tarig Abdullah ở trung tâm nghiên cứu tại Tampa, Florida, công bố năm 1987 là tỏi sống và tỏi chế biến đều làm tăng tính miễn dịch của cơ thể với vi trùng, ngay cả HIV và làm giảm nguy cơ vài bệnh ung thư. Cá nhân ông ta đã liên tục dùng mấy nhánh tỏi sống mỗi ngày từ năm 1973 và chưa bao giờ bị cảm cúm.

Từ năm 1950, bác sĩ J. Klosa bên Đức đã dùng tỏi để chữa lành những bệnh đau cuống họng, sổ mũi, ho lạnh. Ông ta vừa cho bệnh nhân uống vừa ngửi tinh dầu tỏi. Theo ông ta, đó là nhờ chất Allin trong tỏi.

Trong bệnh cảm cúm, bệnh nhân thường sưng cuống phổi, bị ho, sổ mũi. Bác sĩ Irvin Ziment, California, nhận thấy tỏi có thể làm giảm những triệu chứng trên, làm bệnh nhân bớt ho, long đàm, thở dễ dàng và không bị nghẹt mũi. Theo vị thầy thuốc này thì vị hăng cay của tỏi kích thích bao tử tiết ra nhiều dịch vị chua; dịch vị này chuyển một tín hiệu lên phổi khiến phổi tiết ra nhiều dung dịch lỏng làm long đờm và đưa ra khỏi phổi.

Các bác sĩ bên Ba Lan trước đây dùng tỏi để trị bệnh suyễn và viêm phổi ở trẻ em

5-Tỏi và ung thư

Hiện nay đang có nhiều nghiên cứu coi xem tỏi có công dụng trị ung thư ở người như kết quả nhận thấy ở động vật trong phòng thí nghiệm hay không.

Từ năm 1952, các khoa học gia Nga Sô Viết đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển của một vài tế bào ung bướu ở chuột.

Thí nghiệm ở Nhật Bản cho hay tỏi có thể làm chậm sự tăng trưởng tế bào ung thư vú ở loài chuột và tỏi có chất oxy hóa rất mạnh để ngăn chặn sự phá tế bào do các gốc tự do gây ra.

Tại viện Ung Thư M.D. Anderson, Houston, các bác sĩ đã cứu một con chuột khỏi bị ung thư ruột già bằng cách cho uống chất Sulfur trong tỏi. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ đang đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu khả năng trị bệnh ung thư của hóa chất sulfur này.

Nghiên cứ tại Trung tâm Y khoa Sloan Kettering cho hay nước chiết của tỏi có thể chăn sự tăng trưởng tế bào ung thư nhiếp hộ tuyến.

6-Tỏi dùng làm thuốc kháng sinh

Từ lâu, dân chúng tại nhiều quốc gia trên thế giới đã dùng tỏi để chữa một số bệnh gây ra do vi khuẩn như kiết lỵ, bệnh tiêu chảy, bệnh thương hàn, viêm cuống họng, mụn nhọt ngoài da, thối tai và tỏi được gọi là thuốc kháng sinh dân tộc.

Trong hai thế chiến, tỏi được dùng để chữa vết thương cho binh sĩ tại chiến trường. Người ta cũng dùng tỏi để trị vết thương do côn trùng, rắn cắn. Nông dân, thợ săn đều mang theo tỏi phong hờ khi bị các sinh vật này cắn thì tự chữa.

Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur (1822 – 1895) đã chứng minh được công dụng diệt vi khuẩn của tỏi.

Năm 1944, nhà hóa học Chester J. Cavallito, làm việc cho công ty hóa chất Winthrop ở Hoa Kỳ, đã phân tích được hóa chất chính trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Đó là chất Allicin, chỉ có trong tỏi chưa nấu hay chế biến. Kháng sinh này mạnh bằng 1/5 thuốc Penicilin và 1/10 thuốc Tetracycline, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn, xua đuổi hoặc tiêu diệt nhiều sâu bọ, ký sinh trùng, nấm độc và vài loại virus.

Theo nhiều nghiên cứu, allicin có tác dụng ức chế sinh trưởng vi khuẩn nhiều hơn là diệt chúng. Nói một cách khác, chất này không giết vi khuẩn đã có sẵn mà ngăn chặn sự sinh sôi, tăng trưởng và như vậy có thể ngừa bệnh, nâng cao tính miễn dịch, làm bệnh mau lành.

Nghiên cứu tại Brazil năm 1982 đã chứng minh là nước tinh chất của tỏi có thể chữa được nhiều bệnh nhiễm độc bao tử, do thức ăn có lẫn vi khuẩn, nhất là loại Salmonella. Các nghiên cứu tại Đại Học California ở Davis cũng đưa đến kết luận tương tự. Ngoài ra, tỏi cũng được dùng rất công hiệu để trị bệnh sán lãi, giun kim, các bệnh nấm ngoài da…

Một nhà nghiên cứu đã hào hứng tuyên bố rằng “tỏi có tác dụng rộng rãi hơn bất cứ loại kháng sinh nào hiện có. Nó có thể diệt vi trùng, nấm độc, siêu vi trùng, ký sinh trùng lại rẻ tiền hơn, an toàn hơn vì không có tác dụng phụ và không gây ra quen thuốc ở vi trùng”.

Giáo sư Arthur Vitaaen (1895-1973), người đoạt giải Nobel năm 1945, cũng đồng ý như vậy.

Do đó ta không lấy làm lạ là trong Thế chiến thứ nhất, các bác sĩ Anh quốc đã dùng tỏi để chữa vết thương làm độc.

Thực tế ra, tỏi được dùng với những nhiễm độc nhẹ, không nguy hiểm tới tính mạng. Còn các trường hợp nhiễm trùng cấp tính và trầm trọng thì không thể dựa vào các loại “kháng sinh thực vật” này.

7-Tỏi với tuổi thọ

Theo dân chúng vùng Ukraine, ngâm nửa kí tỏi cắt hay giã nhỏ bỏ vào nước vắt của 25 quả chanh, để qua đêm rồi mỗi ngày uống một thìa pha với nước lạnh, trong hai tuần sẽ thấy trẻ khỏe ra. Các nhà văn Ukraine nói thêm rằng uống thường xuyên rượu tỏi thì con người sẽ cảm thấy trẻ trung.

Nhiều vị cao niên Việt Nam cũng thường uống rượu ngâm với tỏi, tin tưởng là sẽ được cải lão hoàn đồng, kéo dài tuổi thọ. Họ nghiền khoảng 200 gr tỏi tươi, ngâm trong 300gr rượu mạnh, để vào nơi mát trong hai tuần rồi uống trước mỗi bữa ăn chừng năm tới mười giọt .

Ở vùng Balkan, số người thọ trên 100 tuổi rất cao và được giải thích là họ nhai nhiều nhánh tỏi mỗi ngày.

Ngoài ra, Tỏi còn một số công dụng khác như:

Nhà thiên nhiên học La Mã Pliny viết rằng tỏi mà đưa cay với rượu vang thì con người làm tình rất điệu nghệ. Do đó dân chúng La Mã ăn nhiều tỏi và coi tỏi là thuốc kích thích tình dục.

Nghiên cứu mới đây ở loài chuột cho thấy tỏi có thể có tác dụng tốt trên các chức năng của não bộ, tăng trí nhớ và có thể nâng cao tuổi thọ.

Theo bác sĩ Paavo Airola, một nhà chuyên môn dinh dưỡng tại Phoenix, Arizona, tỏi với các hóa chất sulfur của nó, có thể chữa được bệnh mụn trứng cá, bệnh khí thũng phổi làm khó thở, khó tiêu bao tử, táo bón, cảm lạnh.

Các nghiên cứu của bác sĩ D Sooranna I Das bên Luân đôn cho hay dùng tỏi khi mang thai có thể làm giảm nguy cơ tiền sản giật, (cao huyết áp và đạm chất trong nước tiểu) và làm trẻ chậm lớn được mau lên cân hơn.

Và cuối cùng là một nghiên cứu ở Monnel Chemical Senses Center, Philadelphia, cho biết là khi mẹ ăn tỏi, con sẽ bú sữa mẹ lâu hơn và nhiều hơn vì tỏi làm tăng khẩu vị của em bé.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Nguồn: https://khoahocnet.com/2018/08/01/bs-nguyen-y-duc-toi-voi-suc-khoe/.◙

 


 

 


Uyên Trang phụ trách

BÁNH TAI HEO

 

B

 

ánh tai heo là một món bánh ăn vặt vừa thơm ngon lại có cách làm đơn giản và không cầu kỳ như một số loại bánh khác. Nếu bạn cũng muốn thực hiện món bánh này thì hãy cùng Uyên Trang vào bếp ngay nhé!

Nguyên liệu:

• Bột mì nổi (self raising flour) - 200gr,

• Bột cacao - 4 muỗng canh,

• Mè trắng 20gr,

• Đường - 90gr,

• Bơ - 40gr,

• Muối - 1 muỗng cà phê,

• Lòng đỏ trứng gà - 2 cái,

• Nước cốt dừa - 140ml,

• 1 ống vani.

 

Bước 1 - Trộn bột làm bánh

Cho tất cả hỗn hợp trên (trừ bột cacao) vào tô lớn. Dùng muỗng hoặc đũa trộn đều cho hỗn hợp hòa quyện với nhau.

Sau đó, bạn cho nước cốt dừa vào rồi trộn đều cho bột kết dính với nhau.

Lưu ý:

Nếu cảm thấy bột quá ướt, bạn có thể cho thêm 1 ít bột khô vào rồi trộn tiếp, hoặc thấy bột còn khô, bạn có thể thêm một ít nước cốt dừa.

Bước 2 - Nhồi và chia bột

Dùng tay nhồi khối bột đến khi dẻo mịn, sau đó Bạn chia phần bột đã nhào làm hai phần bằng nhau.

Tiếp đó, bạn giữ một phần bột đã chia ở trong tô và tiếp tục nhồi với 4 muỗng canh bột cacao đến khi hòa quyện hoàn toàn.

Bước 3 – Cán bột bánh

Sau khi nhào xong, bạn dùng cán chuyên làm bánh cán riêng phần bột trắng và phần bột nâu này thành các lát mỏng. Tiếp đó, bạn đặt phần bột nâu lên trên phần bột trắng (hoặc ngược lại tuỳ ý thích của bạn) và cuộc tròn chặt hai phần bột này với nhau. Nếu khối lượng bột quá lớn thì bạn có thể chia làm nhiều lát mỏng để cuộn, không nhất thiết phải làm trong cùng một lát.

Khi cuộn xong bột, bạn để phần bột đã cuộn lên một chiếc điã khô và bỏ vào ngăn mát tủ lạnh. Chờ cho bột se lại trong vòng từ 2 – 3 tiếng, bạn đem bột ra cắt thành những miếng mỏng vừa ăn.

Lưu ý:

Bạn không nên cắt bánh quá dày vì như vậy bánh sẽ không đạt được độ giòn và lâu chín. Tuy nhiên bạn cũng không nên cắt bánh quá mỏng vì như vậy bánh sẽ dễ bị vỡ.

Bước 4 - Chiên bánh

Bắc chảo dầu lên bếp, làm nóng dầu, sau đó bạn cho bánh vào chiên trên lửa vừa đến khi bánh vàng đều là chín.

Trên đây là cách làm bánh tai heo giòn tan, thơm ngon ngay tại nhà. Bạn có thể trổ tài món ngon này vào dịp cuối tuần hoặc trong những dịp họp mặt để cùng mời mọi người thưởng thức nhé. Chúc các bạn thành công với cách làm bánh tai heo ngon giòn này và thưởng thức ngon miệng cùng gia đình mình nhé. ♬♬♬

 


 

 

 


 

 


 


Uyên Trang sưu tầm

 

Chuyện ma...

Vào một ngày nọ, một người đàn ông tan ca về khuya lắm. Ông ta leo lên một chiếc xe buýt và ông ta ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Thời gian vẫn trôi đi, ông ta vẫn ngủ, xe buýt vẫn chạy.

Chợt ông ta giật mình thức dậy và thấy xung quanh mình không còn ai, đường phố thì cũng vắng tanh và tài xế cũng biến đâu mất.

Nhưng một điều kỳ lạ đó là ...Xe vẫn lăn bánh một cách chậm rãi .

Ông ta hoảng hốt thét lên:

- Cứu tôi với!

Không ai trả lời...,

Vừa định tông cửa nhào ra xe thì ông ta nghe tiếng thét bên tai:

- Cứu gì thằng kia, xuống đẩy xe phụ tao coi.

Bà vợ hay quên

Ăn ở tiệm xong, khi đã lên xe đi được một đoạn khá xa, bà vợ mới sực nhớ là mình quên cặp kính trên bàn ăn. Suốt quãng đường trở lại quán, ông chồng luôn mồm cằn nhằn tính hay quên của bà vợ.

Đến chỗ cũ, khi bà vợ tất tả chạy vào tìm kính, ông chồng dặn với theo:

- Bà nhớ cầm ra luôn cho tôi cái phone và mũ của tôi nhé!

- !?!

Những bông hoa

Một nhà văn nổi tiếng nói:

Phái nữ là những bông hoa. - Cô gái trẻ giống như những bông hoa trong vườn mùa xuân.

- Người đàn bà độc thân giống như là bông hoa trong bức tranh treo trên tường.

- Người đàn bà đã có chồng giống như những bông hoa cắm trong lọ...

Thế thì bà lão giống hoa gì? ...một người hỏi.

- À!...., thế thì bà lão là bông hoa khô ép trong cuốn sách cũ - nhà văn đáp.

Từ đồng nghĩa

Cô hỏi: Các em cho cô biết từ "bàn ủi" còn gọi là gì nào?

- Học sinh: Thưa cô còn gọi là "bàn là" ạ.

- Cô: Tốt lắm, chữ "là" cũng có nghĩa là "ủi". Đó là từ đồng nghĩa. Ví dụ: "Tôi là quần áo" nghĩa là "Tôi ủi quần áo". Bây giờ em nào cho cô ví dụ khác?

Một học sinh nhanh nhảu giơ tay và trả lời:

- Thưa cô "Mẹ em là bác sĩ" đồng nghĩa với "Mẹ em ủi bác sĩ", đúng không cô ?

- Cô: !?

 

 


 

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 


 

 

Chủ trương của Bản Tin Hòa Hiệp

Bản Tin Hòa Hiệp: Phổ biến tin tức Đạo sự gần xa; liên lạc, trao đổi kinh nghiệm hiểu biết; học hỏi, hợp tác thân hữu với các Tôn Giáo bạn, các Đoàn Thể xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu hướng thượng, nhằm phục vụ không biên giới cho Đạo lẫn Đời.

Bản Tin Hòa Hiệp: Xin đón nhận mọi ý kiến đóng góp xây dựng, bài vở với bất kỳ thể loại; ưu tiên trong lãnh vực biên khảo, nghiên cứu đạo giáo, triết học, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật phục vụ nhân sinh của chư vị thức giả đạo hữu, đạo tâm... miễn nội dung không nhằm mục đích: làm diễn đàn chính trị, bài kích cá nhân, tập thể; kỳ thị dưới mọi hình thức; gây chia rẽ nội bộ; đi ngược lại tôn chỉ, mục đích và đường lối của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh.

 

CHỦ TRƯƠNG: Tộc Đạo Sydney.
CHỦ BÚT: Quyền Đầu Tộc Đạo Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp.
BAN BIÊN TẬP: Bạch Sỹ - Thanh Nguyên - Ái Nhân - Lê Phong - Song Kha - Trần Nguyên Đức - Uyên Trang - Đức Nhân - Mộc Lan - Nguyên Chương.
TRÌNH BÀY & IN ẤN: Huỳnh Trọng - Trần Đại Thiện - Trần Lê Phong.

 

CAODAI TEMPLE OF NEW SOUTH WALES
HOA HIEP - VIETNAMESE NEWSLETTER
114-118 King Georges Road  WILEY PARK NSW 2195 - AUSTRALIA
Phone & Fax: + 61 2 9740 5678
Email: thanhthatnsw@yahoo.com.au ; thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au